đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết chúa trời của những chuyện vụn vặt của arundhati roy - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
----------

Ngô Thị Thu Ngọc

ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
CHÚA TRỜI CỦA NHỮNG CHUYỆN VỤN VẶT
CỦA ARUNDHATI ROY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
----------

Ngô Thị Thu Ngọc

ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
CHÚA TRỜI CỦA NHỮNG CHUYỆN VỤN VẶT
CỦA ARUNDHATI ROY
Chuyên ngành: Văn học Nước ngoài
Mã số: 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Lời cam đoan
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 2
Chương một: ARUNDHATI ROY VỚI DÒNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI ẤN ĐỘ
VIẾT BẰNG TIẾNG ANH .................................................................................................. 15
1.1. Con đường đến với văn chương của Arundhati Roy ................................................. 15
1.1.1. Bối cảnh xã hội Ấn Độ ....................................................................................... 15
1.1.2. Arundhati Roy – thân thế và sự nghiệp .............................................................. 19
1.2. Tiểu thuyết Ấn Độ đương đại viết bằng tiếng Anh ................................................... 25
1.2.1. Tiếng Anh trong văn học Ấn Độ đương đại ....................................................... 25
1.2.2. Sự ảnh hưởng và tiếp nhận của dòng văn học Ấn Độ viết bằng tiếng Anh ........ 26
1.2.3. Tiểu thuyết đầu tay “Chúa Trời của những chuyện vụn vặt” của Arundhati
Roy ................................................................................................................................ 32
Chương hai: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG CHÚA TRỜI CỦA NHỮNG
CHUYỆN VỤN VẶT CỦA ARUNDHATI ROY .................................................................. 41
2.1. Mối liên hệ giữa ba thế hệ trong gia đình theo trục dọc (trực hệ) ............................. 42
2.1.1. Pappachi và Mammachi – Thế hệ thứ nhất ......................................................... 43
2.1.2. Ammu và Baba – Thế hệ thứ hai ........................................................................ 48
2.1.3. Estha và Rahel – Thế hệ thứ ba .......................................................................... 56
2.2. Mối liên hệ giữa ba thế hệ trong gia đình theo trục ngang (bàng hệ) ........................ 62
2.2.1. Baby Kochamma – Thế hệ thứ nhất ...................................................................62
2.2.2. Chacko – Thế hệ thứ hai ..................................................................................... 64
2.2.3. Sophie Mol – Thế hệ thứ ba................................................................................ 66
2.3. Mối quan hệ thuận nghịch trong gia đình .................................................................. 68


2.3.1. Mối quan hệ thuận ............................................................................................. 68



2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Ấn Độ trên văn đàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã
được khẳng định từ lâu bởi sự độc đáo, đa dạng, phong phú mà thống nhất. Từ
những tác phẩm văn học cổ điển: thần thoại (Veda), sử thi (Ramayana,
Mahabharata), truyện ngụ ngôn (Panchatantra), kịch thơ (Shakuntala) đến thơ
ca trung đại với các tên tuổi như Tunxi Đat, Chanđi Đat,… và đặc biệt là R.
Tagore – người đạt giải Nobel năm 1913, đã làm rạng danh nền văn học Ấn Độ
hiện đại… Sau Tagore, văn học Ấn (chủ yếu là tiểu thuyết) tiếp tục được dịch
khá đều đặn ở Việt Nam như: Godan; Đây, tổ quốc tôi (Prem Chand), Trên lưng
cọp (B. Bhattacharya), Hai lá một búp (Mulk RajAnand), Thất bại (Krisan),
Người dẫn đường (R.K. Narayan), Sông Hằng mẹ của tôi (B.P. Gupta) ,
Samsakara (Anantha Murthi), Mùa tôm (Thakagi Pillai),… Song, xét về tầm
vóc, văn học Ấn Độ đến với Việt Nam còn chậm và chưa thỏa mãn hết lòng
mong muốn của bạn đọc.
Những thập niên đầu thế kỉ XX, nền văn học Ấn Độ đương đại với tên tuổi
của những nhà văn trẻ đã tạo dư chấn trên văn đàn thế giới. Cứ khoảng mười đầu
sách được bán ra thì có bốn cuốn là của các tác giả người Ấn. Điều này chứng tỏ
người đọc đang ngày càng có xu hướng tìm đến các nhà văn Ấn, các tác phẩm
văn học Ấn đương đại. Ở Việt Nam, các tác phẩm văn học Ấn Độ đương đại viết
bằng tiếng Anh đã được dịch và giới thiệu bao gồm: Chúa Trời của những
chuyện vụn vặt (Arundhati Roy), Triệu phú khu ổ chuột (Vikas Swarup), Cọp
Trắng (Aravind Adiga), Haroun và Biển Truyện (Salman Rushdie), Di sản của
mất mát (Kiran Desai),… Có thể nói, dòng văn học Ấn viết bằng tiếng Anh đang
thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc.
Trong số các tác phẩm thuộc dòng văn học Ấn đương đại viết bằng tiếng


