cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở mỹ tho (tây tiền giang) 1961 1965 - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Trọng

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG, PHÁ
ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MỸ THO (TÂY
TIỀN GIANG) 1961 - 1965

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Trọng

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG, PHÁ ẤP
CHIẾN LƯỢC Ở MỸ THO (TÂY
TIỀN GIANG) 1961 - 1965
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

1.1.2. Đặc điểm xã hội - nhân văn và truyền thống yêu nước của nhân dân Mỹ Tho ....17
1.2. Chính sách của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam ................................................... 21
1.2.1. Mỹ và chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Genève, thi hành chính sách “tố
cộng, diệt cộng” ..............................................................................................................21
1.2.2. Mỹ và chính quyền Diệm loại Pháp và các phần tử thân Pháp, thành lập quốc gia
chống cộng ở miền Nam Việt Nam ................................................................................23
1.3. Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Mỹ Tho trong những năm 1954
– 1960 ................................................................................................................................. 25
1.3.1.Tình hình Mỹ Tho từ sau Hiệp định Genève và phong trào đấu tranh cách mạng
của nhân dân Mỹ Tho đến trước Đồng Khởi ..................................................................25
1.3.2. Phong trào Đồng Khởi ở Mỹ Tho trong những năm 1959 – 1960 .......................29
1.4. Mỹ triển khai chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và thực hiện “quốc sách ấp
chiến lược” ở Mỹ Tho ....................................................................................................... 34
1.4.1. Mỹ triển khai chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ...................................................34
1.4.2. Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện “quốc sách ấp chiến lược” ở Mỹ Tho .....36
1.4.3. Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai “quốc sách” ấp chiến lược ở Mỹ Tho .....40

CHƯƠNG 2: QUÂN DÂN MỸ THO (TÂY TIỀN GIANG) ĐẤU TRANH
CHỐNG, PHÁ ẤP CHIẾN LƯỢC (1961 - 1965) ................................................... 50
2.1. Chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương cục, Khu uỷ, Tỉnh uỷ Mỹ Tho
về chống, phá ấp chiến lược ............................................................................................. 50
2


2.1.1. Những điều kiện và nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam sau Đồng Khởi ...50
2.1.2. Trung ương Đảng, Trung ương cục, Khu uỷ và Tỉnh uỷ Mỹ Tho chỉ đạo phong
trào chống, phá ấp chiến lược .........................................................................................52
2.2. Cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở Mỹ Tho từ năm 1961 đến cuối năm
1963 .................................................................................................................................... 60
2.2.1. Buổi đầu kết hợp quân sự với nổi dậy chống, phá ấp chiến lược trong những năm

Mỹ và chính quyền Sài Gòn coi việc bình định, giành dân, kiểm soát nông thôn là một giải
pháp chiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của các chiến lược chiến tranh xâm
lược của chúng. Trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, việc dồn dân, lập ấp chiến lược có
ý nghĩa sống còn, được mệnh danh là “xương sống” của chiến lược đó. Mục đích của việc
gom dân, lập ấp chiến lược là nhằm thực hiện “tát nước bắt cá”, chia rẽ dân với cách mạng,
thực hiện mưu đồ cô lập và tiêu diệt lực lượng cách mạng, nhằm áp đặt chủ nghĩa thực dân
mới lên miền Nam Việt Nam.
Luận văn nghiên cứu cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở Mỹ Tho (Tây Tiền
Giang) 1961 – 1965, bởi các lý do sau đây:
1. Chống, phá ấp chiến lược là một hoạt động rất quan trọng trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước. Nghiên cứu về chống, phá ấp chiến lược nhằm góp phần làm rõ hơn
lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh dũng của dân tộc ta, nhất là trong giai
đoạn chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.
2. Về thời gian, trong giai đoạn 1961 - 1965, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn
chuyển từ chính sách “tố cộng, diệt cộng” sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Đây là
giai đoạn mà chính quyền Sài Gòn triển khai và thực hiện ấp chiến lược trên toàn miền
Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long vì phong trào Đồng Khởi đã phá nát hệ thống
kìm kẹp của nó. Chính sách “tố cộng, diệt cộng” bị thất bại, buộc đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gòn chuyển sang dùng bạo lực để đàn áp phong trào cách mạng miền Nam, trong
đó, việc lập ấp chiến lược là biện pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến thành bại của
chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Chủ trương lập ấp chiến lược trong giai đoạn này được đế
quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai quyết liệt nhất và nâng lên thành “quốc sách”
hàng đầu. Để nâng cao hiệu quả của chủ trương này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã mời
4


