Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn lào suvănthon bupphanuvông(thông tin đưa lên website) - Pdf 22



1.1. Việt Nam và Lào, hai nước liền kề nhau trên bán đảo Đông
Dương, có nhiều mối quan hệ với nhau trong lịch sử. Tuy vậy,
nghiên cứu văn học Lào, nhất là văn học hiện đại Lào ở Việt Nam và
ở các nước khác trên thế giới hãy còn ít ỏi. Diện mạo văn học hiện
đại Lào chưa được các nhà khoa học Việt Nam đi sâu nghiên cứu,
giới thiệu, đặc biệt là còn vắng bóng nhiều chuyên khảo về tác giả,
tác phẩm, các khuynh hướng, trào lưu văn học của thời kì hiện đại.
Từ thực tế đó của ngành nghiên cứu văn học của Việt Nam, chúng
tôi mạnh dạn chọn các sáng tác tiểu thuyết của Suvănthon
Bupphanuvông - một cây bút văn xuôi sung sức để nghiên cứu, nhằm
làm sáng tỏ những bình diện lí luận tiểu thuyết, những đặc trưng
nghệ thuật viết tiểu thuyết của Suvănthon, góp phần nhận diện rõ hơn
nền văn xuôi hiện đại cách mạng Lào.
1.2. Tiểu thuyết hiện đại Lào chính thức ra đời năm 1968 với tác
phẩm đầu tay Sỉ nọi (Bé Sỉ) của nhà văn Khămliêng Phônsêna. Có
thể nói Khămliêng Phônsêna là nhà văn có vai trò đặt nền móng cho
sự ra đời của thể loại tiểu thuyết ở Lào. Tuy vậy, người có vai trò
trong việc xây dựng và phát triển nền tiểu thuyết hiện đại Lào lại
chính là nhà văn Suvănthon. Ông là một cây bút viết khá sung sức và
thành công trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Vì vậy, việc
nghiên cứu tiểu thuyết của Suvănthon là rất cần thiết.
1.3. . Một trong những yếu tố khẳng định tài năng và phong cách
của nhà văn Suvănthon chính là những đặc trưng nghệ thuật tiểu
thuyết với những phương thức và cách thức tổ chức độc đáo mang
đặc trưng văn hóa lối sống của dân tộc Lào. Vì vậy, việc nghiên cứu
đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết của ông qua các bình diện nghệ
thuật cụ thể trong các sáng tác là việc làm cần thiết, để qua đó, người
đọc không chỉ thấy được những nét riêng trong nghệ thuật tiểu thuyết
của ông, những giá trị tư tưởng được nhà văn phản ánh trong tác

$"
 Luận án sẽ tập trung nghiên cứu ở ba bình diện chủ yếu
trong nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn Suvănthon gồm: Đặc trưng
nghệ thuật tổ chức nhân vật và sự kiện; Đặc trưng không gian và thời
gian nghệ thuật; Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật và các phương thức
trần thuật.
($)*+,+
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử
dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp tiếp cận thi
pháp học, Phương pháp loại hình, Phương pháp nghiên cứu liên
ngành, Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm nổi bật
đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn Suvănthon.
-..+!/0,
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về đặc trưng
nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn Suvănthon Bupphanuvông
- Luận án là công trình đầu tiên làm rõ điểm thống nhất trong nghệ
thuật tiểu thuyết của Suvănthon chính là khả năng phản ánh và khái
quát sâu rộng mang tầm vóc sử thi trên tất cả các phương diện (nhân
vật, sự kiện, không gian, thời gian, điểm nhìn ) và khả năng kết
2
hợp khéo léo các giá trị truyền thống - hiện đại trong cách tổ chức tác
phẩm và sử dụng ngôn ngữ tiểu thuyết.
- Luận án đã chỉ ra được nét đặc trưng cơ bản về nội dung và thi
pháp thể loại tiểu thuyết Lào là sự ảnh hưởng khá sâu đậm các giá trị
của nền văn học truyền thống và các giá trị tư tưởng của văn hóa
Phật giáo.
- Luận án đóng góp một cái nhìn cụ thể, toàn diện và có hệ thống về
các phương diện nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn Suvănthon qua
sự liên hệ so sánh với các tiểu thuyết của các nhà văn cùng thời ở
Lào. Qua đó, công trình góp phần khẳng định tài năng, phong cách