trật từ nào và cũng không tìm được mối liên hệ nào giữa chúng. Các nhân vật lần
lượt xuất hiện, không được giới thiệu gì về lai lịch, gốc gác... Người đọc tự hỏi: Điều cuốn hút đang ẩn chứa đằng sau “mớ bòng bong” này là gì?
Khi trang cuối cùng của cuốn sách khép lại thì “những điều ẩn nấp” trong
tác phẩm vỡ ra, những điều lớn lao ẩn chứa sau vô vàn điều nhỏ nhặt (Chúng tôi
sẽ đề cập ở các chương chính của luận văn). Câu chuyện về đất nước Ấn Độ thời
hậu thuộc địa những năm 90 của thế kỉ XX với những luật lệ, hủ tục đè nặng
phận người khốn khó (nạn phân biệt đẳng cấp, giới tính, tôn giáo...). Những điều


4

này không mới nhưng đã thu hút người đọc qua cách kể chuyện của nhà văn.
Chúa Trời của những chuyện vụn vặt thể hiện tài năng và hơn hết là tâm hồn
nhạy cảm, tinh tế của Arundhati Roy khi tái hiện câu chuyện về một gia đình
trung lưu ở Ayemenem, một vùng nông thôn Ấn Độ. Tác phẩm cho thấy điểm
nổi bật trong câu chuyện không chỉ ở những bi kịch mà ở cách phản ứng của các
thành viên trong gia đình trước những bi kịch ấy.
Tìm hiểu việc tiếp nhận tác phẩm của A. Roy ở Việt Nam, chúng tôi nhận

3)

thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết đương đại Ấn Độ.
Vì vậy, với đề tài nghiên cứu: Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Chúa
Trời của những chuyện vụn vặt của Arundhati Roy, chúng tôi hi vọng
góp phần giới thiệu tác phẩm A. Roy với độc giả Việt Nam và hướng tiếp
cận một phong cách sáng tác mới lạ của một đại diện tiêu biểu cho dòng
văn học Ấn đương đại viết bằng tiếng Anh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Arundhati Roy – nhà văn nữ Ấn Độ đầu tiên giành được Giải Man Booker

- Bài “Văn học Ấn Độ - Trên đường chinh phục thế giới” từ nguồn:
L'Express do Hoài Khanh ghi lại.
- Bài “12 tiểu thuyết Ấn hay nhất viết bằng tiếng Anh” do Hà Linh ghi
nhận từ nguồn Outlookindia.
Trong nhóm bài giới thiệu chung này, tác giả các bài viết thường bắt đầu
bằng việc khẳng định vị trí tiểu thuyết Chúa Trời của những chuyện vụn vặt của
Arundhati Roy trên văn đàn thế giới nói chung và trong dòng văn học Ấn đương
đại viết bằng tiếng Anh nói riêng. Nhìn chung, tác giả các bài viết đều thể hiện
lòng yêu mến và đánh giá cao quyển tiểu thuyết này. Đó là những nhận định của
PGS.TS. Lưu Phan Thu Hiền: “Chúa trời của những chuyện vụn vặt là một sự
kiện của văn chương đương đại Ấn Độ”; của Hoài Khanh: “Từ Salman Rushdie

Bên cạnh những nhận xét xác đáng, chúng tôi nhận thấy có nhiều thông tin không chính
xác trong bài viết của tác giả Đào Trung Đạo. Ví dụ như: Arundhati Roy đạt Giải Man
Booker năm 1998 (đúng phải là năm 1997); Rahel và Estha xa nhau sau 25 năm thì gặp lại
(đúng chỉ là 23 năm); tên các nhân vật;…
1


