chất lượng cuộc sống dân cư thành phố hồ chí minh thực trạng và giải pháp - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Ngọc Thùy Văn

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Ngọc Thùy Văn

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60 31 05 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ



2


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................................. 5
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................6
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài ....................................................................7
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................8
4. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu..............................................................10
5. Đóng góp chủ yếu của đề tài ........................................................................................12
6. Cấu trúc luận văn .........................................................................................................12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC
SỐNG DÂN CƯ ......................................................................................................... 13
1.1. Cơ sở lý luận ...............................................................................................................13
1.1.1. Các quan niệm về chất lượng cuộc sống .............................................................. 13
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư ..................................... 14
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư .............................................. 16
1.2. Thực tiễn chất lượng cuộc sống dân cư ở Việt Nam ...............................................28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................................................................ 38
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư thành phố Hồ Chí Minh
.............................................................................................................................................38

3.3. Những nhóm giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư thành phố Hồ Chí
Minh đến năm 2020 ..........................................................................................................90
3.3.1. Nhóm giải pháp nâng cao thu nhập ...................................................................... 90
3.3.2. Nhóm giải pháp về chăm sóc sức khỏe và y tế ..................................................... 94
3.3.3. Giải pháp về giáo dục và đào tạo .......................................................................... 95
3.3.4. Nhóm giải pháp giảm nghèo, bảo trợ xã hội......................................................... 96
3.3.5. Nhóm giải pháp về điều kiện phúc lợi .................................................................. 98
3.3.6. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dinh dưỡng ................................................ 98
3.3.7. Nhóm giải pháp về hưởng thụ văn hóa và an ninh xã hội .................................... 99
3.3.8. Nhóm giải pháp bình đẳng giới nâng cao vị thế của phụ nữ, chăm sóc trẻ em .... 99
3.3.9. Nhóm giải pháp đảm bảo cuộc sống cho dân nhập cư ....................................... 100
3.3.10. Nhóm giải pháp về môi trường sống và ứng phó với biến đổi khí hậu ............ 100

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 105
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 107

4


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CLCS: Chất lượng cuộc sống
HDI: Chỉ số phát triển con người
HDR: Báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GNI: Thu nhập quốc dân
KT - XH: Kinh tế - xã hội
KH - XH: Khoa học - xã hội
LHQ: Liên Hiệp Quốc
MDG: Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ

Nhiệm vụ đặt ra với các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung là phải xóa đói, giảm
nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa hai nhóm nước, đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng
lớp nhân dân.
Song song với thế giới, Việt Nam đã có những mục tiêu, chính sách xóa đói, giảm
nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đưa nền kinh tế từ nông nghiệp lạc
hậu lên công nghiệp tiên tiến. Các mục tiêu về kinh tế gắn liền với các mục tiêu về xã hội,
mọi mục tiêu, định hướng đều nhằm đến phát triển con người vì con người là nguồn lực quý
giá, là mục tiêu để chăm sóc và phát triển. Con người phát triển toàn diện thì kinh tế quốc
gia mới bền vững và phồn thịnh. Vì vậy, chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam thời
kì 2011 – 2020 của Đảng ta đã khẳng định: “ Phát triển con người được coi là chiến lược
trung tâm của Việt Nam” . Để làm được điều này cần quan tâm đến chất lượng cuộc sống
người dân. Và thực tế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm phát triển toàn diện
con người.
TP. Hồ Chí Minh là thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ, có vị trí địa lý chính trị,
kinh tế chiến lược, là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, TP. Hồ Chí Minh nhận được
nhiều dự án đầu tư từ nước ngoài, là điểm đến hấp dẫn của các doanh nghiệp. TP. Hồ Chí
Minh chiếm 20,6% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án đầu
tư của nước ngoài, đứng đầu cả nước năm 2011. TP. Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân
theo đầu người (GDP/ người) ở mức cao so với cả nước và có xu hướng tăng lên, năm 2004
là 2.200 USD/người tăng lên 4.834,1USD/người năm 2008 và đạt 6.191,7 USD/người
6


(2010) (theo PPP), trong khi mức trung bình cả nước 3.168 USD/người (2010). Mặc dù,
GDP/người cao và liên tục tăng qua các năm nhưng chỉ số này có sự chênh lệch giữa các
nhóm dân cư, giữa các quận, huyện nội thành và ngoại thành.
Hơn thế, GDP/người cao nhưng những nhu cầu thiết yếu về mặt tinh thần cho dân cư
chưa đảm bảo, đặc biệt là không gian sinh sống và môi trường. Mặt khác, TP. Hồ Chí Minh
có một lượng lớn dân nhập cư đã tạo nên một sức ép về các vấn đề giải quyết việc làm, chỗ
ở cũng như đảm bảo chất lượng cuộc sống cho một bộ phận lớn dân cư này.