những chuyên gia, cố vấn có kinh nghiệm nước ngoài như Robert Thompson, được mệnh
danh là chuyên gia chống chiến tranh du kích; Taylor - Trưởng đoàn cố vấn Anh tại miền
Nam Việt Nam… Để nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện gom dân, lập ấp chiến lược, chúng đã
huy động cao nhất lực lượng vũ trang, bán vũ trang và các phương tiện chiến tranh hiện đại


Bước sang thời kỳ chống “chiến tranh đặc biệt”, nhiệm vụ chống, phá ấp chiến lược trong
giai đoạn này đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của đấu tranh quân sự với đấu tranh
chính trị và binh vận trên cả ba vùng chiến lược, thực hiện phương châm “hai chân, ba mũi”
và “bốn bám”. Đấu tranh chống, phá ấp chiến lược vẫn coi trọng đấu tranh chính trị của
quần chúng nhưng nhất thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ với tiến công quân sự và công tác
binh vận. Do phát huy được sức mạnh tổng hợp, nên việc chống, phá ấp chiến lược trong
giai đoạn này là cuộc đấu tranh cách mạng không chỉ quyết liệt mà còn mang tính sáng tạo,
diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú, đem lại kết quả to lớn, góp phần quan trọng đánh
bại “chiến tranh đặc biệt”. Riêng ở Mỹ Tho, nó còn mang tính điển hình, đặc biệt dấy lên
cao trào phá ấp chiến lược trên toàn miền Nam sau Chiến thắng Ấp Bắc (2-1-1963). Cuộc
đấu tranh chống, phá ấp chiến lược còn để lại nhiều bài học cách mạng quý giá.
3. Trước đây, tuy có nhiều tác phẩm đề cập đến vấn đề chống, phá ấp chiến lược
nhưng chưa có tác phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về chống, phá ấp chiến lược trên địa
bàn Mỹ Tho (Tây Tiền Giang), nơi diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và mang tính
điển hình, nơi diễn ra chiến thắng mang tính kiểu mẫu dấy lên cao trào phá ấp chiến lược
trên toàn miền Nam.
Vì thế, tôi đã chọn đề tài “Cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở Mỹ Tho
(Tây Tiền Giang) 1961 – 1965” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm góp phần làm rõ
một trong những vấn đề quan trọng trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, góp phần nhỏ vào
việc bổ sung những khoảng trống về lịch sử địa phương trong giai đoạn kháng chiến chống
Mỹ; đồng thời phục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương của bản
thân, cũng như làm cơ sở cho việc thực hiện nghiên cứu ở bậc nghiên cứu sinh tiếp sau.

2. Mục đích nghiên cứu
- Trình bày có hệ thống về cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược của quân và dân
Mỹ Tho (Tây Tiền Giang) trong giai đoạn đấu tranh sôi động và quyết liệt đánh thắng chiến
lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
- Từ thực tiễn của cuộc đấu tranh đó, luận văn đi sâu nghiên cứu vai trò và nghệ thuật
đấu tranh cách mạng sáng tạo của quần chúng nhân dân; sự gắn bó đoàn kết máu thịt giữa

mà còn chỉ cả khu vực của phía tây Tiền Giang ngày nay.
Tuy nhiên, trong mối quan hệ mở, để đảm bảo tính logic và hệ thống, luận văn có mở
ra trong giới hạn cho phép. Về thời gian, luận văn có đề cập đến một số sự kiện trước giữa
năm 1961, tức là khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.
Về không gian, luận văn có mở rộng đến một số khu vực liên quan như Long An, Bến Tre,
Đồng Tháp và đặc biệt là khu vực Gò Công vì những liên hệ về mặt hành chính của nó.