6

đến Arundhati Roy, qua V. S. Naipaul, những nhà văn Ấn Độ nổi tiếng đã chinh
phục hầu hết những độc giả Anh ngữ trên thế giới”…
Những bài giới thiệu về Arundhati Roy, tùy tính chất của mỗi bài viết mà
A. Roy được giới thiệu nhiều hoặc ít. Trong số các bài viết kể trên, bài của Trần
Doãn Nho cung cấp thông tin về cuộc đời A. Roy chi tiết hơn cả. Trần Doãn Nho
đề cập nhiều đến con đường hoạt động chính trị, xã hội, đến một số sự kiện quan
trọng trong cuộc đời và cảm hứng sáng tác của A. Roy, đồng thời bày tỏ niềm
yêu thích, sự mến mộ với A. Roy trong tư cách nhà văn hơn là nhà hoạt động
chính trị, xã hội. Tuy nhiên, phần tư liệu về Arundhati Roy từ những bài viết nêu

tự sự rời rạc, trộn lẫn quá khứ với hiện tại, “giống như A. Roy đã viết từng
chương rời rạc, tất cả là 21 chương, rồi sau đó ghép chúng lại”. Những ý kiến,
nhận định này đã gợi mở nhiều cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận tác phẩm
từ phương diện nghệ thuật.
(1) Nghiên cứu về tác phẩm:
Bài viết “Vài nét về thi pháp tiểu thuyết Chúa Trời của những chuyện
vụn vặt”: Trong bài viết này, từ góc độ thi pháp, ThS. Vũ Thị Thu Hương đã
chọn hướng tiếp cận tác phẩm ở hai phương diện không gian nghệ thuật và thời
gian nghệ thuật. Trong phần không gian nghệ thuật, tác giả tập trung vào không
gian thiên nhiên (không gian dòng sông, không gian mưa), không gian gia đình
và không gian đất nước Ấn Độ nói chung. Phần thời gian nghệ thuật, tác giả
khảo sát trình tự thời gian và chọn thời điểm ban đêm là trọng tâm, đồng thời chú
ý tới nhịp độ thời gian của tác phẩm. Bài viết còn chú ý đến cách lặp đi lặp lại
một khoảnh khắc, một ngày, một thời điểm với biết bao sự kiện dồn dập… Qua
hướng tiếp cận này, bài viết khẳng định tài năng và cá tính sáng tạo độc đáo của
A. Roy.
Bài viết “Hình ảnh người phụ nữ trong tiểu thuyết Chúa Trời của
những chuyện vụn vặt” mở đầu bằng sự khái quát bối cảnh lịch sử hiện đại Ấn
Độ, thực trạng bất công đối với phụ nữ Ấn, vai trò của phụ nữ trong xã hội Ấn
Độ từ trước đến nay... Bằng việc vận dụng “quan điểm về giới trong mối quan hệ


8

quốc gia và quốc tế”, tác giả viết: “Vấn đề phụ nữ được đưa vào tác phẩm như
một niềm khao khát sau thời thuộc địa”. Qua phần tóm tắt ngắn gọn cốt truyện
dựa theo nhân vật chính Rahel, tác giả nói đến “sự thiếu an toàn của xã hội”
dành cho những đứa trẻ, về lịch sử Ấn Độ hậu thuộc địa. Đó là những “di
chứng” của chủ nghĩa thực dân thông qua hình tượng ẩn dụ về “Ngôi nhà lịch
sử”. Sự mục ruỗng của “Ngôi nhà lịch sử” có mối quan hệ chặt chẽ với sự chết

và nghệ thuật của tác phẩm.
- Bài “Arundhati Roy's The God of Small Things: 'Real' Possibilities in
Postcolonial Literature” (Tạm dịch: Chúa Trời của những chuyện vụn vặt của
Arundhati Roy: Yếu tố “thực” trong văn chương hậu thuộc địa) viết: “Cho đến
nay Chúa Trời của những chuyện vụn vặt đã bán được 6.000.000 bản”. Chúa
Trời của Những Chuyện Vụn vặt có mặt trong top 100 tiểu thuyết được yêu thích
nhất tại Anh và được nêu lên như một hiện tượng đặc biệt của văn chương hậu
thuộc địa. Bài viết của Frederick Luis Aldama cũng tìm hiểu tác phẩm ở nhiều
phương diện như: nội dung đề tài, ngôn ngữ, văn phong,… và chú ý nhiều đến
chất văn chương, yếu tố chính trị trong tác phẩm.
- Tiến sĩ M. Lal Goel ở Đại học West Florida (1999) đọc quyển tiểu thuyết
của A. Roy hai lần (lần đầu để nắm cốt truyện, lần sau để thưởng thức nghệ thuật
của nó). Ông bảo bản thân ông bị cuốn hút bởi văn phong của A. Roy: câu văn
ngắn gọn, sắc bén; thành ngữ mới lạ, ấn tượng; nhiều cụm từ hay: “Lịch sử của
pháp luật”, “luật yêu đương”, “mọi thứ có thể thay đổi trong một ngày”… Từ đó,
ông bày tỏ niềm yêu thích trước khả năng tưởng tượng của A. Roy khi miêu tả
nhân vật, không gian, sự kiện… trong tiểu thuyết.
- Trong bài “Arundhati Roy: The God of Small Things Study Guide”,
tác giả Paul Brians trình bày hai phần. Phần đầu nêu ngắn gọn những nhận định
chung về tiểu thuyết của A. Roy: “A. Roy chịu ảnh hưởng của Salman Rushdie”.
Ông cũng chop rằng nét độc đáo nhất trong tiểu thuyết của A. Roy là sự thâm
nhập vào suy nghĩ của trẻ thơ một cách khách quan với những đam mê cuồng
Trên thế giới xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Chúa Trời của
những chuyện vụn vặt của A. Roy cũng như về bản thân nhà văn. Tuy nhiên, trong phần
này, chúng tôi chỉ xin tổng hợp lại những tư liệu phù hợp với khả năng tiếp nhận của bản
thân người viết cũng như phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn.
3