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề CLCS đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu:
Trên thế giới: có R.C.Sharma với tác phẩm: “ Dân số - tài nguyên – môi trường –
chất lượng cuộc sống” (1988). Trong tác phẩm này, tác giả nghiên cứu CLCS trong mối
quan hệ về phát triển dân số ở mỗi quốc gia và theo ông, CLCS thể hiện sự đáp ứng đầy đủ
về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân.
Tổ chức UNDP của Liên Hiệp Quốc (LHQ) (1990) đã đưa ra chỉ số phát triển con
người (HDI) dựa trên những chỉ tiêu về thu nhập, sức khỏe, tri thức và được coi là ba mặt cơ
bản phản ảnh CLCS. Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ
thống hơn, đã “ coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để
đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người.”
Những nghiên cứu này đã đề cập đến các khái niệm, chỉ tiêu và thực trạng các vấn đề
về dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển. Đây là những tiền đề lý luận và thực tiễn
của nhiều công trình nghiên cứu về CLCS dân cư ở nước ta.
Ở Việt Nam: từ nhừng năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã có nhiều công trình
nghiên cứu có liên quan đến CLCS như: “Các chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người” của
Nguyễn Quán (1995), “ Mức sống trong thời kỳ bùng nổ kinh tế Việt Nam, 2001” của tập thể
các tác giả Đỗ Thiên Kính, Phùng Đức Tùng, Hồ Sĩ Cúc, Nguyễn Bùi Linh, Bùi Thái
Quyên, Hoàng Văn Kình, Lê Thị Thanh Loan, Nguyễn Phong. Các công trình này đã góp
phần phân tích các vấn đề có liên quan đến CLCS dân cư như thu nhập của người dân, trình
độ dân trí, chất lượng y tế, giáo dục….
Hiểu được tầm quan trọng của việc nghiên cứu mức sống đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội đất nước, Tổng cục Thống kê, Ủy ban Kế hoạch hóa Nhà nước, Ngân hàng thế giới
cùng sự hỗ trợ tài chính của UNDP đã tiến hành bốn cuộc điều tra về mức sống dân cư Việt
Nam năm 1992 – 1993, 1997 – 1998, 2001 – 2004, 2007 – 2008. Qua mỗi cuộc điều tra cho
ta một kết quả về sự thay đổi mức sống của dân cư nước ta theo thời gian và sự tiến bộ vượt
bậc của Việt Nam trong việc xóa đói giảm nghèo và nâng cao CLCS. Tuy nhiên, các cuộc
điều tra này chỉ dừng lại trong việc khảo sát mức sống của dân cư Việt Nam bằng những số
liệu cụ thể, chưa đi sâu phân tích mức sống của một địa phương nào cụ thể.


Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu CLCS dân cư như đề tài :
“Phân tích chất lượng cuộc sống dân cư thành phố Hải Phòng” - luận án tiến sĩ Địa lí
(2004) của Nguyễn Thị Kim Thoa, một số đề tài thạc sĩ như: “ Nghiên cứu chất lượng cuộc
sống dân cư tỉnh Lạng Sơn” của Nông Thị Sự (1999), “Phân tích chất lượng cuộc sống dân
9


cư tỉnh Hòa Bình” của Nguyễn An Tôn (2002), “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình
Thuận – thực trạng và giải pháp” của Bùi Vũ Thanh Nhật ( 2006), “Nghiên cứu chất lượng
cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang” của Giáp Văn Lượng (2009), “Giải pháp nâng cao chất
lượng cuộc sống dân cư huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận” của Phan Thị Xuân Hằng
(2009)…
Như vậy, qua trên ta thấy rằng vấn đề CLCS của dân cư đã rất được quan tâm trong
những năm vừa qua và nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Việc nghiên cứu CLCS
của một tỉnh để tìm giải pháp nâng cao CLCS rất phổ biến. Từ những năm 90, các giải pháp
nâng cao CLCS đã được một số tác giả nghiên cứu. Sau đó, từ năm 2001 – 2010 các giải
pháp nâng cao CLCS của TP. Hồ Chí Minh chỉ nằm ở những báo cáo chuyên đề, chưa có
một bài nghiên cứu nào cụ thể. Từ thực tế đó, đề tài “Chất lượng cuộc sống dân cư thành
phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp ” của tác giả kế thừa những thành quả của các
công trình đi trước, đồng thời đưa ra những giải pháp hữu ích để nâng cao CLCS của đô thị
có số lượng dân nhập cư vào bậc nhất này.

4. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Các quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm được quán triệt rộng rãi trong quá trình nghiên cứu CLCS. Sự phát
triển KTXH và nâng cao CLCS dân cư một tỉnh, thành phố phải được đặt trong mối quan hệ
cụ thể và toàn bộ của hệ thống quốc gia. Đây là cơ sở đầu tiên giúp cho việc tiếp cận và
phân tích vấn đề một cách có hệ thống. Vì vậy, khi phân tích các vấn đề liên quan đến
CLCS dân cư TP. Hồ Chí Minh cần được xem xét trong mối liên hệ giữa các tỉnh, thành phố

luận chính xác nhất về CLCS dân cư TP. Hồ Chí Minh.
4.2.3. Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp có tầm quan trọng trong nghiên cứu Địa lý học. Ngoài những tài
liệu thu thập được, tác giả cần có những khảo sát thực tế tại một địa bàn cụ thể. Đây cũng là
công việc bắt buộc để tác giả lưu trữ lại những thông tin một cách khoa học và chính xác, là
cơ sở để chứng minh cho các lập luận sau này.
4.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ và GIS
Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội, là kênh
hình quan trọng phản ảnh những kết quả nghiên cứu được vì nó trực quan, cụ thể và toàn
11


diện hơn. Qua phương pháp này tác giả dễ dàng so sánh, phân tích mối liên hệ giữa các yếu
tố cấu thành CLCS giữa các quận, huyện trong thành phố.
4.2.5. Phương pháp thống kê, toán học.
Từ những số liệu thu thập được, tác giả tiến hành tính toán để có thể đưa ra những
nhận định, dự báo hợp lý cho vấn đề nghiên cứu như tính HDI, tính GDP/người…

5. Đóng góp chủ yếu của đề tài
- Kế thừa, bổ sung và vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về CLCS vào nghiên cứu
một địa bàn cụ thể.
- Làm rõ được các nhân tố chủ yếu tác động đến CLCS dân cư TP. Hồ Chí Minh.
- Phân tích thực trạng CLCS dân cư TP. Hồ Chí Minh.
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao CLCS của cư dân TP. Hồ
Chí Minh.

6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về CLCS dân cư
Chương 2: Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Hồ Chí Minh.

vật chất đến tinh thần. Mức độ đáp ứng các nhu cầu càng cao thì CLCS càng cao. Như vậy,
nâng cao CLCS là nâng cao sự đáp ứng về các nhu cầu cơ bản của con người như lương
thực, thực phẩm; giáo dục; y tế; nhà ở; sự vui chơi; nghỉ ngơi; giải trí… chính điều này làm
cho con người có cuộc sống đầy đủ, phong phú, hạnh phúc và khỏe mạnh.
Ngoài ra, CLCS còn là được sống trong môi trường tự nhiên trong lành và môi
trường xã hội lành mạnh. Một môi trường sống không bị ô nhiễm, bền vững là nơi cư trú tốt
cho người và là không gian làm việc hiệu quả. Ngoài ra, sống trong trong một xã hội an toàn
13


về chính trị, quốc phòng, an ninh được đảm bảo, tệ nạn được đẩy lùi sẽ giúp đời sống con
người được ổn định.
Liên Hiệp Quốc (LHQ) cũng đưa ra chỉ số phát triển con người- Human
Development Index (HDI) để đánh giá CLCS của mỗi quốc gia. Theo chỉ tiêu này, CLCS
được phản ánh qua ba tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người, chỉ số giáo dục và chỉ số y tế.
Quốc gia nào có chỉ số HDI lớn thì là quốc gia giàu, mạnh có đời sống cao và ngược lại. Chỉ
số này của LHQ đánh giá CLCS còn hạn hẹp.
Như vậy, CLCS là sự đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, cơ bản về vật chất, sự đáp
ứng càng cao thì CLCS càng cao. Ngoài ra, CLCS còn thể hiện qua môi trường sống trong
sạch và cuộc sống được đảm bảo an ninh, bình đẳng.
Tóm lại, CLCS không phải là một khái niệm hữu hình, chúng ta không thể đưa ra
một cách chính xác các tiêu chí để đánh giá mà chỉ ở mức tương đối. Và từ các phân tích
trên, theo quan niệm của tác giả về CLCS như sau: “ Chất lượng cuộc sống là sự đáp ứng
nhu cầu của con người cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu ngày
càng cao của con người”
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư
1.1.2.1. Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng
có ảnh hưởng đến mức sống và thu nhập của người dân. Nếu tổng thu nhập quốc dân cao thì
bình quân thu nhập theo đầu người cao. Khi con người có mức sống cao thì sẽ hướng tới các