7


4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là một sự kiện lịch sử
có ý nghĩa thời đại, vì vậy có rất nhiều công trình, tác phẩm viết về cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam của đế quốc Mỹ dưới nhiều góc độ khác nhau, từ nhiều phía, kể cả những
người trực tiếp tham gia hoặc những nhà nghiên cứu bên ngoài.
Ở nước Mỹ đã có hàng ngàn cuốn sách viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, đề cập ít
nhiều đến vấn đề chống, phá ấp chiến lược ở Miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu như:
- Tác phẩm “Giải phẩu một cuộc chiến tranh” của Gabriel Kolko bắt đầu viết từ
năm 1964, xuất bản năm 1965 tại New York. Ông viết khá sinh động và hấp dẫn về diễn
biến cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.
- Tác phẩm “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ” của George C.Herring
xuất bản năm 1981 tại Mỹ, đã lên án giới cầm quyền Mỹ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược
lâu dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Trong chương 3: Hợp tác có mức độ giữa Kennedy và
Diệm (1961 - 1963), trong đó ông viết về chương trình ấp chiến lược và đánh giá dù có
nhiều cố gắng nhưng mang lại kết quả không đáng kể cho phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
- Tác phẩm: “Sự lừa dối hào nhoáng – John Paul Vann và nước Mỹ ở Việt Nam”
của Neil Sheehan, xuất bản tại Mỹ năm 1988, đã lên án các giới cầm quyền Mỹ lừa dối nhân
dân Mỹ và thế giới về cuộc chiến tranh bẩn thỉu mà Mỹ đã gieo rắc thảm họa cho nhân dân
Việt Nam. Quyển sách được đánh giá cao tại Mỹ, và được trao giải thưởng Pulitzer.
- Cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”,

- Tiêu biểu nhất là tác phẩm: “Quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - Diệm” của Hồ
Quý Ba và Nam Hùng, xuất bản tại Hà Nội năm 1962. Tác phẩm đã phân tích âm mưu, thủ
đoạn thâm độc của Mỹ - Diệm trong việc thực hiện “quốc sách” ấp chiến lược.
- Tác phẩm “Ấp chiến lược trại tập trung trá hình của Mỹ - Diệm” của Nguyễn
Hà, xuất bản tại Hà Nội năm 1963. Tác giả đã đi sâu phân tích và lên án âm mưu thâm độc
của Mỹ - Diệm trong việc gom dân lập ấp chiến lược.
- Tác phẩm “Chiến tranh đặc biệt” là sự phát triển của chủ nghĩa thực dân mới
và là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam”
của Nguyễn Văn Hiếu xuất bản năm 1964. Tác giả đã nêu chính sách tập trung dân vào ấp
chiến lược là chính sách tàn bạo nhất của đế quốc Mỹ, động chạm đến quyền lợi của toàn
thể nhân dân miền Nam mà đa số là nông dân, nhất định sẽ bị nhân dân vùng lên đập tan.
- Tác phẩm “Miền Nam giữ vững thành đồng”, tập II của Trần Văn Giàu, xuất bản
năm 1966. Trong chương hai - phần C: Địch lập “ấp chiến lược” – Ta phá “ấp chiến lược”,
tác giả trình bày chi tiết về quốc sách ấp chiến lược; cách chống càn quét, gom dân, phá ấp
chiến lược của đồng bào miền Nam trong giai đoạn địch triển khai chiến lược “chiến tranh
đặc biệt”.