10


11

phỏng vấn Arundhati Roy”); của Alok Rai trên The Sunday Review of The Times
of Indian; của Đài BBC; và những trao đổi của A. Roy với công chúng… Tựu
trung, các bài viết này chỉ mới dừng lại ở những nhận định mang tính khái quát.
Từ sự thống kê những đánh giá ban đầu về tình hình nghiên cứu tác phẩm ở
Việt Nam, ở Ấn Độ và nước ngoài, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết Chúa Trời
của những chuyện vụn vặt của Arundhati Roy đã nhận được sự quan tâm sâu
rộng của các nhà nghiên cứu. Những vấn đề được bàn luận khá phong phú cả về
nội dung, tư tưởng, nghệ thuật lẫn các vấn đề văn hóa, chính trị… Đây là những
tư liệu tham khảo cần thiết đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận
văn của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khái niệm đặc trưng nghệ thuật của đề tài trong luận văn được chúng tôi
hiểu là những sáng tạo nghệ thuật mang tính hệ thống trong tiểu thuyết của A.
Roy, những dấu hiệu mà khi liên hợp lại sẽ thể hiện được phong cách của A.
Roy với các tác giả văn học Ấn đương đại viết bằng tiếng Anh khác. Đặc trưng
nghệ thuật Chúa Trời của những chuyện vụn vặt được chúng tôi tiếp cận ở dấu
ấn nghệ thuật, ở phong cách của A. Roy qua ngôn ngữ, bút pháp, hình tượng
nhân vật,… trong tác phẩm. Với đề tài “Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết
Chúa Trời của những chuyện vụn vặt của Arundhati Roy”, chúng tôi tập
trung tìm hiểu hai phương diện: hình tượng nhân vật và nghệ thuật kể chuyện
của A. Roy để lí giải về những thành công của tác phẩm qua các giải thưởng
được trao tặng và vị trí của tác giả, tác phẩm trong dòng văn học Ấn đương đại
viết bằng tiếng Anh, từ đó khẳng định sự độc đáo của tác phẩm này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Cho đến thời điểm này, Arundhati Roy mới chỉ viết duy nhất tiểu thuyết
The God of Small Things. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận với bản


Điều này gợi mở một đề tài nghiên cứu thú vị về tác phẩm khi chúng tôi có thể phát triển
khả năng ngôn ngữ của mình sau này.
4


13

- Phương pháp hệ thống: chúng tôi đặt tác phẩm Chúa Trời của những
chuyện vụn vặt trong dòng chảy của nền văn học Ấn Độ đương đại, với một số
tác phẩm văn học Ấn viết bằng tiếng Anh.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm ba phần: mở đầu, ba chương chính và kết luận.
Phần mở đầu của luận văn gồm có sáu mục: Lí do chọn đề tài, Lịch sử
nghiên cứu vấn đề, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu,
Bố cục luận văn và Đóng góp của luận văn.
Ba chương chính của luận văn gồm:
- Chương một (27 trang): Arundhati Roy với dòng văn học Ấn Độ
đương đại viết bằng tiếng Anh. Trong chương này, chúng tôi giới
thiệu khái quát về con người, sự nghiệp của Arundhati Roy và quá
trình phát triển của dòng văn học Ấn Độ đương đại viết bằng tiếng
Anh.
- Chương hai (37 trang): Hình tượng nhân vật trong Chúa Trời của
những chuyện vụn vặt. Chương này phân tích nghệ thuật xây dựng
hình tượng nhân vật của tác giả qua mối quan hệ ràng buộc giữa các
thế hệ trong một dòng họ với cách phân chia theo trực hệ và bàng hệ,
để từ đó chỉ ra mối liên kết giữa các thế hệ trong tác phẩm dựa trên
mối quan hệ huyết thống và mối quan hệ xã hội.
- Chương ba (37 trang): Nghệ thuật kể chuyện trong Chúa Trời của
những chuyện vụn vặt. Nghệ thuật kể chuyện là một vấn đề lớn nên

