Sự ảnh hưởng của lễ hội phật giáo đến đời sống con người việt nam hiện nay - Pdf 31

Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI



SỰ TÁC ĐỘNG CỦA LỄ HỘI PHẬT GIÁO






ĐẾN ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành:
Kinh tế chính trị

Người hướng dẫn khoa học
Th.s: Nguyễn Thị Giang

HÀ NỘI - 2012


Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, thảng 05, năm 2012 Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị Tuyết Mai

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

NỘI DUNG ...................................................................................................... 6
Chương 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHẬT GIÁO VÀ PHẬT
GIÁO TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM ............................................................. 6
1.1 Sự ra đời và những nội dung chủ yếu của tư tưởng Phật giáo .................. 6
1.2 Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam ....................................................... 13
Chương 2. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA LỄ HỘI PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY ........................................................18
2.1. Lễ hội....................................................................................................... 18
2.2. Anh hưởng của lễ hội Phật giáo đến đời sống con người Việt Nam .... 26
Chương 3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY NHỮNG


dân tộc và với đỉnh cao là trở thành quốc giáo ở Việt Nam trong thời kỳ Lý Trần. Phật giáo đã cùng dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, từ
Lạc Việt, Đại Việt đến Việt Nam cận đại và hiện đại, với biết bao thăng trầm
lịch sử và hôm nay đang cùng dân tộc Việt Nam bước vào thiên nhiên kỷ 21
với nhiều cơ hội và thách thức.
Theo Đức Phật: Vì hạnh phúc và an lạc cho chữ Thiện và loài người
mà Đức Phật thể hiện ở trên đời. Như vậy, mục tiêu cao cả của Phật giáo ra
đời là để làm cho thế giới vạn loài được sống trong hoà bình, hạnh phúc và an
lạc. Đó không chỉ là mục tiêu cao nhất của Chư Phật mười phương, Chư Phật
Bồ Tát, mà còn là sứ mệnh của sự giải thích trên mọi bước đường tu đạo.
Theo các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể khẳng định rằng cũng như
các tôn giáo khác thì Phật giáo luôn lấy con người làm trung tâm, đặt con
người ở vị trí chủ thể của mối quan hệ xã hội và cũng khẳng định chỉ con
người và chính con người mới phải hứng chịu những nghiệp quả do chính
hoạt động của mình đem lại. Như vậy, Phật giáo khẳng định một lần nữa rằng
chính con người tự quyết định hoạ phúc và vận mệnh của mình trong cuộc đòi
này. Đời sống con người hạnh phúc hay đau khổ, đều do con người tự quyết
định và tạo lập lấy(Mahaparibbkáutta). Đó là tính nhân văn cao cả của Phật
giáo.
Văn hoá Phật giáo với hình thức lễ hội có nội hàm rộng và phong phú
với hệ thống lễ tiết đa dạng cũng như mang tính chất, ý nghĩa khác nhau trên
tinh thần giác ngộ và giải thoát. Từ nhu cầu cuộc sống nói chung và đời sống
tâm linh nói riêng, lễ hội Phật giáo được hình thành và phát triển nhằm thoả
mãn những nhu cầu, ước vọng của con người. Trong xã hội hiện đại, lễ hội
Phật giáo ngày càng được tổ chức với quy mô rộng lớn, thu hút đông đảo
công chúng tham dự, điều đó đã cho thấy rằng nhu cầu lễ hội Phật giáo của
con người đang được chú trọng và phát huy các giá trị văn hoá mà người Việt

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai


dụng tích cực đối với sự phát triển của xã hội.
Cùng chung với công cuộc xây đất nước, Phật giáo cả nước cũng đang
trên đà phát triển, những cơ sở sinh hoạt, những ngôi chùa, những cơ sở văn
hoá Phật giáo, những điểm du lịch mang rõ nét văn hoá phật giáo cũng đang
được nở rộ. Vì vậy em chọn đề tài “Sự ảnh hưởng của lễ hội Phật giáo đến
đời sống con người Việt Nam hiện nay” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng và ảnh hưởng của Phật giáo, vì vậy thời gian gần