nội tại, từ nhu cầu phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc,
hoàn toàn chưa được chuẩn bị trước về mặt lí thuyết hoặc ít chịu ảnh
hưởng của các yếu tố từ bên ngoài.
Mặc dù, vào đầu những năm 60 của thế kỉ XX, những tiền đề lí
luận văn học nghệ thuật Mác – Lênin bắt đầu được phổ biến trong
vùng giải phóng, nhưng chỉ trong một chừng mực nhất định, các nội
dung của khái niệm chưa được giải thích sâu, còn đơn giản và sơ
lược. Tuy vậy, Từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương
được kí kết, lực lượng cách mạng Lào tập trung ở hai tỉnh Sầm Nưa
và Phông Sa Lì, tựa lưng vào miền Bắc Việt Nam và Trung quốc,
văn học Lào có điều kiện giao lưu tiếp xúc với văn học các nước láng
giềng, văn học khu vực và trên thế giới. Nhiều học sinh, sinh viên,
cán bộ chiến sĩ từ vùng giải phóng Lào ra nước ngoài đào tạo, học
tập, trao đổi trên nhiều lĩnh vực khoa học, giáo dục, văn hóa, chính
trị đã trở thành cầu nối để một số tác phẩm tiêu biểu của văn học
thế giới được phổ biến ở Lào như Người mẹ (M. Gorki), Thép đã tôi
thế đấy (N.A Ôtrôpxki), Những người khốn khổ (Vichto Huygô),
Eugénie Grandet (H. Balzac), Cái sân gạch (Đào Vũ) Và điều đặc
biệt, phần lớn trong số họ, khi trở về nước đều trở thành những nhà
văn chiến sĩ vừa cầm súng vừa cầm bút.
Đến cuối những năm 60 của thế kỉ XX, trong không khí toàn
quân toàn dân, một lòng nhất tề đứng lên chống lại những âm mưu
tàn bạo của đế quốc Mỹ, với biết bao sự kiện lịch sử đi qua và biết
bao tấm gương anh dũng kiên cường đã ngã xuống, thì văn xuôi trở
thành thể loại phù hợp hơn thơ ca bởi nó có khả năng ghi nhận hết
thảy các sự cố, có thể miêu tả các sự kiện lịch sử một cách tỉ mỉ và
nó có thể dung nạp nhiều tình tiết, nhiều biến cố, nhiều cuộc đời với
nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau vào trong một chỉnh thể nghệ
thuật (nhất là tiểu thuyết). Vì vậy, năm 1965, truyện ngắn Lào chính
thức ra đời, đến năm 1968, tiểu thuyết hiện đại Lào cũng bắt đầu

trọng đại trong thời gian và không gian rộng lớn, kéo dài với nhiều
số phận, cảnh đời đan xen. Tác phẩm do đó cùng một lúc phản ánh
nhiều đề tài; nhiều chủ đề, tư tưởng hàm chứa trong một chỉnh thể
nghệ thuật nhất định.
Tuy vậy, khi khai thác những mảng hiện thực của đời sống,
tiểu thuyết Lào vẫn dựa chủ yếu vào các quan niệm truyền thống. Cái
triết lí dân gian thiện thắng ác, hiền gặp lành … đối với các hiện
tượng đời sống trong sự đối sánh, tương phản, đã hạn chế quá trình
nhận thức, phản ánh hiện thực. Hiện thực được nhận thức, phản ánh
còn đơn giản, chưa thấy được sự đa dạng phức tạp muôn hình muôn
vẻ của nó.
Về phương diện kết cấu tác phẩm. Người dân Lào thường có
thói quen thích nhập tâm văn nói hơn văn viết. Vả lại, với hệ tư
tưởng đạo Phật, sống ngay thẳng, thật thà, hòa đồng bác ái nên lối kể
chuyện quanh co phức tạp, đảo lộn thời gian, miêu tả nhân vật ở
chiều sâu nội tâm thường chưa hợp với số đông độc giả. Bởi vậy,
thời gian trong tiểu thuyết Lào thường là thời gian vật lí đơn chiều,
kiểu kết cấu thời gian tâm lí đa chiều vẫn còn mới mẻ. Hầu hết các
tiểu thuyết Lào đều có một kết thúc viên mãn theo kiểu kết thúc của
5
các truyện cổ dân gian (thường là thiện thắng ác, chính thắng tà, ly
tán sẽ đoàn tụ…)
Nhiều tiểu thuyết Lào không tạo được một kết cấu chặt chẽ,
bởi cốt truyện lỏng lẻo, yếu tố ngẫu nhiên, bàn tay sắp đặt của tác giả
xuất hiện can thiệp quá nhiều vào quá trình phát triển cốt truyện. Tuy
vậy, từ sau năm 1975, tiểu thuyết Lào bắt đầu có kết cấu chặt chẽ
hơn, quy mô hơn, một số tác phẩm đã xây dựng được một cốt truyện
kết hợp được cả hai yếu tố truyền thống và cách tân, sự kiện và tâm
lí.
Về nhân vật tiểu thuyết.Văn xuôi hiện đại Lào nói chung và