Ấn Độ được ví như một cô gái đẹp, mình quấn hai dải “đăng ten” (sông
Ấn và sông Hằng), đầu đội mũ tuyết (núi Himalaya), chân vô tư nghịch nước
biển Ấn Độ Dương. Nhưng vẻ đẹp hồn nhiên, dịu dàng này đã trải qua không ít
thăng trầm. Trong phạm vi cho phép, chúng tôi chỉ đề cập những vấn đề liên
quan đến xã hội Ấn từ sau ngày độc lập đến cuối thế kỉ XX với sự phát triển
vượt bậc về mọi mặt cũng như vô vàn những khó khăn, thử thách liên quan đến
A. Roy và tác phẩm của bà.
Sau khi giành lại được nền độc lập từ tay thực dân Anh năm 1947, Ấn
Độ bị phân chia thành Liên bang Ấn Độ và Lãnh thổ tự trị Pakistan. Quá trình
dẫn đến chia cắt bắt nguồn từ hàng loạt những sự kiện mang tính chính trị chứ
không đơn giản chỉ vì sự mâu thuẫn của hai tôn giáo (Hindu giáo và Hồi giáo).
Bởi dù có những khác biệt đến mức không thể cùng tồn tại nhưng hai cộng
đồng người này đã chung sống hòa bình trong một giai đoạn lịch sử l âu dài.
Sự chia cắt ấy cũng không hoàn toàn chỉ do thực dân Anh thực hiện mưu đồ
chia rẽ. Vì từ cuối những năm 30 trở đi, sự tác động và ảnh hưởng của Anh ở
Ấn Độ đã không còn mạnh mẽ. Có thể thấy, việc chia cắt còn diễn ra dưới tác
động của các nhân vật, sự kiện lịch sử và các hội nghị, các cuộc đàm phán,
thương lượng giữa ba bên: thực dân Anh, Đảng Quốc Đại Ấn Độ và Liên đoàn
Hồi giáo, với các nhân vật mang tầm ảnh hưởng như M. Gandhi, J. Nehru,


16

M.A. Jinna… nhất là trong thập niên cuối (1937 - 1947).
Việc chia cắt đất nước là một tai họa giáng xuống đầu quần chúng nhân
dân. Từ những mầm mống xung đột nhỏ lẻ, nhưng do tác động về mặt tư
tưởng và quan điểm của giới lãnh đạo đã dẫn đến xung đột về mọi mặt. Biết
bao cuộc xung đột đẫm máu được qui về một nguyên nhân duy nhất là do xung
đột tôn giáo. Trong cuộc bầu cử đầu tiên của Ấn Độ sau chia cắt năm 1952,
mọi người nhận ra rằng: Cái giá của tự do là chia cắt đất nước. Đảng Quốc Đại

