BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thu Hà
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ
CHIẾN TRANH CỦA VĂN LÊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thu Hà
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ
CHIẾN TRANH CỦA VĂN LÊ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG THỊ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
2.2.3. Đời sống tình cảm của những người lính .............................................................55
2.3. Những suy ngẫm sâu xa về cuộc chiến ..................................................................... 67
2.3.1. Người lính nghĩ về chiến tranh .............................................................................67
2.3.2. Người dân trong cuộc suy ngẫm về cuộc chiến ....................................................70
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ........................ 74
3.1. Sự đa dạng trong kết cấu nghệ thuật ....................................................................... 74
1
3.1.1. Kết cấu tuyến tính và phi tuyến tính .....................................................................74
3.1.2. Kết cấu lồng ghép, sóng đôi..................................................................................78
3.1.3. Mạch kết cấu dồn dập, tiết tấu nhanh như ở truyện ngắn .....................................83
3.2. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật và sử dụng ngôn từ ............................... 86
3.2.1. Sự tinh tế trong khắc họa tính cách nhân vật ........................................................86
3.2.2. Sự linh hoạt trong sử dụng ngôn từ ......................................................................97
3.3. Nghệ thuật sử dụng yếu tố tâm linh, kỳ ảo ............................................................ 101
3.3.1. Yếu tố tâm linh, kỳ ảo trong văn học ..................................................................102
3.3.2. Những yếu tố tâm linh, kì ảo trong tiểu thuyết của Văn Lê ...............................102
3.3.3. Hiệu quả tư tưởng – nghệ thuật của yếu tố tâm linh, kỳ ảo ................................110
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 114
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 117
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 121
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
ảnh ngòi bút của ông, đến nỗi có người phải nhận xét: “Không có chiến tranh, chắc không
có nhà văn Văn Lê!”. Văn Lê đến với cuộc đời bằng nỗi đau của một con người luôn cảm
thấy mình như mắc nợ với những người lính đã chết và cả những người đang sống. Trong
chuyên mục Nói chuyện với những cây bút từng là lính, Văn Lê từng chia sẻ với bạn đọc:
“Khi tôi viết, đó là lúc tôi muốn được làm việc đúng, muốn đánh thức dậy những điều tốt
đẹp của mỗi con người.”
Chính cái tâm và cái tài của Văn Lê đã thuyết phục được những người đọc khó tính
nhất. Tiểu thuyết Mùa hè giá buốt được trao tặng giải B (không có giải A) – giải thưởng 5
năm một lần của Bộ Quốc phòng. Và mới đây, tiểu thuyết này lại được trao giải Nhất Giải
thưởng Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (2006 – 2011), giải thưởng 5 năm một
lần đầu tiên của Thành phố. Đợt giải thưởng này, nói như Lê Quang Trang – Chủ tịch Hội
Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, trên báo Sài Gòn giải phóng ngày 05/12/2012 là nhằm:
“tôn vinh những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh lịch sử dân
tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới hiện nay” [44]. Không chỉ
Văn Lê, các tác phẩm đoạt giải trong cùng đợt cũng viết về chiến tranh như Đêm Sài Gòn
không ngủ (Trầm Hương), Đất thở (Thạch Cương), Xuân lộc (Hoàng Đình Quang). Có thể
thấy, chiến tranh qua đi đã lâu nhưng văn học viết về chiến tranh vẫn luôn cần được trân
trọng, nghiên cứu. Đề tài chiến tranh vẫn cần thiết trong hành trang chúng ta giữa cuộc sống
hiện tại đầy biến động, cám dỗ khiến con người ta có thể lãng quên đi quá khứ mất mát, đau
thương nhưng hào hùng, đẹp đẽ.