mạng và những ước mơ về tương lai tươi sáng của Tổ quốc. Chính
điều này đã chi phối đặc trưng thi pháp thể loại.
Sự tổng hợp giữa tính lí tưởng và tính hiện thực. Tiểu thuyết
Lào ra đời trong môi trường văn học dân gian là chủ yếu, một nền
văn học coi trọng tính lí tưởng, coi trọng đời sống tinh thần, coi trọng
những quan hệ cộng đồng. Những lí tưởng cao đẹp trong quá khứ,
vừa có cơ sở vững chắc trong quần chúng lao động nghèo khổ và yêu
nước, trong các chùa chiền, vừa chưa bị chủ nghĩa cá nhân tư bản
làm mai một đã được người anh hùng mới hiện nay tiếp thu và nâng
cao trên cơ sở một thế giới quan mới, thế giới quan Mácxít. Hai cuộc
kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc đã đưa lí tưởng
yêu nước của dân tộc lên một tầm cao mới. Ngoài ra, trong quan
điểm chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về văn học nghệ
thuật, cũng đề cao tính lí tưởng, chú trọng chức năng giáo dục của
văn nghệ, vai trò và trách nhiệm của người cầm bút.
Từ những lí do trên, từ sau khi ra đời, tiểu thuyết Lào đã đốt
lên ngọn lửa sáng trong tâm hồn người đọc, góp phần giáo dục chủ
nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo cho quần chúng. Là tiếng nói
đáp ứng nhu cầu tình cảm, nguyện vọng của toàn thể nhân dân, chiến
sĩ. Nhân vật trong tiểu thuyết do đó phải là những người anh hùng
cách mạng có tinh thần chiến đấu quả cảm, có lí tưởng cách mạng
cao đẹp, là những hình mẫu lí tưởng của thời đại.
Sự tổng hợp giữa chất sử thi, kịch và trữ tình. Tiểu thuyết
hiện đại Lào ra đời trong bối cảnh các nền tiểu thuyết trên thế giới và
trong khu vực đã đạt được những thành tựu to lớn qua nhiều bước
tổng hợp quan trọng về nghệ thuật. Do đó tiểu thuyết Lào không thể
làm lại tất cả những bước mà nền tiểu thuyết thế giới đã đi qua. Nó
chỉ tổng hợp những bước mang tính chất quy luật, không thể bỏ qua
trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm, những bước tổng hợp của tiểu
thuyết thế giới. Sự tổng hợp giữa các yếu tố sử thi – kịch – trữ tình là

thuyết của Suvănthon. Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu của các
học giả đi trước đều là những cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi
triển khai các bình diện lí luận nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn
Suvănthon.
25678 
M2:N68 8 5O:5P::;25C285Q8>P:
>RLSTAO8:NU8 :AV:5WX:2Y=L>Z8:5U8
K3)0[\03EDFG
L%E
$\FG\0]E/)^_`a
Là cách phân tuyến nhân vật dựa trên phương diện tư tưởng,
tức là quan hệ đối với lí tưởng xã hội của nhà văn. Nhân vật được
chia làm hai loại: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện. Nhân
vật chính diện hay còn gọi là nhân vật tích cực, là những nhân vật có
đạo đức, lí tưởng cao đẹp, thể hiện quan điểm tư tưởng tích cực của
nhà văn. Khi nhân vật chính diện mang ý nghĩa chuẩn mực cho cả
một giai cấp, tầng lớp, dân tộc sẽ trở thành nhân vật lí tưởng. Đối lập
với nhân vật chính diện, nhân vật phản diện luôn là đối tượng để nhà
văn gửi gắm trong đó thái độ phê phán, phủ định của mình.
b:FG\0c
8
Trong chiến tranh và trong Công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, những con người được coi là đẹp nhất, là tinh hoa của dân tộc
và thời đại là những chiến sĩ trên trận tuyến, những thanh niên ưu tú
luôn tiên phong trong các phong trào xây dựng cuộc sống mới. Viết
về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội của Lào, Suvănthon đã xây dựng thành công
tuyến nhân vật chính diện là những người anh hùng trên hai mặt trận
ấy.
Tuyến nhân vật chính diện trong tiểu thuyết của Suvănthon