Đáng nói hơn, dù đất nước đã độc lập, tư tưởng tự do, dân chủ đã được
khai mở nhưng tư tưởng quốc gia hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, những thành
kiến về đẳng cấp, tôn giáo, những tư tưởng phong kiến bảo thủ… vẫn tồn tại ở
Ấn Độ. Và dù Hiến pháp đã qui định cấm phân biệt đẳng cấp nhưng hệ thống
đẳng cấp vẫn tồn tại một cách ngấm ngầm, nhất là ở các vùng nông thôn xa xôi
của Ấn Độ. Vì những điều này mà đa số người dân Ấn luôn tuyệt đối phục tùng
hoàn cảnh và số phận.
Bằng nền tảng cộng hòa cùng với tinh thần làm việc chăm chỉ, sự kiên trì
trau dồi tri thức và khả năng sáng tạo của người dân, Ấn Độ đã nhanh chóng
khắc phục những khó khăn về kinh tế: “nghèo nàn, lạc hậu, bị suy kiệt bởi các
cuộc cướp bóc, khai thác và thuộc địa hóa”. Tuy nhiên, vẫn còn không ít những
vấn đề nan giải như: mức độ phân hóa giàu nghèo ngày càng cao ở các thành phố
lớn; những hủ tục, những định kiến về đẳng cấp và xung đột tôn giáo vẫn ngấm
ngầm… Mong muốn đạt được sự phát triển toàn diện và đồng bộ, Ấn Độ sẽ phải
nỗ lực nhiều hơn nữa trong mọi phương diện. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian.
1.1.1.2. Bức tranh văn hóa đa dạng, thống nhất
Là một quốc gia đa sắc tộc, đa ngôn ngữ với nền văn hóa cổ xưa, trường
tồn và thăng trầm qua các thời kì lịch sử, Ấn Độ đã để lại một di sản văn hóa
đậm màu sắc tôn giáo. Những cuộc xâm lược và sự cai trị những ách áp bức của
các tộc người Hy Lạp, người Hồi giáo và thực dân phương Tây sau này đã không
hủy diệt được mà còn hòa tan vào dòng chảy của văn hóa truyền thống Ấn Độ.
Có thể nói, nét độc đáo của văn hóa Ấn Độ là khả năng hấp thụ và tồn tại cùng


18

lúc nhiều nền văn hóa khác nhau. Cả yếu tố bản địa lẫn yếu tố du nhập đều tự
thích nghi để tồn tại.
Đằng sau dáng vẻ hiện đại, vẫn là một Ấn Độ quyến rũ, huyền bí và thâm
trầm, một Ấn Độ luôn tôn trọng những giá trị tâm linh, luôn suy ngẫm, chiêm

Độ”, “cá tính Ấn Độ”, “tinh thần Ấn Độ”.
Trong nền văn hóa ấy, văn học Ấn Độ được xem là đại diện tiêu biểu
chứng minh cho khả năng bảo tồn bản sắc dân tộc. Chúng tôi tìm thấy điều này ở
các nhà văn trẻ của dòng văn học Ấn Độ đương đại viết bằng tiếng Anh. Trong
phần tiếp theo, chúng tôi muốn đề cập đến một nhà văn nữ, Arundhati Roy.
1.1.2. Arundhati Roy – thân thế và sự nghiệp
1.1.2.1. Đứa con của Thiên Chúa giáo và Hindu giáo
Arundhati Roy (tên đầy đủ là Suzanna Arundhati Roy) sinh ngày 24 tháng
11 năm 1961 tại Bengal, vùng Đông Bắc Ấn. Mẹ A. Roy (bà Mary Roy) là người
theo Thiên Chúa giáo nhưng cha, một chuyên viên trồng trà, lại là người theo
Hindu giáo. Theo quan niệm của đại đa số người Ấn, hôn nhân là “sự hợp nhất
đã được thánh hóa, làm cho việc li hôn trở thành một điều không thể nghĩ đến
trong truyền thống” [50, tr.96]. Chính vì điều này mà từ xa xưa, biết bao luật lệ
đã trói buộc người phụ nữ vào bổn phận làm con, làm vợ và cả làm mẹ. Cuộc
hôn nhân của bố mẹ A. Roy có sự kết hợp của hai tôn giáo. Người cha theo
Hindu giáo từ lâu vẫn quen với nếp nghĩ vợ là người chịu đựng và phục tùng
tuyệt đối. Nhưng mẹ A. Roy lại thuộc lớp phụ nữ mới – một giáo viên, một
người hoạt động xã hội vì sự bình đẳng giới. Cả cuộc đời, Mary Roy luôn kiên
quyết, bền bỉ đấu tranh cho quyền thừa kế của những phụ nữ Thiên Chúa giáo ở
Kerala. Ngày nay, ở Kerala, phụ nữ ngày càng được tự do và bình đẳng hơn.
Mary sáng lập ngôi trường (Corpus Christi) độc lập với chính quyền địa phương
để giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần tự do, dân chủ, không câu nệ vào
những điều cấm kị của tôn giáo hay văn hóa truyền thống. Cuộc hôn nhân của
Mary Roy đổ vỡ là do sự khác biệt quá lớn trong tư tưởng của hai vợ chồng. Sau


20

khi cha mẹ li hôn, Arundhati Roy sống với mẹ ở vùng Ayamanam 5 tỉnh Kerala.
A. Roy được mẹ dạy học tại nhà, đến 10 tuổi mới bắt đầu đến trường như những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status