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

đây đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo ở những lĩnh vực
khác nhau như: Nguồn gốc ra đòi và phát triển của Phật giáo, những vấn đề
cơ bản của giáo lý Phật giáo, thế giói quan và nhân sinh quan Phật giáo...
Những công trình nghiên cứu lại mở rộng và đi sâu hơn về nhiều mặt, nhiều
vấn đề của Phật giáo.
Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu vấn đề tôi đã thấy có các công trình
sau:
-


10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

Để thực hiện mục tiêu trên khoá luận có những nhiệm vụ sau:
+ Khái quát chung về Phật giáo, sự ra đời, những giáo lý, giáo điều căn
bản của Phật giáo, quá trình du nhập và lễ hội Phật giáo ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu một số lễ hội của Phật giáo và ảnh hưởng của lễ hội Phật
giáo đến đời sống con người Việt Nam.
+ Đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn
chế những mặt tiêu cực của lễ hội Phật giáo đến đời sống con người Việt
Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: sự ảnh hưởng của lễ hội phật giáo đối với đời
sống con người Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu đó là những lễ hội như: Lễ hội Chùa Hương và lễ
1


A*

T


A

_ _
T"v A 1 >

1««

1

A

1 A

hội Yên Tử, lê hội Quan Thê âm, le câu an và le câu siêu. Đây là những lê hội
vừa mang tính chất vui chơi vừa mang tinh thần đậm đà bản sắc dân tộc của
con người Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu từ năm 1975 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề ra, khoá luận đã sử dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, phương pháp phân tích- tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá.
6. Ý nghĩa của khóa luận
- Khoá luận làm rõ những ảnh hưởng của lễ hội Phật giáo đến đời sống
con người Việt Nam hiện nay.
- Làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chính quyền trong việc quản
lý các lễ hội Phật giáo.
- Khoá luận còn làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên trong việc

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

quốc gia trong khu vực Á - Phi, gần đây được tmyền bá tới các nước Âu - Mĩ.
Trong quá trình truyền bá của mình, đạo Phật đã kết họp với tín ngưỡng, tập
tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái và học phái,
có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều
quốc gia.
Buddha vốn là một thái tử tên Tất Đạt Đa (siddharta), con trai của Tịnh
Phạn Vương (suđhodana) vua nước Tịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc Bắc Ấn
Độ (nay thuộc đất Nê Pan) ông sinh ra vào khoảng 623 trước công nguyên.
Cuộc đời của Thích Ca được kể lại trong truyền thuyết như sau:
Truyền thuyết đạo Phật kể rằng: Hoàng hậu Maia - vợ vua Suđhodana,

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

một hôm nằm mơ thấy một con voi trắng vòi cắp một bông sen trắng, đi 3
vòng xung quanh giường, rồi húc nhẹ vào sườn bên phải như chui vào bụng
bà. Thế là Hoàng hậu có thai. Sau 10 tháng, gần đến ngày sinh nở, bà ngỏ ý
muốn trở về nhà cha mẹ minh ở Đêvađaha. Nhà vua liền ra lệnh sắm cờ hoa
dọc hai bên đường và sai quân hộ tống bà về quê ngoại.
Khi đến một gốc cây cổ thụ cao lớn, bà muốn vít một cành cây thì cành


HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

thoả mãn. Ông rủ 5 người bạn đến núi Tuyết Sơn và tu luyện khổ hạnh suốt 6
năm, nhưng không tu được kết quả gì. Ông cho rằng con đường tu luyện đó là
sai lầm.
Ồng tìm gốc cây bố đề, lấy cỏ làm nệm, ngồi tập trung suy nghĩ, tĩnh
tâm. Sau 49 ngày đêm, tư tưởng của ông đã sáng tỏ, đắc đạo. Ông đã hiểu ra
quy luật của cuộc đòi, bản chất của sự tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau. Từ
đó ông được gọi là Butđa (“NgưM đã giác ngộ” hoặc “người đã hiểu được
chân lý”) - Phật.
Ông rủ 5 người cùng tu luyện khổ hạnh trước đây để giác ngộ cho họ,
rồi cùng họ trong suốt 40 năm đi khắp nơi để tuyên truyền những tư tưởng
của mình. Những tư tưởng học thuyết đó là đạo Phật.
Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn
đồ trở về chân núi Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên. Trên đường Phật đã
chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập được sau khi ngài viên
tịch. Và tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Cusinagara Phật đã ra đi. Câu
nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tì kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽ
ra đi. Vậy các ngươi càng không nên ngừng gắng sức!”.
1.1.2 Những nội dung chủ yếu của tư tưởng Phật giáo
Phật là tên theo âm Hán Việt của Buddh, có nghĩa là giác ngộ. Phật
giáo là hĩnh thức giáo đoàn được xây dựng trên một niềm tin từ Đức Phật, tức
từ biển lớn trí tuệ và từ bi của Siddharta.
* Kỉnh điển:
Tử tưởng triết lý Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh
điển rất lớn, được tổ chức thành ba bộ kinh điển lớn gọi là tam tạng gồm:
- Tạng luận: Gồm toàn bộ những giới luật của phật giáo quy định cho