9
Không chỉ được biểu hiện nơi trận tuyến, các nhân vật chính
diện trong tiểu thuyết của Suvănthon luôn tiềm ẩn một khả năng phi
thường trong mọi tình huống, đặc biệt trong những hoàn cảnh bị
động, bị bao vây cô lập nhất thì sức mạnh phi thường của nhân vật
lại được tỏa sáng hơn bao giờ hết.
Miêu tả hành động dũng cảm của các nhân vật, nhà văn đã
chứng minh rằng lí tưởng cách mạng cao cả và lòng căm thù giặc sâu
sắc đã dồn ý chí, sự say mê của những anh hùng tập trung về một
phía và tạo cho họ một sức mạnh phi thường. Nhân vật trong tiểu
thuyết của Suvănthon do đó mang vẻ đẹp lãng mạn cách mạng, một
vẻ đẹp bắt nguồn từ hiện thực, gắn liền chặt chẽ với một cơ sở hiện
thực sâu sắc. Đó là tính chất lãng mạn chân chính không tô vẽ thực
tế, nó gắn liền với việc nhận thức bản chất anh hùng trong cuộc sống,
mô tả cuộc sống trong sự vận động phát triển về tương lai. Bản thân
cuộc sống đặt cơ sở cho tính hiện thực của lí tưởng và lí tưởng soi
sáng cho ý nghĩa của cuộc đấu tranh.
Bằng sự kết hợp giữa hiện thực và lí tưởng, nhà văn xây
dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm như hình tượng người anh
hùng, người làm nên sự tích anh hùng của một tập thể, một dân tộc,
nhân vật mang đặc điểm của thời đại, phản ánh những biến động về
tâm lí con người, những trào lưu chính trị - lịch sử. Ở các nhân vật, lí
tưởng chính trị được chuyển hóa thành những ý thức, tình cảm trong
cuộc sống, là hình tượng con người – công dân, con người – chiến sĩ,
là sản phẩm của một thời kì lịch sử, một nhân vật tư tưởng.
Thể hiện khả năng phi thường của nhân vật, nhà văn muốn
khẳng định sự chiến thắng tất yếu của chính nghĩa, đây cũng là yếu
tố làm nên giá trị nhân đạo trong mỗi tác phẩm của ông.
I)^.jk+E"l+m#\
0

quan và có giá trị hiện thực sâu sắc.
K\03Eno
Phẩm chất của người anh hùng – chiến sĩ trong tiểu thuyết
của Suvănthon thông thường được biểu hiện qua hai mối quan hệ cơ
bản là mối quan hệ giữa người anh hùng với đồng đội và nhân dân và
mối quan hệ giữa người anh hùng với kẻ thù
Trong mối quan hệ với đồng đội và nhân dân, nhân vật luôn
là người có ý thức tập thể, gắn bó mật thiết với quần chúng. Tinh
thần tập thể của người anh hùng được lí giải trong quan niệm phải
sống và chiến đấu vì nhân dân và phải dựa vào dân để sống và chiến
đấu, đó cũng chính là quan niệm đặt lợi ích của cộng đồng dân tộc
lên trên lợi ích cá nhân. Và do đó, nhân vật luôn có một niềm tin
tuyệt đối vào nhân dân và dân tộc, vào sự chiến thắng tất yếu của
chính nghĩa.
Nếu như niềm tin yêu mà nhân vật dành cho đồng đội và
nhân dân càng lớn bao nhiêu thì lòng căm thù của nhân vật đối với
kẻ thù càng lớn bấy nhiêu. Lòng căm thù ấy không chỉ biểu hiện
trong tư tưởng mà nó còn thể hiện bằng lời nói và hành động. Để tiêu
diệt kẻ thù, người anh hùng sẵn sàng chấp nhận hi sinh bản thân
mình. Theo quan niệm của người anh hùng, hi sinh không phải là
hành động vô ích, hi sinh bản thân mình để tiêu diệt kẻ thù, mang lại
11
lợi ích cho toàn dân tộc là niềm vinh hạnh, niềm tự hào lớn lao của
bản thân.
Việc đặt nhân vật trong hai mối quan hệ đặc biệt, Suvăthon
đã tái hiện được những nét tính cách đa dạng về người chiến sĩ giải
phóng quân Lào.
K3)0[hdi3EDFG
L%E
TG#hdi]E&Gn/phq