Lặng lẽ, khiêm nhường và bền bỉ, Văn Lê đang dần tỏa sáng trên lĩnh vực văn học
viết về chiến tranh. Có thể thấy nét nổi bật trong tiểu thuyết của Văn Lê, đó là chất nhân
văn. Chính giá trị nhân văn thấm đẫm trong các tác phẩm, đã giúp ông nhận được những
giải thưởng cao quý của Bộ Quốc phòng cũng như Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong nền văn học cách mạng, các tác phẩm của ông góp phần để lại những bài học quý báu
cho thế hệ sau thấy được quá khứ hào hùng và bi tráng của dân tộc. Xác định được tầm quan
trọng của đề tài chiến tranh cũng như thấy được những đóng góp của Văn Lê cho đề tài này,
chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài luận văn “Đặc điểm tiểu thuyết viết về chiến tranh của
Và giải thưởng này là nhằm: “tôn vinh những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ
thuật, phản ánh lịch sử dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới
hiện nay” [56].
Cũng Lê Quang Trang, trong bài Phía sau hiện thực khắc nghiệt của Mùa hè giá
buốt, đăng trên tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật có nhận xét: “Về nghệ thuật,
có thể thấy tác phẩm nằm trong hệ hình của tiểu thuyết truyền thống, không có những thể
nghiệm cách tân hoa mỹ cầu kỳ. Tuy nhiên, cách viết đằm thắm, gắn bó sâu sắc với đời
sống hiện thực mà anh chứng kiến kết hợp cùng tưởng tượng của nhà văn, đồng thời chứa
đựng nhiều suy tưởng, chiêm nghiệm sâu sắc, đa dạng có thể đáp ứng nhiều loại nhu cầu,
5
khiến các tầng lớp bạn đọc khác nhau đều có thể hào hứng theo dõi cốt truyện và số phận
các nhân vật. Chính sự kỹ lưỡng trong văn phong, sức tươi trẻ của chất liệt sống, sự mới mẻ
và đa dạng trong ý tưởng của tác phẩm đã chiếm được tình cảm của người đọc, sự đồng
thuận tuyệt đối của Hội đồng chung khảo, và cùng thời gian vẫn tiếp tục lan tỏa trong bạn
đọc” [57]. Như vậy, đổi mới nghệ thuật và tìm ra hướng đi riêng cho tác phẩm của mình
không phải cái đích mà Văn Lê muốn hướng đến. Ông khai thác đề tài chiến tranh ở chiều
sâu, ở việc phản ánh chân thật về cuộc chiến, về một thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước
anh dũng. Ông tìm đến tận cùng nguồn gốc của sức mạnh dân tộc, bản chất của người lính.
Đó chính là những yếu tố làm nên nét riêng của Văn Lê.
Nhà báo Phan Hoàng trong bài Sức mạnh tình yêu chiến thắng tình yêu sức mạnh đã
đánh giá: “Mùa hè giá buốt, một tiểu thuyết đẹp và buồn, quyến rũ và đau đớn, thăng hoa
như một tứ thơ” [21]. Tác phẩm của Văn Lê có kết thúc buồn và đau đớn bởi nó phản ánh
chân thực sự thật lịch sử. Để có được những chiến công, làm thay đổi cục diện cuộc chiến,
nhiều người lính đã phải hy sinh, phải đánh đổi xương máu của mình.
Trên website của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Sáng với bài Âm
hưởng bi tráng trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt đã nhận định: “Viết về đề tài chiến tranh,
và ngay cả viết về một chiến dịch cụ thể như chiến dịch Mậu Thân 1968, cũng không phải là
một cái gì quá mới mẻ. Tuy nhiên, đối với tác giả Mùa hè giá buốt, một cựu binh đã từng
Nhà văn Bang Hyun Suk, Chủ tịch Hội Nhà văn trẻ Hàn Quốc, chia sẻ những nhận
xét về tiểu thuyết Nếu anh còn được sống trong bài báo Thêm một nhịp cầu văn học từ Việt
Nam đến với Hàn Quốc trên báo Sài Gòn giải phóng Chủ nhật 09/02/2003 (nhà báo Ngô
Ngọc Ngũ Long ghi lại): ở thập niên 70, nhân dân Hàn Quốc đã được đọc một số tiểu thuyết
Việt Nam được dịch ra tiếng Anh nhưng theo riêng ông thì vẫn chưa thực sự thấy được nét
tiêu biểu của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh. Các tác phẩm chỉ là một cái
nhìn riêng, còn phiến diện của một người. Chỉ khi đọc tiểu thuyết Nếu anh còn được sống
của Văn Lê, ông mới thực sự hiểu cả hai mặt giữa cái sống và cái chết, giữa chất anh hùng
ca và những nỗi đau mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu trong chiến tranh. Bang Hyun
Suk còn cho biết thêm “Ngay từ khi phát hành, tiểu thuyết đã được 6 tờ báo uy tín tại Hàn
Quốc viết bài giới thiệu trang trọng, được bạn đọc đón nhận với một tình cảm đặc biệt và
đánh giá cao bởi tính nhân văn cao cả của con người và đậm đà tính Việt Nam trong tác
phẩm. Rất nhiều bạn đọc người Hàn Quốc sau khi đọc xong tiểu thuyết đã sang Việt Nam
tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam” [34].