9


- Tác phẩm “Đồng bằng khu Trung Nam Bộ chống Mỹ cứu nước” do Ban chỉ đạo
công trình lịch sử kháng chiến chống Mỹ Khu 8 – Trung Nam Bộ biên soạn. Tác phẩm đã
trình bày một cách có hệ thống về cuộc kháng chiến của nhân dân Khu VIII – Trung Nam
Bộ trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Tác phẩm “Tây Nam Bộ kháng chiến (1945 - 1975)” do Ban chỉ đạo biên soạn
công trình lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến. Công trình này đã tập hợp tư liệu rất phong
phú, có sự tham gia của những người từng lãnh đạo trong cuộc kháng chiến, trình bày khá
hấp dẫn, sinh động về cuộc kháng chiến 30 năm của nhân dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Trong đó, tác phẩm cũng có đề cập đến phong trào chống, phá ấp chiến lược trong đề mục
về chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2010. Trong đó, chương II: Đảng bộ tỉnh lãnh đạo
chống địch càn quét và lập ấp chiến lược, mở mảng chuyển vùng giành quyền làm chủ ở
nông thôn (4-1961 – 3-1965) với 2 tiểu mục: Chống địch càn quét và lập ấp chiến lược (41961 – 12-1962); Chiến thắng Ấp Bắc và cao trào phá ấp chiến lược, mở mảng chuyển vùng
giành quyền làm chủ ở nông thôn (1-1963 – 4-1965).
- Tác phẩm “Lịch sử kháng chiến quân dân Tiền Giang (1940 - 1975)” của Ban
chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 2008.
Nội dung tác phẩm gồm 8 chương, khái quát cuộc kháng chiến của quân dân Tiền Giang từ
sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cho đến chiến thắng năm 1975. Trong đó, Chương 5 với đề
mục II: Chiến thắng Ấp Bắc và cao trào phá ấp chiến lược.
- Tác phẩm tiêu biểu nhất có lẽ là Luận văn Thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Mạnh Thắng
với đề tài “Phong trào đấu tranh phá ấp chiến lược của quân dân Mỹ Tho – Gò Công
giai đoạn 1961 – 1965” được bảo vệ tại Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh năm
2001. Luận văn có cấu trúc nội dung chính gồm 3 chương: Chương I: Vài nét về địa lý tự
nhiên và kinh tế xã hội ở Mỹ Tho – Gò công; chương II: Bối cảnh hình thành và quá trình
thực hiện quốc sách Ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy tại Mỹ Tho – Gò Công; chương III:
Phong trào chống phá Ấp chiến lược của quân và dân Mỹ Tho – Gò Công. Tác giả đã có
công khôi phục lại bức tranh quá khứ của cuộc đấu tranh của quân dân Mỹ Tho – Gò Công
trên địa bàn toàn tỉnh Tiền Giang ngày nay. Tuy nhiên, tác giả chỉ bước đầu khái quát cuộc
đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở Tiền Giang mà thôi. Bởi vì, Luận văn có 3 chương với
125 trang nhưng trọng tâm của cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược với chương 3
khoảng 36 trang mà thôi, còn chương 1 lại giới thiệu khái quát về Tiền Giang và chương 2
lại tập trung trình bày về bối cảnh lịch sử và quá trình thực hiện quốc sách ấp chiến lược của
Mỹ - Ngụy tại Tiền Giang.
Ngoài ra, có rất nhiều công trình lịch sử mang tính địa phương có đề cập đến cuộc
đấu tranh chống phá ấp chiến lược ở Mỹ Tho như:
11


- Quyển “Dự thảo lịch sử Đảng bộ Tiền Giang, tập 2 (1954 - 1975) do Ban nghiên
cứu lịch sử Đảng Tiền Giang xuất bản năm 1986 với 2 tiểu mục: Đấu tranh chống kế hoạch


5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của các
nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân
Việt Nam.
- Các tài liệu của ta và địch về ấp chiến lược và liên quan đến tình hình bình định, lập
ấp chiến lược trên địa bàn Mỹ Tho của Tỉnh trưởng Định Tường, Ty cảnh sát, Ty công an
Định Tường, Ban đặc trách ấp chiến lược tỉnh Định Tường, Phủ tổng uỷ dân sinh nông thôn
(Việt Nam Cộng Hoà)... hiện còn lưu trữ tại Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Tiền
Giang, Trung tâm thông tin và lưu trữ Uỷ ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, Bảo tàng Tiền
Giang và Trung tâm lưu trữ quốc gia 2 tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Hồi ký của các tướng lĩnh và những người tham gia kháng chiến trong chiến tranh
chống Mỹ, đặc biệt là những người từng lãnh đạo, chiến đấu trên địa bàn khu vực Mỹ Tho.
- Các công trình khoa học, các sách viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của Việt Nam đã được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,
Viện sử học, Viện lịch sử quân sự của Bộ quốc phòng, và nhiều nhà xuất bản trên cả nước
phát hành. Đặc biệt, là những công trình lịch sử địa phương ở Tiền Giang do Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ, và các cơ quan ban ngành ở
Tiền Giang xuất bản.
- Ngoài ra, còn có các bài viết trên các tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Đảng,
Học tập (Cộng sản), hoặc các Kỷ yếu của các Hội thảo khoa học được lưu tại