lớn, trọng đại của một dân tộc mà đồng thời, nó còn ảnh hưởng và có
tác động đến vận mệnh của các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á.
12
Bằng việc tái hiện một dung lượng lớn các sự kiện, biến cố lịch sử
của một chặng đường đấu tranh cách mạng với nhiều mất mát hi
sinh, nhà văn đã bộc lộ rõ cảm hứng lịch sử, một trong những cảm
hứng chủ đạo của sử thi.
* Bút pháp miêu tả
Với bút pháp miêu tả sự kiện thông qua hình tượng nghệ thuật,
cùng một lúc, nhà văn đã làm được cả hai nhiệm vụ: vừa bám chắc
vào các sự kiện lịch sử lại vừa khái quát lịch sử của một thời đại,
nghĩa là vừa khái quát cuộc đấu tranh cách mạng Lào bằng nghệ
thuật, bằng hình tượng nghệ thuật, vừa ghi lại những nét sinh động
nhất, cụ thể nhất của các sự kiện lịch sử diễn ra trong hai cuộc kháng
chiến vừa qua. Do đó nhà văn được xem là “người thư kí trung thành
của thời đại”, là nhà viết “biên niên sử” Lào bằng hình tượng nghệ
thuật.
25678 
M2:N68 T5s8  A=8t:5uA A=88 5O:5P:
:NU8 :AV:5WX:2Y=L>Z8:5U8
Tv03EDFGL%E
Tiểu thuyết Suvănthon hướng đến sự phản ánh những biến cố
lớn, những sự kiện trọng đại, những bước ngoặt căn bản của đời sống
nhân dân và lịch sử dân tộc Lào. Vì vậy, không gian sử thi được xem
là một đặc trưng trong nghệ thuật tổ chức không gian tiểu thuyết của
ông. Nhà văn cùng một lúc sử dụng cả ba chiều không gian: không
gian điểm, không gian tuyến và không gian mặt phẳng để tạo ra
những miền không gian hoành tráng, là môi trường thuận lợi để các
nhân vật anh hùng – chiến sĩ hoạt động.
Tvva

dụng không gian điểm. Trong tiểu thuyết của Suvănthon, không gian
luôn được mở rộng hết biên độ nhưng bao giờ cũng xuất phát từ một
không gian điểm nhất định, là nơi để triển khai ra các miền không
gian khác nhau, tạo nên một không gian công cộng hoành tráng.
Có thể xem không gian công cộng là một một thủ pháp nghệ
thuật của nhà văn để xây dựng những nhân vật có tầm vóc lớn lao.
TvG3)e
Hiện thực phong phú của các cuộc đấu tranh chống giải phóng
trên đất nước Lào được Suvănthon cảm nhận không chỉ theo chiều
dài của thời gian lịch sử mà còn theo chiều rộng, chiều sâu của
không gian lịch sử. Hình tượng nhân vật trực tiếp tham gia vào các
biến cố lịch sử là đối tượng khám phá và phản ánh chủ yếu của các
tác phẩm. Do vậy, không gian chiến trận được nhà văn khai thác với
những phẩm chất mới, không gian chiến trận không chỉ làm bối cảnh
cho hành động mang sắc thái sử thi, anh hùng ca kiểu mới của thời
đại, mà còn tái hiện cảm hứng lịch sử mang tính sử thi, không gian
đó được nhà văn miêu tả sinh động trên nhiều phương tiện, có thể
cảm nhận bằng tất cả các giác quan.
Nếu không gian công cộng là một thủ pháp nghệ thuật dung
chứa tầm vóc lớn lao của các nhân vật anh hùng, thì không gian
chiến trường lại có chức năng khẳng định phẩm chất anh hùng của
các nhân vật. Việc miêu tả không gian chiến trường hoành tráng,
14
căng thẳng quyết liệt trong tiểu thuyết của Suvănthon là xuất phát từ
ý đồ nghệ thuật của nhà văn, thực chất đó là sự chuẩn bị những hoàn
cảnh cần thiết cho sự xuất hiện hình tượng con người mới, hình
tượng nhân dân trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc.
Tv
Không gian thiên nhiên trong tiểu thuyết của Suvănthon khá