Trong bài viết Nếu anh còn được sống – lời cảnh tỉnh với loài người của tác giả
Xuân Đài có đoạn nhận xét: “Văn Lê không dừng lại ở chiến công, ngòi bút anh phanh phui
đến tận cùng tai họa của cuộc chiến do người Mỹ gây ra. Hậu họa thật lớn lao: một dòng họ
tuyệt tự, những mối tình tan nát, sự thù hận của tuổi trẻ Việt – Mỹ, sự phản bội đến tởm lợm
của những người cùng chiến tuyến … Đừng ngạc nhiên khi ai đó không bằng lòng với cách
7
thể hiện chiến tranh của Văn Lê. Anh là người trong cuộc, mấy chục năm sau ngẫm lại năm
tháng của đời mình, của đồng đội, của dân tộc và không thể viết khác. Sách anh không dành
cho những người chỉ đọc để giải trí”.
Tác giả Hoàng Quốc Hải trong bài viết Chiến tranh và góc độ người cầm bút đã nhận
xét về tiểu thuyết Nếu anh còn được sống: “Gập sách lại, một cái gì khiến ta vấn vương,
như là sự day dứt về những điều nhẽ ra không nên có. Song lại có điều khác làm ta hài lòng
như gỡ bỏ được sự ám ảnh nặng nề, bởi Văn Lê đã viết với tư cách công dân và cả danh dự
của người lính” [16].
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Văn Lê thành công với nhiều thể loại như thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn; kịch bản film
tài liệu, film điện ảnh… Ông khởi đầu với thơ nhưng hiện nay lại đang thiên về văn xuôi,
đặc biệt là thể loại tiểu thuyết viết về chiến tranh. Có thể nói chỉ thể loại tiểu thuyết mới đủ
tầm vóc, để Văn Lê truyền tải hết những tư tưởng, suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình về
chiến tranh. Viết về đề tài này, Văn Lê đã có nhiều tiểu thuyết như Người gặp trên tàu
(1985), Khoảng rừng có những ngôi sao (1987), Hai người còn lại trong rừng (1988), Tiếng
rơi của hạt sương đêm (1993)…
Trong đó, không thể không nhắc đến bộ ba tiểu thuyết viết về chiến dịch Mậu Thân
năm 1968 Nếu anh còn được sống (1994), Cao hơn bầu trời (2002) và Mùa hè giá buốt
(2008). Bộ ba tiểu thuyết này được đánh giá cao, là phản ánh chân thật hình ảnh thế hệ trẻ
Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Đồng thời phản ánh được sự khốc liệt của cuộc
chiến nói chung cũng như về chiến dịch Mậu Thân nói riêng. Từ đó, bộ ba tiểu thuyết đã để
lại những bài học quý báu cho thế hệ sau.