Thư viện

tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Tỉnh Tiền Giang và tại các địa phương ở Tiền
Giang.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của phương pháp duy vật biện chứng và
phương pháp duy vật lịch sử. Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của luận văn là phương

biên soạn giáo trình giảng dạy, học tập lịch sử địa phương; giáo dục truyền thống lịch sử
hiện đại, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước ở Tiền Giang.

7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn có ba
chương:
Chương 1: Những nhân tố chi phối cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở Mỹ
Tho (Tây Tiền Giang).
Chương 2: Quân dân Mỹ Tho (Tây Tiền Giang) đấu tranh chống, phá ấp chiến lược
(1961 - 1965).
Chương 3: Đặc điểm và những bài học kinh nghiệm của cuộc đấu tranh chống, phá
ấp chiến lược ở Mỹ Tho.
14


CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ CHI PHỐI CUỘC CHỐNG, PHÁ
ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MỸ THO (TÂY TIỀN GIANG)
1.1. Khái quát địa lý – hành chính và đặc điểm xã hội - nhân văn khu vực Mỹ
Tho (Tây Tiền Giang)
1.1.1. Khái quát địa lý – hành chính của Mỹ Tho (Tây Tiền Giang)
Trong giai đoạn 1961 – 1965, Mỹ Tho là vùng đất phía tây của tỉnh Mỹ Tho cùng tên
theo phân chia của chính quyền cách mạng, bao gồm các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu
Thành, Chợ Gạo và thị xã Mỹ Tho.
Tuy nhiên cần làm rõ thêm giai đoạn từ 1956 – 1967, thực hiện chủ trương xác nhập
các tỉnh để thuận lợi trong việc lãnh đạo phong trào cách mạng, chính quyền cách mạng đã
xác nhập 2 tỉnh Mỹ Tho và Gò Công trước đây thành một tỉnh - đặt tên là tỉnh Mỹ Tho.
Còn chính quyền Sài Gòn lại thành lập tỉnh Định Tường trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho cũ
và tỉnh Gò Công vào năm 1956, sau đó lại lập tỉnh Gò Công từ quận Gò Công vào tháng 12
năm 1963. Như vậy, trong thời gian 1961 - 1965, cả địa bàn tỉnh Tiền Giang ngày nay được
chính quyền cách mạng đặt là tỉnh Mỹ Tho (còn chính quyền Sài Gòn lại đặt là tỉnh Định




Ấp

Dân số

Diện tích

01

Long Định

2

24

195

149.494

31.667

02

Bến Tranh

2

15


74.091

28.448

05

Gò Công

2

15

147

96.715

27.667

06

Sùng Hiếu

2

11

83

79.614


16

124

903

694.547

202.165

Tổng cộng
Nguồn [143, tr.9].

Theo đó, vùng đất Mỹ Tho chiếm 12/16 tổng, 93/124 xã, 603/903 ấp về đơn vị hành
chính; dân số Mỹ Tho là 523.741 người trong tổng số 694.547 người toàn tỉnh với diện tích
146.050 mẫu trong tổng diện tích toàn tỉnh là 202.165 mẫu toàn tỉnh. Như vậy, Mỹ Tho
chiếm vị trí quan trọng trong toàn tỉnh Định Tường, chiếm trên ¾ dân số (78%), và gần ¾
diện tích cả tỉnh.
Mỹ Tho nằm ở vị trí trung tâm của miền Trung Nam Bộ, phía bắc giáp tỉnh Long An,
phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía nam và tây nam giáp tỉnh Bến Tre, phía đông giáp khu
vực Gò Công. Vùng Mỹ Tho nằm dọc theo phía bắc sông Tiền, có chiều dài từ đông sang
tây khoảng 78 km, chiều rộng từ bắc xuống nam: rộng nhất khoảng 30km, hẹp nhất khoảng
10km.
Địa bàn toàn vùng chủ yếu là đồng bằng, xen kẻ các giồng cát chạy dọc theo hướng
Đông Bắc – Tây Nam. Mỹ Tho được chia làm hai vùng rõ rệt. Vùng đất phù sa nằm dọc
sông Tiền, phía nam lộ 4 (nay là quốc lộ 1), là khu vực đông dân cư nhất. Vùng thứ hai là
vùng Đồng Tháp Mười, là khu vực thưa dân và còn phần hoang vu.