sánh với cảnh tượng “nay”, từ đó “quy kết” những vấn đề về thời
cuộc, chiều hướng vận động của xã hội. Hai gương mặt, quá khứ và
hiện tại được thể hiện qua nhiều nội dung khác nhau, làm thành một
15
số mô típ quen thuộc như: mô típ trước nghèo khổ, bất công – nay
sung sướng, công bằng; mô típ trước yếu – sau mạnh. Đặc điểm này
khá quen thuộc trong nền tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 –
1975, điều này xuất phát từ những nét tương đồng về điều kiện lịch
sử xã hội, đồng thời cũng lí giải phần nào sự ảnh hưởng, tiếp thu của
nhà văn Suvănthon trong quá trình xây dựng tác phẩm.
:eq,H
Phản ánh hiện thực đời sống trong những năm tháng chiến
tranh với nhiều khó khăn gian khổ, thời gian trong tiểu thuyết của
Suvănthon không chỉ đơn thuần là thời gian sự kiện, thời gian với ý
nghĩa đối sánh quy kết, mà còn là thời gian thử thách lòng người.
Trước hết, thời gian có ý nghĩa thử thách lòng dũng cảm, tài
mưu trí của người chiến sĩ, đó là kiểu thời gian có nhiều tai ương,
nguy hiểm, gây sức ép mạnh, buộc nhân vật phải hành động.
Cuộc chiến tranh giành độc lập vô cùng gian khổ và lâu dài
là một thử thách lớn của lòng người. Thời gian, do đó trở thành
thước đo tình yêu và lòng chung thủy của các đôi trai gái yêu nhau,
thời gian càng lâu, phẩm chất nhân vật càng ngời sáng bởi “hình
tượng thời gian giống như một vị thần mang chức năng thử thách
phẩm chất của con người”.
25678 (
M2:N68 8 s88 x8 5O:5P:>R2y2
$5678 :5C2:N8:5P::NU8 :AV:5WX:
2Y=L>Z8:5U8
(  K  3)  v  J    0  3E  D  FG  
L%E

niềm tin Phật giáo không còn, cái thiện bị chà đạp và cái ác đang trỗi
dậy
Việc miêu tả bức tranh đời sống và tái hiện chân dung nhân
vật thông qua những tín hiệu ngôn ngữ mang màu sắc dân gian và
Phật giáo là một trong những biểu hiện của tính dân tộc trong tiểu
thuyết của Suvănthon.
(8vJnE"taE"a\vJhE
3EDFGL%E
b8vJnE"
nE"+'G\{t\,
Trong tiểu thuyết của Suvănthon, ngôn ngữ đối thoại, trước
hết, góp phần khắc họa chân dung người anh hùng – chiến sĩ, những
người con lí tưởng của dân tộc. Vẻ đẹp đức hạnh, tài năng và sức
mạnh của họ không chỉ được biểu hiện qua ngôn ngữ đối thoại giữa
họ với đồng đội và nhân dân mà còn được biểu hiện qua ngôn ngữ
đối thoại giữa họ với kẻ thù. Trong trường hợp thứ nhất, ngôn ngữ
đối thoại trở thành phương tiện nghệ thuật chuyên chở những cảm
xúc sâu lắng, thể hiện sự quan tâm, thái độ gần gũi ân cần và tình
quân dân như cá với nước. Tình cảm ấy còn được biểu hiện ở sự
nhạy cảm, luôn nghĩ cho người. Trong trường hợp thứ hai, ngôn ngữ
đối thoại trở thành một thứ vũ khí sắc bén có khả năng hạ gục đối
thủ.
Đối với thế lực tay sai phản động, ngôn ngữ đối thoại trở
thành phương tiện đắc lực của nhà văn trong việc khắc họa chân
17
dung và phơi bày bản chất của chúng. Xuất phát từ tính chất bình
đẳng về tinh thần, ngôn ngữ đối thoại có một lợi thế đặc biệt trong
việc phản ánh những mâu thuẫn xung đột xã hội. Có thể nói, không
có một phương tiện ngôn từ nào có khả năng thể hiện rõ nét nhất
những mâu thuẫn xung đột xã hội bằng ngôn ngữ đối thoại. Qua đối