Trong kháng chiến chống Mỹ, chiến dịch Mậu Thân – với việc đồng loạt tấn công ở
40 tỉnh thành, trong đó mũi tấn công chính là vào Sài Gòn, sào huyệt đầu não của chế độ
Mỹ – Ngụy; có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Rất nhiều những nhà sử
học, chính trị gia, các nhà quân sự, văn nghệ sỹ ở cả hai chiến tuyến đều tìm hiểu, nhận xét
và đánh giá về chiến dịch này. Cho đến hôm nay, nó vẫn luôn là đề tài ám ảnh để người ta
phải suy nghĩ và cầm bút viết. Nhà văn nữ Trầm Hương rất tâm huyết với đề tài này, cũng
đã chọn viết về Mậu Thân và thành công với tác phẩm Đêm Sài Gòn không ngủ – tác phẩm
đạt giải III, cùng đợt giải thưởng với tiểu thuyết Mùa hè giá buốt của Văn Lê – đạt giải I .
Có thể thấy, sức ám ảnh của đề tài chiến tranh, đặc biệt là những kí ức sâu đậm về
chiến dịch Mậu Thân đã giúp Văn Lê liên tục viết ra bộ ba tiểu thuyết gây được tiếng vang
này. Đó chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài. Để làm sáng tỏ giá trị nổi bật của các tiểu
thuyết trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sẽ tìm những đặc điểm giống và
khác trong việc xây dựng hình tượng người lính và bức tranh chiến trận của Văn Lê với một
số tác giả cũng viết về đề tài chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Chu Lai…
9
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để thấy được cái chung cũng như những nét riêng, độc đáo của Văn Lê trong việc
miêu tả sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh và vẻ đẹp của hình tượng người lính; chúng tôi
10
tiến hành so sánh với tác phẩm của một số tác giả cũng viết về đề tài này như Nguyễn Minh
Châu, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Bảo Trường Giang. Từ đó thấy được sự đóng góp nhất
định của Văn Lê cho văn học viết về chiến tranh.
5.4. Phương pháp lịch sử
Để khảo sát đặc điểm tiểu thuyết của Văn Lê, chúng tôi đặt các tác phẩm của ông vào
bối cảnh lịch sử xã hội và văn học đương thời để thấy được giá trị và đóng góp của riêng
ông cho mảng đề tài về chiến tranh chống Mỹ.
5.5. Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Để khảo sát những thành công về nghệ thuật tiểu thuyết, người viết vận dụng phương
pháp tiếp cận thi pháp học để khám phá sự đa dạng về nghệ thuật kết cấu, sự tinh tế trong
khắc họa tính cách nhân vật và sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật của Văn
Lê.
6. Đóng góp của luận văn
Có những kết luận khoa học về giá trị của các tiểu thuyết viết về chiến tranh của Văn
Lê. Chỉ ra được những tư tưởng, cái nhìn mới mẻ mà nhà văn gửi gắm bên trong mỗi tác
phẩm.
Thấy được phong cách riêng của Văn Lê trên văn đàn và chất nhân văn làm nên giá
trị trong các tác phẩm của Văn Lê.
Bổ sung thêm nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu văn học viết về đề tài lực
lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng sau 1975.
7. Cấu trúc luận văn
Chương I: Văn Lê và đề tài thời chiến tranh chống Mỹ
LÊ VÀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH THỜI CHỐNG MỸ
1.1. Tác giả Văn Lê và sự nghiệp sáng tác
1.1.1. Vài nét về cuộc đời
Nhà văn – Nghệ sĩ ưu tú Văn Lê tên thật là Lê Chí Thụy, sinh ngày 02 tháng 03 năm
1949 tại xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh, tháng chín năm 1966, ông phải sớm rời ghế
nhà trường để nhập ngũ, rồi đi B – chiến đấu tại chiến trường Đông Nam Bộ. Ông từng
tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 và cả chiến dịch mùa xuân năm 1975.
Nhờ có năng khiếu văn học, ông được chuyển sang công tác chính trị, văn hóa trong
quân đội, mà theo ông: “Chính cái tài vặt ấy đã giúp tôi may mắn sống sót giữa mưa bom
bão đạn”. Tháng mười năm 1974, Văn Lê là phóng viên tạp chí Văn Nghệ Quân Giải
Phóng. Tháng mười một năm 1976, ông làm biên tập viên tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng,
rồi tuần báo Văn Nghệ.
Tháng mười hai năm 1977 – khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, Văn Lê tái
ngũ, làm phóng viên tại chiến trường Tây Bắc Campuchia. Ông vừa cầm súng, vừa cầm bút
ở mặt trận 479 cho tới năm 1982 mới ra quân.