không khí. Danh là yếu tố tinh thần, là cái tâm lý không có hình chất mà chỉ
có tên gọi. Nó bao gồm: Thụ, Thưởng, Hành và Thức.
Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân
tích nhân - quả. Theo Phật giáo nhân- quả là một chuỗi liên tục không gián
đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy. Mối quan hệ nhân - quả
này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của
nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác.
Nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết “Duyên khởi”.
Duyên khởi là cách nói tắt của: “Chủ pháp do nhân duyên nhi khởi”. Nghĩa là
các pháp đều do “^m duyên” mà ra. Pháp là quy luật phát triển của sự vật,
đồng thời cũng là bản thân sự vật.
- Còn “nhân duyên”: cần phân biệt “Nhân” và “Duyên”. Ví dụ: Hạt
giống là “nhân” còn đất, nước, khí trời, ánh sáng là “duyên” .

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

Mọi vật đều có “nhân duyên” mà thành. Sách Phật nói: “Vật này có,
cho nên vật kia có, cái này diệt thì cái kia cũng diệt”
Nghĩa là mọi vật đều có liên quan mật thiết với nhau. Không có thực


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

khổ (Bát khổ đế).
Tập đế - hay Nhân (n^ĩa là tích tụ, tập trung mà khởi lên):
Đây là chân lý về nguyên nhân nỗi khổ. Đó là “ái dục” (ham muốn) và
“vô minh” (kém sáng suốt).
Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là “ Nghiệp” (Karma).
Hành động xấu khiến con người phải nhận tội lỗi, hậu quả của nó
(Nghiệp báo), thành ra cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được.
Đây là thuyết “Nhân - quả” (^&1 nào- quả nấy).
Diệt đế'. Là chân lý về sự cần thiết phải chấm dứt nỗi khổ .
Nỗi khổ bị tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra nỗi khổ bị loại trừ.
Sự tiêu diệt khổ đau gọi là “Niết bàn” (không ham muốn, dập tắt). Đó
là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát.
Niết bàn có thể hiểu là nơi “Cực lạc” (Sakhavati) hay “Hư vô”, cũng có
thể hiểu là “không là gì cả”.
Khái niệm “Niết bàn” có từ thời Vêđa. Đạo Phật đã tiếp thu tư tưởng
này. Câu hỏi đặt ra là trong vòng luân hồi triền miên, con người có thể đạt
được sự giải thoát (moksa) triệt để hay không ? Có, đó là “Niết bàn”.
Đạo đế: Là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Tức là phương pháp
thực hiện về việc diệt khổ. Đồng thời đòi hỏi phải thực hiện tu luyện 3 môn
học:
- Giới: Rèn luyện đạo đức.
- Định: Tư tưởng.
- Tuệ: Khai sáng trí tuệ.

ham muốn hay xa lánh những cám dỗ trần tục.
Đây là hình thức tu thân, hướng tới chân lý của Phật là không phân biệt
về mức độ thực hiện và hiệu quả giữ các sắc đẳng. Sự tự tu và tinh thần trái
ngược với sự phân biệt đẳng cấp. Điều đó đã hạ uy thế của tầng lớp tăng nữ
Bàlamô, cũng như khuôn khổ chật hẹp các quốc gia cổ đại sơ kỳ ở Ấn Độ.
Đạo Phật là một tôn giáo nhưng mang tính chất duy vật khi giải thích
về thế giới vật chất, vũ trụ. Theo ý kiến của một số hoà thượng trong Giáo hội
Phật giáo Việt Nam thì Đạo Phật không phải là duy vật và cũng không phải
duy tâm, mà là cầu nối giữa duy vật và duy tâm.
Đạo Phật không tôn thờ vị thần nào cả, và cũng không tự cho mình là
thần, mà đưa ra một triết lý về nhân sinh quan; được con người cảm phục, tôn
sùng.
Giáo lý của Phật có kế thừa Vêđa, có phần không rõ ràng, triệt để,
nhưng những biện pháp, những con đường thực hiện có ý nghĩa tích cực, đáp
ứng những yêu cầu của xã hội Ấn Độ trong suốt 6 thế kỷ TCN. Đó là những