(Tiêu biểu ở Lào là nhà văn Khămliêng Phônsêna) là ở chỗ: Nếu
ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong các tiểu thuyết tâm lí chủ yếu thể
hiện nỗi cô đơn, buồn tủi, sự đau khổ, bế tắc, đường cùng của
nhân vật, thì ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết của
Suvănthonlà những tín hiệu ngôn ngữ quan trọng, thể hiện những
18
băn khoăn, toan tính của các nhân vật trong việc xử lí tình huống với
niềm tin và tinh thần lạc quan. Nó còn là chiếc chìa khóa giải mã cho
những nhận thức, giác ngộ của các nhân vật về cuộc sống, tình yêu
và lí tưởng.
Ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật chính diện, nhân
vật phản diện hay các nhân vật trung gian trong tiểu thuyết của
Suvănthon thể hiện những đặc trưng riêng về thế giới quan giữa các
lực lượng khác nhau ở những chế độ xã hội khác nhau. Đó là một
đóng góp mới mẻ và đáng kể của Suvănthon cho nền văn xuôi hiện
đại còn non trẻ của Lào. Nó không chỉ đánh dấu một mức quan tâm
mới với nhân vật chính diện mà còn cung cấp một hướng khai thác
mới với các nhân vật phản diện và nhân vật có nội tâm phức tạp.
b8vJhE
Tính song điệu trong ngôn ngữ tiểu thuyết của Suvănthon
không có những kết cấu và hàm ý đa dạng, phức tạp như trong các
tiểu thuyết phương Tây. Tính song điệu trong ngôn ngữ tiểu thuyết
của Suvănthon chủ yếu được biểu hiện ở một số dấu hiệu đổi mới,
cách tân nghệ thuật trong tác phẩm như khả năng dịch chuyển điểm
nhìn của người trần thuật về phía nhân vật, có khi điểm nhìn của
người trần thuật trùng với điểm nhìn của nhân vật, ngôn ngữ của
người trần thuật trở thành ngôn ngữ của nhân vật và ngược lại. Và
khi đó, giữa người trần thuật và nhân vật cùng nói một tiếng nói
chung thể hiện sự đồng cảm, gần gũi.
Sử dụng từ ngữ song điệu là một trong những đặc điểm góp

(Dlivge
Điểm nhìn không gian – thời gian trong tiểu thuyết của
Suvănthon được thể hiện ở cái nhìn lược thuật mang tầm khái quát,
tầm xa. Trong trường hợp này, người trần thuật không miêu tả tỉ mỉ
mà chỉ kể lại một cách tóm tắt, dòng trần thuật diễn biến liên tục.
Tính chất lược thuật biểu hiện khả năng “biết tuốt” của người trần
thuật.
(Dl,,))^g'_4
“Chân lí là cái được mọi người thừa nhận” và nhà văn phải
dựa vào quan điểm của cộng đồng dân tộc để nhìn nhận và đánh giá
sự việc, hiện tượng. Trong tiểu thuyết của Suvănthon, quan điểm
đánh giá của người trần thuật chính là quan điểm của quần chúng
nhân dân lao động.
Điểm nhìn đánh giá – cảm xúc trong tiểu thuyết của
Suvănthon còn thể hiện ở thái độ, tình cảm, cảm xúc của nhân vật
trong tác phẩm mà tiêu biểu là thái độ nhận thức giác ngộ, biểu hiện
qua điểm nhìn của các nhân vật, chủ yếu là những nhân vật trung
gian. Những nhân vật này, ban đầu hoạt động trong chính quyền của
phe đối lập, dần dần, do có sự tiếp xúc với anh em bộ đội, du kích,
nên được giác ngộ, có những nhận thức đúng đắn về hiện thực cuộc
sống và tương lai.
(2,#+a3}03EDFGL%E
Tiểu thuyết của Suvănthon thiên về miêu tả sự kiện, cốt
truyện diễn biến theo chuỗi biến cố sự kiện liên tiếp, thời gian trần
thuật không bị hạn chế, nên trong các tác phẩm của ông, ta thường
bắt gặp lối miêu tả dài dòng kéo dài các chi tiết, người ta gọi đó là lối
“trì hoãn sử thi”. Mục đích là để miêu tả tỉ mỉ, tường tận, bổ sung
thêm nội dung, tạm thời loại bỏ cao trào, kéo dài sự hồi hộp Ngoài
20
ra, đó cũng là yếu tố ngôn ngữ quan trọng, là sự đóng góp to lớn của