Sau đó, Văn Lê về làm biên tập viên, đạo diễn film tài liệu tại Hãng film Giải Phóng
của Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, ông nghỉ hưu.
Văn Lê đồng thời là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam; Uỷ
viên Ban Chấp hành, Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ – Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh
khoá IV, Uỷ viên Hội đồng Thơ khoá V, VI.
Trong lĩnh vực công tác chính là đạo diễn film tài liệu, Văn Lê đã gặt hái được nhiều
giải thưởng trong cũng như ngoài nước. Ông được phong Nghệ sĩ ưu tú của ngành điện ảnh.
Về lĩnh vực văn chương, Văn Lê khởi đầu với thơ và sớm gặt hái thành công. Mới ở
tuổi hai mươi sáu, ông đã đoạt giải A cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1975 – 1976 và
bắt đầu khẳng định tên tuổi trên thi đàn. Sau đó, ông được trao giải B cuộc thi thơ của tạp
chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1982 và giải A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995
về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang. Văn Lê lại tiếp tục nhận giải thưởng văn học Bộ
+ Về thơ:
Một miền đất, một con người (tập thơ, 1976)
Khoảng thời gian tôi biết (tập thơ, 1983)
Phải lòng (tập thơ, 1994)
Những cánh đồng dưới lửa (trường ca, 1997)
Câu chuyện của người lính binh nhì (trường ca, 2006)
Vé trở về (tập thơ, 2013)
+ Về truyện, tạp văn và tiểu thuyết
14
Những ngày không yên tĩnh (truyện, 1978)
Chuyện một người du kích (truyện, 1980)
Bão đen (truyện, 1980)
Đồng chí đại tá của tôi (truyện, 1981)
Những người gặp trên tàu (tiểu thuyết, 1982)
Ngôi chùa ở Prátthana (tiểu thuyết, 1985)
Khoảng rừng có những ngôi sao (tiểu thuyết, 1985)
Hai người còn lại trong rừng (tiểu thuyết, 1989)
Tình yêu cả cuộc đời (tiểu thuyết, 1989)
Khi toà chưa tuyên án (tiểu thuyết, 1989)
Tiếng rơi của hạt sương khuya (tiểu thuyết, 1993)
Nếu anh còn được sống (tiểu thuyết, 1994; tái bản 2001;
xuất bản ở Hàn Quốc 2001)
Chim Hồng Nhạn bay về (truyện, 1996)
Đồng dao thời chiến tranh (tiểu thuyết, 1999)
Cao hơn bầu trời (tiểu thuyết, 2004)
Những câu chuyện làng quê (văn, 2005)
Mùa hè giá buốt (tiểu thuyết, 2007; tái bản 2012)
Mỹ nhân (tiểu thuyết, 2013)
phóng, Nam Bắc hai miền thống nhất. Từ đây, lịch sử dân tộc mở ra một thời kỳ mới, đồng
thời nền văn học hiện đại Việt Nam cũng bước sang một giai đoạn mới. Mặc dù cảm hứng
sử thi trong văn học thời kỳ chiến tranh vẫn còn tiếp tục quán tính trong nhiều năm thời hậu
chiến, nhưng yêu cầu đổi mới văn học cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Từ giữa những năm 80, cùng với cao trào đổi mới đất nước; nền văn học hiện đại đã
có những biến chuyển sâu sắc và toàn diện. Văn học sau 1975 đã đạt nhiều thành tựu và có
nhiều triển vọng to lớn. Xuất hiện thêm rất nhiều đề tài mới về cuộc sống nhưng có thể nói
đề tài về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng vẫn luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo
nghệ thuật của đông đảo thế hệ văn nghệ sĩ. Sự phát triển mạnh mẽ của văn học đề tài chiến
tranh đã trải qua những chặng đường:
Sự đòi hỏi đổi mới của văn học đề tài chiến tranh sau 1975
Có thể thấy trong suốt ba mươi năm từ 1945 đến 1975, văn học đã làm tròn sứ mệnh
cao cả của một nền văn học phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu vì tổ quốc, vì nhân dân.