chính sách chăm sóc nhân dân. Những chính sách đúng đắn này sẽ là động lực cho CLCS
được nâng lên và không có sự chênh lệch giữa các vùng miền trong phạm vi quốc gia.
Đường lối chính sách phải phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ
thể. Hầu hết chính sách phát triển kinh tế đều nhằm mục tiêu nâng cao CLCS người dân,
xóa đói giảm nghèo.
1.1.2.4. Khoa học kỹ thuật và công nghệ
Trong thế kỷ 21, sự tiếp nhận những thành tựu tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật mang lại đã làm cho năng suất lao động tăng lên, con người không còn dùng sức
lực nhiều nữa, thay vào đó là trí lực, điều này CLCS được nâng lên, người dân được tiếp cận
với nền văn minh mới và được chăm sóc. Những tiến bộ trong y học đã nâng cao tuổi thọ,
phát hiện và chữa trị được những bệnh nan y, nguy hiểm. Trong giáo dục, các thiết bị điện
tử đã giúp cho việc dạy và học được nhẹ nhàng, chất lượng giáo dục được cải thiện.
1.1.2.5. Điều kiện tự nhiên
Có thể thấy vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên có tác động rất lớn đến các hoạt động
kinh tế - xã hội và tác động gián tiếp đến CLCS. Vị trí địa lý thuận lợi thu hút sự quan tâm
15


của các nhà đầu tư, vận chuyển hàng hóa để xuất khẩu cũng như nhập khẩu thuận lợi hơn,
giảm bớt chi phí di chuyển. Quốc gia có nhiều tài nguyên là tiền để cho các hoạt động sản
xuất, tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người dân, nâng cao CLCS. Tuy nhiên, đây
không phải là nhân tố quyết định đến nâng cao CLCS.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
1.1.3.1. Tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống- HDI
Việc lựa chọn các tiêu chí để đánh giá CLCS người dân rất quan trọng. Trước năm
2010 khi đánh giá CLCS dựa vào GDP/người, tuổi thọ trung bình và giáo dục. Qua cách
tính toán này, ta thấy rằng không phải bất kỳ quốc gia nào có thu nhập cao thì trình độ dân
trí cao và chú ý đến chăm sóc sức khỏe người dân. Một số quốc gia có thu nhập bình quân
thấp nhưng lại quan tâm đến giáo dục và y tế.
Từ năm 2010, HDR đã thay đổi một số nội dung trong việc tính toán HDI.


Trong đó:
Xtuổithực : Tuổi thọ trung bình thực tế;
Xtuổimax : Tuổi thọ trung bình tối đa;
Xtuổimin: Tuổi thọ trung bình tối thiểu.
Bảng 1.1. Các giá trị quốc tế để tính chỉ số HDI năm 2011
Chỉ tiêu

Max

Min

Tuổi thọ (Năm)

83,2

20

Chỉ số đi học các cấp giáo dục (%)

0,978

0

18

0

13,1


GDP
Tốc độ GDP
18

GDP
(USD)
theo Tốc độ GDP/người


người

Hoa Kì
Nhật Bản
Italia
Canada
Baraxin
Trung Quốc
Singapo
Việt Nam
Ethiopi
Nam Phi
Thái Lan
Hàn Quốc

318,01
126,36
60,61
34,41
199,73
1.358,04

(USD)
14.586.870
3,0
45.869,21
5.458.836
4,0
43.200,66
2.060.965
1,54
34.003,71
1.577.040
3,21
45.830,86
2.087.889
7,49
10.453,56
5.926.612
10,4
4.364,09
318.512
14,47
62.822,88
101.615
6,78
1.123,06
29.717
10,9
337,62
363.910
2,85


Xếp
hạng
HDI

1
2
4
12
59

Chỉ
HDI

0,943
0,929
0,910
0,901
0,776

số Tuổi
thọ Tỷ
lệ GNI bình quân
trung bình
người
đầu người
lớn biết
(PPP)
chữ (%) (USD/người)
81,1