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

biện pháp rèn luyện đạo đức, bản lĩnh(diệt ác, hướng thiện), khuyến khích xoá


K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

Hoa tiếp tục truyền xuống” [24,tr.105].
Dựa vào các sử liệu, hiện nay hầu hết các sử gia đều đồng ý ở một
điểm: Đạo Phật đến Việt Nam trước hết bằng đường biển theo chân các nhà
buôn Ấn Độ và tăng sĩ Ấn Độ. Bởi vì Việt Nam là một nước giáp biển, ngự trị
trên bán đảo Hoa- Ấn, như là một bao lớn mở rộng trên Thái Bình Dương,
một cửa ngõ để đi vào Trung Hoa nó chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ.
Do thế địa lý về chính trị và văn hóa đó, Phật giáo từ Ấn Độ đã trực tiếp
truyền sang Việt Nam bằng đường biển.
Điểm mấu chốt thứ hai chứng tỏ đạo Phật được truyền bá đến Việt
Nam trước khi đến Trung Hoa là trong bất kỳ giai đoạn nào Phật giáo Việt
Nam đều hưng thịnh hơn Phật giáo

Hoa cùng thời.

Điểm thứ ba là đến thế kỷ thứ hai đã có nền Phật giáo và phật học hưng
thịnh tại Việt Nam, nghĩa là đạo Phật đã được truyền bá trước đó khá lâu, ít
nhất cũng phải hàng trăm năm trước đó vào khoảng thế kỷ thứ nhất hay sớm
hơn nữa.
Ta có thể đồng ý với sử gia Nguyễn Lang rằng: “ Nhiều dữ kiện khiến
chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu được hình thành sớm nhất và trung tâm này

truyền đến Giang Đông vậy”. [2,tr.36]
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam bằng con đường thứ hai là từ
Trung Quốc sang. Từ “Buddha” vào tiếng Hán được phiên âm thành Phật đồ,
vào tiếng Việt rút gọn lại còn Phật, từ đây từ phật dần dần thay thế cho từ
Bụt.
Từ Trung Hoa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là: Thiền
Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông. Cả ba tông phái này mặc dù có những điểm
khác biệt nhau, nhưng nhìn chung, chúng đều dựa trên giáo lý cơ bản của nhà
Phật, giữa chúng có sự ảnh hưởng lẫn nhau và đều mang tinh thằn hòa mình
vào đời sống thường nhật.
1.2.2 Một số giai đoạn phát triển cơ bản của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo từ đầu công nguyên đến giữa thế kỷ VI: Phật giáo Việt Nam
đang ở thời kỳ phôi thai. Trung tâm Phật giáo lớn nhất thời kỳ này là Luy
Lâu. Vào thế kỷ II người Giao Châu đã bắt đầu tiếp xúc vói Phật giáo từ Tây
vực (Tây Trúc - Ấn Độ). Thế kỷ II một số nhà truyền giáo đã đến nước ta
cuối triều Hán như Mahaky (Mahalivaka) và Khư Đà La (Kudra) đã vào Việt
Nam và nơi tiếp nhận họ là trung tâm Phật giáo Luy Lâu, từ đây nước ta đã
hình thành tầng lớp tăng sĩ trong xã hội.
Từ thế kỷ II đến thế kỷ VI Phật giáo phát triển mạnh chủ yếu là ảnh
hưởng của Phật giáo Ấn Độ, lúc đầu mang tư tưởng Đại thừa gọi là Phật giáo
Đại thừa hay Phật giáo Bắc Tông (Phật giáo từ phương Bắc). Sau này còn ảnh

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

Từ năm 1945 đến năm 1975, Phật giáo có nhiều biến đổi. Các tăng ni
phật tử vừa hoạt động chính trị trong nước và vừa hoạt động trên quốc tế. Giai