Nền văn học đó mang khuynh hướng sử thi từ quan điểm, cảm hứng sáng tác; tới chủ đề, thế
giới nhân vật… Trong thời kỳ chiến tranh, dòng sáng tác này đã có những đóng góp đáng kể
cho tiến trình văn học dân tộc.
Khuynh hướng sử thi tiếp tục chi phối nền văn học từ sau 1975 đến tận những năm
đầu thập kỉ 80. Đó là bởi những dư âm của cuộc chiến thần thánh vừa qua vẫn là dấu ấn
16
khôn nguôi trong lòng những người cầm bút. Bước sang thời bình, âm hưởng của dòng văn
học cách mạng vẫn tiếp tục được nối dài.
Nhưng cũng trong giai đoạn này, cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội, văn hóa,
tư tưởng là sự thay đổi về quan niệm thẩm mỹ. Văn học thời kỳ này xuất hiện nhu cầu nhìn
lại, từ đó manh nha hình thành những hướng đi mới. Vẫn là đề tài cuộc kháng chiến chống
Mỹ nhưng các nhà văn đã không muốn hay nói chính xác là không thể viết về chiến tranh
như cách viết trước đây. Nguyễn Minh Châu trong bài Viết về chiến tranh đã đặt ra vấn đề
các tác phẩm hiện đại sẽ viết về con người hay sự kiện. Và câu trả lời là: “Không còn phải
lựa chọn nữa: phải viết về con người. Tất nhiên con người không tách rời sự kiện chiến
nhân về chiến trận và nói lên những suy ngẫm mới. Nhà văn Chu Lai trên tạp chí Văn nghệ
quân đội, số 4 (1987) đã chia sẻ: “Bằng những kiểm nghiệm bản thân, tôi hiểu ra rằng chiến
tranh quả thật không vui vẻ gì, đối với bất cứ dân tộc nào, dù là tự vệ hay xâm lược, chiến
tranh đều mang ý nghĩa bi kịch”. Còn với nhà văn Khuất Quang Thuỵ thì chiến tranh hoàn
toàn “không phải trò đùa”. Và chính các nhà văn quân đội là những người đi tiên phong
trong việc “nhận thức lại” cách nhìn và đổi mới trong cách viết.
Nói tới khuynh hướng tái nhận thức về chiến tranh không có nghĩa là nhìn nhận lại
về cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta suốt hơn 30 năm, xóa nhòa ranh giới phân biệt
giữa chính nghĩa và phi nghĩa, ta và địch, thắng và thua… Nhận thức lại ở đây là nói tới một
cách nhìn mới, toàn diện hơn về chiến tranh của nhà văn sau khi đã có “độ lùi cần thiết” là
khoảng thời gian vài chục năm và có điều kiện đánh giá khách quan hơn theo chủ trương đổi
mới của Đảng để sáng tạo nên những tác phẩm vừa chân thực vừa hấp dẫn người đọc.