0,687
73,5
94,4
7.599
0,593
75,2
92,8
3.205
0,547
65,4
62,8
3.425
0,500
68,9
55,9
1.659
0,363
59,3
29,8
1.041
Nguồn: HDR 2011, Niên giám Thống kê năm 2011-TCTK

Qua bảng 1.2 ta thấy GDP/người có sự phân hóa khác nhau giữa các nhóm nước giàu
và nghèo, nước đang phát triển và chậm phát triển. CLCS được cải thiện khi tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao. Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP thấp và không
bằng các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, một số quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP
cao, thu nhập bình quân đầu người cao nhưng các vấn đề về y tế, giáo dục chưa được chú
trọng đúng mức. Cần phát triển kinh tế bền vững gắn liền với chăm sóc sức khỏe, giáo dục
và giảm đói nghèo.

đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo.
• Tỷ lệ hộ nghèo: là phần trăm số hộ có mức thu nhập/chi tiêu bình quân đầu người
thấp hơn chuẩn nghèo.
Bất bình đẳng trong thu nhâp: là sự mất cân đối trong thu nhập của các nhóm dân cư.
Thường được đo lường bằng hệ số GINI (hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập hoặc
đường Lorenz (Đường cong Lorenz là sự biểu diễn bằng hình học của hàm phân bố tích lũy,
chỉ ra quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm của một giá trị thể hiện qua trục tung với tỷ lệ phần trăm
của một giá trị khác thể hiện qua trục hoành. Đường cong Lorenz thường được sử dụng
trong việc nghiên cứu sự phân bố thu nhập, chỉ ra tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình hay dân số
trong tổng số và tỷ lệ phần trăm thu nhập của họ trong tổng thu nhập.)
1.1.3.2. Chỉ số về y tế
Chăm sóc sức khỏe là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia. CLCS tốt được thể hiện
các chỉ số về y tế. Sức khỏe là yếu tố cơ bản, là mục tiêu cơ bản của sự phát triển kinh tế.
Mức độ chăm sóc về y tế của mỗi quốc gia phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình kinh tế,
thu nhập bình quân theo đầu người. Điều này dễ nhận thấy ở những quốc gia có kinh tế phát
triển thì sự chăm sóc về sức khỏe cao và ngược lại, ở những quốc gia chậm phát triển vấn đề
y tế chưa được đảm bảo.
Sức khỏe tốt thì năng suất lao động cao, tạo ra nhiều giá trị vật chất, tăng thu nhập sẽ
đảm bảo cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Các chỉ tiêu về y tế để đánh giá mức độ chăm sóc về sức khỏe như tuổi thọ trung
bình, tình trạng dinh dưỡng, tỷ lệ người chết, số giường bệnh, số y tá, bác sĩ trên một vạn
dân, mức độ hưởng bảo hiểm y tế…Vì vậy, để nâng cao chăm sóc sức khỏe cho dân cư cần
nâng số lượng y tá, bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân và cơ sở vật chất để người dân
được chăm sóc tốt hơn.

21


 Tuổi thọ trung bình là số năm trung bình của một người có khả năng sống được
trong suốt cuộc đời. Căn cứ vào tuổi thọ trung bình có thể đánh giá được trình độ phát triển


Nữ
83
84
81
86
80
75
77
67
70
62

Nam
79
80
76
79
76
72
73
65
69
60
Nguồn: WHO 2011

Các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao thì mức độ đầu
tư cho y tế cao và chăm sóc sức khỏe tốt. Số lượng bác sĩ nhiều, trình độ cao, trang thiết bị
hiện đại, có khả năng chữa được các bệnh hiểm nghèo. Ngược lại, ở các nước đang phát
triển thu nhập bình quân theo đầu người thấp hơn rất nhiều, dân số phát triển nhanh nên việc

vạn
bệnh/1
bệnh/ vạn
dân
vạn
1 vạn dân
dân
dân
Ni-ger
N/A
0,2
1,4 Nhật Bản
137
Ma-li
1
0,8
4,3 Mông - gô
67
Bê-nin
5
0,6
7,7 Bê- la- rut
111
Ăng- gô-la
N/A
1,7
16,6 LB Nga
97
Ê- ti ô- pi – a
63

Số
bác
sĩ/ 1
vạn
dân

Số y
tá/1 vạn
dân

21,4
27,6
37,6
43,1
36,9
19,2
35,2
24,2
34,1
33,8

1,4
35,0
105,3
852
113,8
63,9
64,1
98,2
64,2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status