16

biện của tỉnh Định Tường cũ. Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ lại chia Nam Kỳ thành 4 hạt
hành chính lớn: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bassac. Khi đó, Mỹ Tho lại trở thành một
trong bốn khu tham biện trong hạt hành chính lớn: Mỹ Tho.

17


Về mặt hành chính, tháng 12 năm 1899, thực dân Pháp ban hành Nghị định đổi khu
tham biện thành tỉnh từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Khi đó, hai khu tham biện Mỹ Tho và Gò
Công nhập lại thành tỉnh Mỹ Tho. Tuy nhiên, “đến năm 1902, lại tách thành 2 tỉnh Mỹ Tho,
Gò Công và tồn tại đến năm 1945” [45, tr.9]. Từ đó, vùng đất Mỹ Tho trở thành một đơn vị
hành chính cấp tỉnh của chính quyền thực dân.
Cộng đồng cư dân ở Mỹ Tho đã hình thành tương đối sớm vào khoảng nửa sau thế kỉ
XVII với hai thành phần dân tộc chính là lưu dân người Việt và di dân người Hoa. Người
Hoa chủ yếu cư trú ở thị xã Mỹ Tho và các trung tâm dân cư đông đúc như các thị trấn Cái
Bè, Tân Hiệp, Chợ Gạo, Cai Lậy. Họ chủ yếu làm nghề buôn bán và các nghề thủ công
truyền thống. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, cơ cấu xã hội có sự thay đổi lớn. Hàng
vạn người Bắc di cư vào Nam, trong đó có một bộ phận chuyển đến cư trú ở vùng đất Mỹ
Tho. Mỹ - Diệm đã đưa về Mỹ Tho hơn 30.000 đồng bào công giáo di cư từ miền Bắc vào
bố trí ở 3 khu vực: Long Định, Xoài Hột (Bình Đức) và xã Xuân Đông (Chợ Gạo). Đây đều
là những vị trí trọng yếu xung quanh thị xã Mỹ Tho. “Ý đồ của chúng là vừa để thành lập
vành đai bảo vệ, vừa gây chia rẽ đồng bào Nam Bắc, chia rẽ lương giáo” [48, tr.207].
Theo “Bảng điều tra sơ lược về tỉnh Định Tường năm 1962”, dân số toàn tỉnh vào
thời điểm này là 694.547 người. Trong đó người Việt chiếm 98%, còn lại là người Hoa và
khoảng vài chục người thuộc các dân tộc khác. Thành phần nông dân chiếm đại đa số với
hơn 80% dân số. Còn lại là binh lính, công chức, một số thương nhân và thợ thủ công. Lực
lượng công nhân chỉ chiếm số lượng vài ngàn người, chủ yếu làm trong các hãng xưởng như
xay xát lúa gạo, xẻ gỗ, các hãng nước mắn và một số ngành nghề khác. Thợ thủ công thuộc
nhiều ngành nghề khác nhau, khá đa dạng. Lực lượng công chức chủ yếu trong ngành giáo
dục, y tế và các ngành dịch vụ điện, nước, công trình công cộng, giao thông vận tải... Dân số