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

đoạn này đất nước bị chia cắt làm hai miền vì thế Phật giáo cũng có sự không
đồng nhất nhưng đa số các hoạt động hướng về các phong trào dân tộc dân
chủ. Các trường học đào tạo tu sĩ cũng được mở mang như viện Phật học, Cao
đẳng Phật giáo, Trung đẳng Phật giáo.
Từ năm 1975 đến nay, Phật giáo có nhiều biến động lớn, một số chức
sắc di tản ra nước ngoài, còn lại chờ chủ trương, chính sách của Đảng sau đó
tiếp tục hoạt động binh thường. Đến năm 1981 “Giáo hội Phật giáo Việt
Nam” được thành lập, cổ vũ Phật giáo cả nước phấn đấu “phục vụ đạo pháp”
và “phục vụ Tổ Quốc” với phương châm “Đạo pháp- Dân tộc - Chủ nghĩa xã
hội” . “Giáo hội Phật giáo” là thành viên của hội Phật giáo thế giới và là
thành viên của hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP). Quan hệ giữa hội
Phật giáo Việt Nam và giáo hội Phật giáo thế giới là quan hệ hoàn toàn bình
đẳng và thuần túy tôn giáo. Gần đây hoạt động của Phật giáo có phần sôi nổi
hơn với những năm 1975- 1980. Hiện nay Phật giáo Việt Nam là tôn giáo có

không bị một cản trở nào.

Chương 2 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA LỄ HỘI PHẬT GIÁO ĐẾN
ĐỜI


• •

SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Lễ hội
2.1.1 Các quan niệm về lễ hôi
Trên thế giới, lễ hội có từ thời Ai Cập “Sumer”. Chúng ta biết được
thông qua những truyền thuyết, những hình ảnh vẽ trên hang, nói đến lễ hội
của những con người đầu tiên. [11,tr.72]
Từ năm 2055- 1850 trước CN, có người nhắc đến những Pharaông làm
nghi lễ cắt những bó lúa đầu tiên; khảo cổ học đào được nhiều di vật, thu thập
được nhiều truyền thuyết nói về người châu Âu sùng bái con gấu. Các học giả
gọi đó là tôtem của người thời đó. Những truyền thuyết nói đến người phụ nữ
lấy xương, răng gấu làm bùa. Từ yểm bùa, ma thuật làm hại chuyển đến lễ hội
theo mùa.
Lễ hội cũng có nguồn gốc từ các quan niệm về phồn thực: quan niệm
giao hòa giữa đất trời sinh ra con người, muôn loài và cỏ cây... do đó người ta
làm những nghi lễ mang tính phồn thực để cầu mong sự sinh sôi phát triển.
Ở Việt Nam, các lễ hội, cũng gắn với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo hết
sức chặt chẽ. Người nông dân Việt Nam theo tín ngưỡng đa thần và việc thực
hành tín ngưỡng đều nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tâm linh của đời sống
thường ngày. Đó là cầu mong các thần linh, các lực lượng siêu nhiên phù hộ
cho con người được mạnh khỏe, ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn.

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

Lễ hội là sinh hoạt văn hóa có tính chất nguyên hợp phản ánh nhiều mặt
của đời sống văn hóa cả vật chất và tinh thần: Tôn giáo, to ngưỡng, phong tục,
tập quán, văn hóa nghệ thuật, các nghi lễ và các trò chơi dân gian... với sự
tham dự đông đảo của các tầng lóp nhân dân. Lễ hội là môi trường sản sinh,
tích hợp, lưu truyền và bảo tồn nhiều giá trị văn hóa truyền thống của nhiều
thời kỳ lịch sử.
Giữa phong tục, tập quán và lễ hội có sự giao thoa và có gianh giới. Lễ
hội và phong tục tập quán có chỗ trùng hợp nhau như nhiều lễ hội đã ừở thành
phong tục tập quán của địa phương:

SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

“Chết thì tó con bỏ cháu Sống thì không bỏ ngày 6 tháng giêng”
(hội Cổ Loa)
“Cho dù cha đánh mẹ treo Thì em không bỏ hội Keo hôm rằm”
(hội chùa Keo Thái Bình)
Trong lễ hội có nhiều trò chơi, trò diễn thuộc về phong tục như vật, kéo
co, chọi gà, múa sư tử, múa rồng... Trong các nghi lễ của lễ hội, hội làng
thường được kèm theo rất nhiều phong tục cũng như tục hèm.