Với thể loại tiểu thuyết, chúng ta có thể ghi nhận một số thành công đáng chú ý cả về
nội dung lẫn nghệ thuật. Các nhà văn phát hiện và khai thác những mặt còn khuất lấp trong
hiện thực mà bấy lâu văn học vẫn bỏ qua như Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng (Chu
Lai), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh)… Bên cạnh cảm hứng sáng tác mới mẻ, nhiều nhà
văn còn được chú ý ở những tìm tòi đổi mới cách viết tiểu thuyết theo hướng hiện đại như
Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh…
Với độ lùi thời gian cần thiết, các nhà văn đã có cái nhìn đầy đủ và bao dung hơn về
chiến tranh kiểu như Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi. Những tác phẩm ra đời trong
giai đoạn này nhìn cuộc chiến tranh bằng một góc nhìn khác. Trong bài viết Kỹ thuật dòng ý
thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, tác giả Nguyễn Đăng Điệp – tiến sĩ Viện Văn
học đã cho rằng: “Bảo Ninh không miêu tả cuộc chiến tranh ở mặt trước của tấm huy
chương. Không phải nhà văn có ý định “giải thiêng” cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc mà
anh muốn nhìn phía khác, phía những người lính đã chịu bao nhiêu mất mát hi sinh. Đó
cũng là một phần làm nên sự vĩ đại của dân tộc” [50; 400]. Sau này còn rất nhiều nhà văn
quân đội nữa cũng tìm tòi đổi mới cách viết như Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Trung
Trung Đỉnh, Nguyễn Trí Huân… Có thể thấy rằng cốt lõi của quá trình đổi mới nằm ở việc
18
lại” về cuộc chiến đã đi qua. Các nhà văn đánh dấu mạnh mẽ cho khuynh hướng sáng tác
này cũng chính là những người đã từng mặc áo lính như Trung Trung Đỉnh với các tác
phẩm Lạc rừng, Sống khó hơn là chết, Người trong cuộc…; Khuất Quang Thụy với các tác
19
phẩm Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng, Những bức tường lửa…; Chu Lai với Ăn
mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Khúc bi tráng cuối cùng, Chỉ còn một lần…; Bảo Ninh với
Nỗi buồn chiến tranh, Khắc dấu mạn thuyền, Bội phản…
Các nhà văn này không chỉ viết về chiến tranh mà còn đặc biệt chú ý đến hậu quả
nặng nề của nó lên số phận những người lính, những thế hệ phải trải qua cuộc kháng chiến
ấy. Điều này thể hiện thành công trong các tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn
mày dĩ vãng (Chu Lai), Chim én (Nguyễn Trí Huân)…
Chiến tranh còn được miêu tả là một trường đào luyện vô cùng khắc nghiệt với phẩm
chất, nhân cách con người, làm bộc lộ đến tận cùng bản chất của mỗi người, từ người lính
đến chỉ huy. Các tác phẩm như Hai người trở lại trung đoàn, Thung lũng thử thách, Họ
cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Miền cháy, Cơn giông (Nguyễn Minh Châu)… là
những sáng tác tiêu biểu.
Văn học còn chỉ ra sự lệch pha, trái ngược giữa số phận cá nhân và cộng đồng, nảy
sinh những bi kịch của con người là nạn nhân của hoàn cảnh Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến
không chồng (Dương Hướng), Vòng tròn bội bạc (Chu Lai)…
Ngoài ra, vẫn còn nhiều tác phẩm mang không khí nóng bỏng của những trận đánh
như Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí
Huân), Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang), Có một con đường mòn trên biển Đông
(Nguyên Ngọc), bộ ba tiểu thuyết viết về chiến dịch Mậu Thân Nếu anh còn được sống –
Cao hơn bầu trời – Mùa hè giá buốt (Văn Lê), Đất thở (Thạch Cương), Xuân Lộc (Hoàng
Đình Quang)…
Điểm qua một loạt các nhà văn và các sáng tác, có thể thấy đời sống văn học nghệ
thuật sau 1975 đã mang một luồng sinh khí mới. Sự thay đổi cơ bản nhìn chung trong các
tác phẩm là ở hai điểm chính:
Chất độc da cam là một ví dụ. Chưa hết. Số đạn bom chưa nổ vẫn còn hiện hữu trong lòng
đất và thi thoảng vẫn còn cướp đi mạng sống của nhiều người. Hằng ngày, trên làn sóng
điện vẫn liên tục phát đi bản tin kiếm tìm thân nhân và hài cốt của những người đã ngã
xuống. Những người đàn bà già cả vẫn gìn giữ, nuôi nấng niềm hi vọng mong manh là
chồng, con của họ sẽ trở về. Nhiều bà mẹ khi chết mà mắt vẫn mở như thể đang chờ ngóng
con mình... và những lễ gọi hồn người chết vẫn còn văng vẳng ở cõi người.”