sinh, tù đày.
Vào những năm 1920 của thế kỉ trước, phong trào yêu nước của nhân dân Mỹ Tho
tiếp tục phát triển theo xu hướng mới. Khi tổ chức Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ra
đời, các thanh niên yêu nước tiến bộ đã tiếp thu và xây dựng các chi bộ đầu tiên ở Mỹ Tho.
“Cuối năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Mỹ Tho được thành lập do
đồng chí Trần Ngọc Giai làm Bí thứ. Cơ quan tỉnh bộ đóng ở thị xã Mỹ Tho. Các đồng chí
trong Tỉnh bộ phân công nhau đi xây dựng cơ sở cách mạng ở các địa phương trong tỉnh
như ở thị xã Mỹ Tho, xã Vĩnh Kim (quận Châu Thành), ...” [13, tr.50]. Khi các tổ chức cộng
sản ra đời năm 1929, Mỹ Tho là một trong ba nơi có chi bộ cộng sản sớm nhất.
Khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3 tháng 2 năm 1930, Mỹ Tho đã có một tổ
chức cộng sản mạnh. Hàng loạt chi bộ đã được hình thành và lãnh đạo nhân dân đấu tranh.
Cuộc đấu tranh mở đầu cho cao trào cách mạng 1930 – 1931 là cuộc đấu tranh kỉ niệm
Ngày quốc tế lao động 1-5-1930 của quần chúng nhân dân 6 xã huyện Cai Lậy, 12 xã của
huyện Châu Thành và 7 chợ trong vùng thu hút hàng ngàn người tham gia biểu tình và bãi
19


chợ. Tiếp theo, khắp nơi treo cờ đỏ búa liềm, rãi truyền đơn, biểu ngữ và nhiều cuộc biểu
tình, mít tinh được tổ chức nhân dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày cách mạng tư sản
Pháp (14-7), Ngày cách mạng tháng Mười Nga (7-11), Ngày quốc tế phụ nữ (8-3).
Trong các thời kỳ đấu tranh 1932 – 1935, thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương
1936 – 1939, Mỹ Tho luôn là nơi có phong trào yêu nước của nhân dân diễn ra sôi nổi, liên
tục và mạnh mẽ. Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945, phong trào cách
mạng của nhân dân Mỹ Tho lại bùng lên dữ dội. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm
1940. Nhân dân Mỹ Tho đã tích cực tham gia khởi nghĩa, giành thắng lợi ở nhiều vùng rộng
lớn. Chính tại đây, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh được thành lập, trụ sở đặt tại Đình
Hưng Long. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay trước trụ sở chính quyền cách mạng.
Cuộc khởi nghĩa đã bị thực dân Pháp khủng bố dã man như triệt hạ các làng mạc trung tâm
của cuộc khởi nghĩa, dùng máy bay ném bom vào Chợ Giữa (Vĩnh Kim) khi nhân dân đang
họp chợ ... Chúng đã bắt gần 3.000 người ở Mỹ Tho tham gia khởi nghĩa trên tổng số 6.000

Đối với Việt Nam, từ đầu thế kỉ XX, Mỹ đã có ý đồ xâm lược. Từ sau năm 1953,
chính quyền Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh của Pháp và chống lại xu
hướng của thực dân Pháp muốn giải quyết chiến tranh thông qua thương lượng. Trong cuộc
họp Hội đồng an ninh quốc gia ngày 8 tháng 1 năm 1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên
bố: “Mĩ không được quên những lợi ích quan trọng của mình ở khu vực này (Đông Dương)
… Đông Dương như là con đê đang bị rò rĩ và giải pháp tốt nhất là mó tay vào hơn là để
cho cả con đê bị cuốn trôi” [75, tr.31].
Tuy từ chối không kí kết vào tuyên bố chung của Hội nghị Genève, nhưng Mỹ cho
rằng việc chia cắt Việt Nam là cơ hội cho Mỹ xây dựng lực lượng phi cộng sản tại Nam Việt
Nam, làm con đê ngăn chặn “làn sóng đỏ”. Ý đồ của Mỹ đối với Nam Việt Nam như sau:
“- Xây dựng Nam Việt Nam thành một thể chế quốc gia chống cộng, đối lập với
Miền Bắc. Không có thỏa hiệp, hiệp thương tổng tuyển cử theo tinh thần Hiệp định Genève.
- Thiết lập một chính phủ chống cộng mạnh, hoạt động có hiệu quả trong và ngoài
nước.
- Tập trung xây dựng một quân đội quốc gia với qui mô 10 sư đoàn đủ sức ngăn chặn
sự phá hoại hay xâm lăng bằng quân sự đến từ miền Bắc, tiến tới khống chế toàn bộ Đông
Dương.” [82, tr.30].
Theo quy định của Hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền
ở vĩ tuyến 17 để thực hiện ngừng bắn, tập kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực nhằm lập
lại hòa bình. Cũng theo Hiệp định, hai miền Nam Bắc sẽ tiến hành hiệp thương, tổng tuyển
cử tự do để thống nhất sau thời hạn hai năm. Chính quyền Mỹ đã chủ trương phá hoại cuộc
21