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

lễ đăng quang (vua lên ngôi), lễ Hưng quốc khánh niệm quốc khánh)
+ Loại tế tự: Gồm các cuộc cúng tế trời, cúng tế thằn thánh và tổ tiên
nhà Nguyễn. Trong số này quan trọng nhất là lễ Tế giao, Tế xã tắc, lễ Liệt
miếu, lễ Thế miếu. Trong Festival 2004 có khôi phục lại Tế đàn Nam Giao
theo nghi thức cung đình.
Lễ hội văn hóa du lịch: là lễ hội bao gồm các hoạt động vãn hóa nghệ
thuật, thể thao, du lịch, hội thảo, hôi chợ triển lãm... nhằm tôn vinh những giá
trị văn hóa, lịch sử, thiên nhiên... của địa phương nói riêng và của đất nước
nói chung, qua đó tạo lập hình ảnh đất nước, con người, văn hóa, du lịch của
vùng / địa phương / đất nước (Việt Nam) trong mắt bạn bè quốc tế và khu vực
cũng như địa phương khác nhằm quảng bá cho du lịch để thu hút du khách
đến thăm. Mặt khác, qua đó để giao lưu văn hóa quốc tế và khu vực, các vùng
miền trong nước với nhau cũng như tìm kiếm cơ hội hợp tác, kinh doanh. Lễ
hội văn hóa du lịch góp phần thúc đẩy du lịch phát triển.
Lễ hội kỉ niệm: Là lễ hội được tổ chức và kỷ niệm một danh nhân văn
hóa hay danh nhân lịch sử, nhân vật đã được thần thánh hóa vào ngày sinh,
ngày mất của họ hoặc tổ chức để kỷ niệm một sự kiện lịch sử hay một mốc
lịch sử có ý nghĩa trọng đại trong lịch sử dân tộc hoặc trong quá trình phát
ừiển của một vùng, một địa phương hay một cộng đồng (ví dụ: Lễ hội kỷ
niệm 990 năm Thăng Long- Hà Nội, lễ hội 100 năm Sa Pa, lễ hội Làng Sen.)
Khác lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội kỷ niệm mới có thể được tổ
chức định kỳ hoặc không. Thường được tổ chức lớn vào những năm chẵn của
sự kiện theo kịch bản của Ban tổ chức lễ hội, có nhiều hoạt động văn hóa
nghệ thuật chuyên nghiệp kèm theo.
Tóm lại lễ hội là một môi trường văn hóa. Ý nghĩa văn hóa trước hết từ
biểu tượng hội (thần phả, thần tích, di tích). Ở đây cũng là nơi biểu lộ nhiều

tiến tửu (rượu).
Tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh thần linh với ngôn ngữ, điệu bộ
và trang phục mô phỏng phong cách cung đình Huế thế kỷ XVIII - XIX. Te
cũng là cách để nối thần linh với người làng, củng cố mối quan hệ cộng đồng
- cộng cảm trước một vị thằn chung. Thường có một số trò chơi mang tính
phong tục đi kèm với tế, đôi khi là hèm (riêng của từng làng).
Lễ rước: Có nhiều loại rước: Rước nước, rước thần... thường được tổ
chức vào chính hội, thể hiện sự nghênh tiếp thần linh, phô diễn sức mạnh của
cộng đồng. Thường thì rước từ đền đến đình hoặc đình đến chùa. Rước vừa
trang nghiêm, vừa sôi động, thu hút sự tham gia của toàn thể cộng đồng với
nhiều loại nghi trượng. Các nghi lễ và thần tích, huyền tích quan hệ với nhau,
biểu hiện rõ trong đám rước. Tùy theo di tích thờ cúng là đình / đền / chùa /
hay phủ và đặc tính từng vị thần linh được thờ mà ở mỗi lễ hội, đám rước
SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Mai

10

K34A - GDCD


Khóa luận tôt nghiệp

HD: Th.S Nguyễn Thị Giang

r

khác nhau.
- Các trò diễn lại sự tích của Thần.
- Lễ rã hội cũng là một nghi lễ rất thiêng liêng của một lễ hội, nhiều lễ
hội, nghi lễ này rất vui và ấn tượng.


Trích đoạn DANH MUC TÀI LIÊU THAM KHẢO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status