của toàn thể cộng đồng các dân tộc Lào. Họ trở thành người anh
hùng của thời đại, là người con ưu tú của nhân dân, là mẫu mực của
cộng đồng về sức mạnh, đạo đức, trách nhiệm và nghĩa vụ. Mặc dù
mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau với những nhiệm vụ không
giống nhau, song giữa họ lại có một nét nổi bật giống nhau và cũng
là nét đẹp tập trung nhất, đó chính là chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
lòng nhiệt tình hăng hái chiến đấu và lao động sản xuất, là niềm tin
tưởng vào thắng lợi của cách mạng và quyết tâm chiến thắng quân
thù.
21
Vẻ đẹp tâm hồn, tài năng và nhân cách của các nhân vật
được nhà văn tái hiện trong tác phẩm qua nhiều thủ pháp nghệ thuật
khác nhau dựa vào chuỗi sự kiện, nhân vật cũng được soi chiếu từ
nhiều góc độ khác nhau: ngôn ngữ, hành động, thái độ, suy nghĩ, các
mối quan hệ qua các biến cố, tạo nên một kết cấu chặt chẽ. Hình
tượng nhân vật do đó vừa mang tính lí tưởng vừa có giá trị hiện thực
sâu sắc.
Khác với các nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn
Khămliêng thiên về suy nghĩ, độc thoại, nhân vật trong tiểu thuyết
của Suvănthon là những con người hành động. Từ đầu đến cuối tác
phẩm, các nhân vật luôn xông xáo, làm việc chiến đấu, di chuyển từ
nơi này đến nơi khác gắn với mỗi nhiệm vụ cụ thể trong mỗi sự kiện
lịch sử riêng biệt. Kết cấu cốt truyện do đó là một chuỗi những biến
cố liên tiếp, cốt truyện diễn biến theo dòng biên niên của lịch sử. Tuy
vậy, người đọc không thấy đơn điệu nhàm chán bởi nhà văn đã biết
vận dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật khác nhau trong việc tổ
chức cốt truyện, trong đó, việc miêu tả sự kiện thông qua hình tượng
nhân vật trở thành một bút pháp tiêu biểu và thành công ở tất cả các
tác phẩm. Qua đó hình tượng nhân vật được khắc họa rõ nét và bức
tranh hiện thực cũng trở nên sinh động.

tìm hiểu những yếu tố thời gian trong tiểu thuyết của Suvănthon,
chúng ta không chỉ có được những khái quát về các chặng đường lịch
sử đã qua của một dân tộc mà còn thấy được những chuyển động
cuộc sống của con người trong những năm tháng ấy. Nét tiêu biểu
làm nên đặc trưng trong nghệ thuật tổ chức thời gian của Suvănthon
chính là khả năng dồn nén sự kiện, nhiều sự kiện liên tiếp, nhiều biến
cố trong cuộc đời nhân vật diễn ra liên tiếp trong một khoảng thời
gian nhất định khiến người đọc có cảm giác mọi việc không thể
ngưng đọng, không thể đảo ngược, không thể đứt đoạn, không thể
tùy thuộc vào sự vô tư của thời gian vì mỗi thời khắc trôi qua hết sức
gấp gáp, thiêng liêng. Cũng vì thế thời gian trong tiểu thuyết của
Suvănthon chủ yếu vẫn là dòng thời gian xuôi chiều.
4. Tiểu thuyết của Suvănthon đã tái hiện được những bức
tranh đa dạng về cuộc sống chiến đấu và lao động sản xuât của con
người Lào thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đồng thời phản ánh được
những nét sinh hoạt văn hóa và những quan niệm truyền thống của
con người Lào về thế giới và nhân sinh. Có được điều này, đòi hỏi
nhà văn ngoài khả năng thâm nhập và bao quát cuộc sống rộng lớn,
còn phải biết phối kết hợp sử dụng các phương tiện nghệ thuật đa
dạng, phù hợp với nội dung tư tưởng của tác phẩm với kiểu thức tư
duy và đặc trưng văn hóa dân tộc. Với kết cấu cốt truyện đa tuyến,
nhịp điệu trần thuật xuôi chiều, ngôn ngữ trần thuật mang đậm bản
sắc văn hóa dân gian và Phật giáo cùng với nhiều yếu tố ngôn ngữ,
phương thức trần thuật hiện đại như ngôn ngữ độc thoại nội tâm,
ngôn ngữ song điệu, sự dịch chuyển điểm nhìn , tiểu thuyết của
Suvănthon không chỉ được khẳng định ở giá trị hiện thực, giá trị
nhân đạo của nội dung mà còn được thừa nhận ở sự cố gắng vươn tới
những cách tân đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết ở Lào.
5. Có thể thấy, trong năm bộ tiểu thuyết dài tập, Suvănthon
đã phát huy được tối đa tinh thần dân tộc trên cả hai phương diện nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status