tổng tuyển cử dự kiến trong tương lai. Bởi vì, Tổng thống Mỹ cho rằng nếu tổng tuyển cử,
Hồ Chí Minh có thể thu được 80% số phiếu [71, tr.448 - 449]. Mà trong mắt giới cầm quyền
Mỹ, giờ đây, Hồ Chí Minh là một người cộng sản hơn là một người theo chủ nghĩa dân tộc.
Vì thế, Mỹ chủ trương phá hoại hiệp thương và tổng tuyển cử nhằm ngăn chặn thắng lợi của
Cộng sản thông qua tổng tuyển cử.
Mặc dù Hiệp định Genève quy định “mỗi bên cam kết không dùng cách trả thù hoặc

thống hành chính. Chính quyền Diệm còn cho thành lập hàng loạt trung tâm cải huấn nhằm
giam cầm những người bị phát hiện, bắt họ viết tờ “ly khai với cộng sản”, tố cáo “tội ác của
cộng sản”, bắt xé cờ Đảng... Ở Mỹ Tho, thuộc tỉnh Định Tường “được chọn làm thí điểm
cho cuộc triển khai qui mô quốc sách tố cộng, diệt cộng. Tên Nguyễn Trân chống cộng khét
tiếng, từ Miền Trung Trung Bộ được đưa vào làm Tỉnh trưởng” [18, tr. 57].
Được sự ủng hộ và khuyến khích của Mỹ, Ngô Đình Diệm cự tuyệt đề nghị hiệp
thương và tổng tuyển cử của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 18 tháng 7 năm
1957, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho chính quyền Ngô Đình Diệm đề nghị
nhà cầm quyền hai miền hiệp thương về tổng tuyển cử và thiết lập quan hệ bình thường giữa
hai miền. Ngày 26 tháng 7, Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị trên.
Sau khi tiêu diệt các lực lượng vũ trang giáo phái, Ngô Đình Diệm tiến hành xây
dựng một chính quyền “hợp pháp, hợp hiến”. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Diệm tổ chức
“trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại và tự xưng Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp
đó, ngày 4 tháng 3 năm 1956, Ngô Đình Diệm cho tiến hành bầu cử Quốc hội lập hiến riêng
rẽ ở miền Nam. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm ban hành Hiến pháp, thiết
lập chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Ngay sau khi thành lập, Mỹ và một số nước tư bản đồng
minh của Mỹ lập tức công nhận chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là hợp pháp, hợp hiến.
Như vậy, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã không chỉ cố tình phá hoại
Hiệp định Genève, cự tuyệt việc tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử mà còn thi hành chính
sách “tố cộng, diệt cộng” thẳng tay trả thù những người kháng chiến cũ. Chúng tìm mọi
cách để tiêu diệt những người cộng sản, kể cả những người có cảm tình hay có liên hệ với
cách mạng mà chúng cho là mối đe dọa nguy hiểm nhất. Bước tiếp theo trong mưu đồ của
chúng là loại bỏ thế lực của Pháp và các phần tử thân Pháp để biến miền Nam thành một
quốc gia chống cộng, là tiền đồn của “thế giới tự do”.
1.2.2. Mỹ và chính quyền Diệm loại Pháp và các phần tử thân Pháp, thành lập
quốc gia chống cộng ở miền Nam Việt Nam
Thấy tình thế thất bại của thực dân Pháp là không thể tránh khỏi, Mỹ chuẩn bị các
điều kiện cần thiết để thay thế Pháp, chuẩn bị người của Mỹ để nắm chính quyền của Quốc
gia Việt Nam. Ngày 7 tháng 7 năm 1954, trước khi Hiệp định Genève được ký kết khoảng
hai tuần, Ngô Đình Diệm đã thành lập chính phủ mới. Ngày 9 tháng 10 năm 1954, Ngô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status