Đó chính là lý do, mà chiến tranh dù đi qua đã lâu nhưng nó vẫn là đề tài ám ảnh
ngòi bút của Văn Lê. Vì thế tác phẩm nào của Văn Lê cũng viết về chiến tranh. Chiến tranh
ám ảnh nhà văn đến nỗi có người đã nhận định: “Không có chiến tranh, chắc không có nhà
văn Văn Lê!”. Bút danh Văn Lê cũng được lấy từ tên một đồng đội của ông đã hy sinh trong
chiến dịch Mậu Thân là “Văn” đem ghép với họ “Lê” của nhà văn (Lê Chí Thụy), thành cái
tên Văn Lê.
21
Không chỉ dừng ở cảm xúc anh hùng ca và hình tượng người lính lý tưởng. Cũng
không chọn góc nhìn của người lính thời hậu chiến để nhận thức lại như Chu Lai, Bảo Ninh;
Văn Lê chọn điểm nhìn của những người lính đang tham gia trong cuộc chiến khốc liệt để
nói lên tâm tư, tình cảm, suy ngẫm, chiêm nghiệm của họ về sự sống, cái chết và quan niệm
về chiến tranh. Con người khi đứng trước cái chết những suy nghĩ dường như chân thật hơn,
sâu lắng hơn. Là một người lính trong cuộc, lại từng có cơ hội tiếp xúc với nhiều tư liệu lịch
sử dạng tuyệt mật và gần gũi với những nhân vật quan trọng; Văn Lê có được cái nhìn khá
khái quát về cuộc sống, về chiến tranh. Thông qua hệ thống nhân vật người lính đông đảo ở
nhiều cương vị, cấp bậc trong các tác phẩm, Văn Lê khẳng định được một chân lý chiến
tranh luôn là mất mát, đau thương; chiến thắng nào thì cũng phải trả cái giá quá đắt bằng
máu và nước mắt. Ông cũng lý giải phần nào nguồn gốc sức mạnh chính nghĩa của dân tộc.
Khi viết bộ ba tiểu thuyết về sự kiện chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Văn Lê cho biết đó
chính là sức mạnh của tình yêu.
Một số quan niệm của Văn Lê khi viết về chiến tranh:
nói, tìm ra giải pháp để văn học về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng có những
tác phẩm xứng tầm hiện thực; để hình ảnh người chiến sĩ hôm qua và hôm nay xứng tầm với
những hy sinh vô bờ bến của họ. Ngoài việc sáng tác, nghiên cứu, phê bình, các tác phẩm
văn học về đề tài chiến tranh còn được dịch ra nhiều thứ tiếng để có thể đến được với bạn
đọc năm châu.
Trước đây, nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai
đoạn văn nghệ minh họa đã từng lo lắng: “Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam
chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong
nền văn học thế giới – Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm
ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ”. Thật may mắn là sau sự băn khoăn đó của
Nguyễn Minh Châu không lâu, các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng đã đến
được với bạn đọc Pháp, Mỹ, Hàn quốc... đem đến cái nhìn mới mẻ, đúng đắn hơn cho thế
giới về con người và cuộc chiến của Việt Nam. Theo lời mời của Trung tâm nghiên cứu về
cựu binh trong chiến tranh Việt Nam (William Joiner Center) từ ngày 26/05/1995 đến
17/07/1995, đoàn nhà văn Việt Nam trong đó có Văn Lê đã có mặt ở Mỹ. Các nhà văn Mỹ
tham dự hội thảo này đều là các nhà văn nổi tiếng. Có sách bán chạy và đều kinh qua chiến
tranh. Họ đều viết về thân phận người lính trong chiến tranh và tính nhân bản chống chiến
tranh của con người. Bàn luận đến cách viết về chiến tranh, có người cho rằng: “Viết về
chiến tranh là viết những gì anh thấy, anh nghĩ và viết về những gì thuộc về tính hướng
thiện của con người”. Khi nêu cảm nhận về văn học chiến tranh Việt Nam, họ nhận xét:
“Văn học Việt Nam sống động, nhiều hình tượng và rất nhân bản”. Nhiều người Mỹ thích
đọc các tác phẩm văn học Việt Nam để hiểu thêm về con người và cuộc chiến tranh của Việt
Nam. Nhưng tác phẩm Việt Nam xuất bản ở Mỹ không nhiều. Tham dự hội thảo này, ngoài
23