BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Nguyễn Văn Luận
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CÂY THUỐC
Ở VƯỜN QUỐC GIA LÒ GÒ - XA MÁT,
TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Nguyễn Văn Luận
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CÂY THUỐC
Ở VƯỜN QUỐC GIA LÒ GÒ - XA MÁT,
TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành
: Sinh thái học
Mã số
Với tất cả tấm lòng thành của mình, một lần nữa xin cảm ơn tất cả!
Nguyễn Văn Luận
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn .............................................................................................................................. i
Mục lục .................................................................................................................................. ii
Danh mục các từ viết tắt trong bài ........................................................................................ iii
Danh mục các bảng ............................................................................................................... iv
Danh mục các hình vẽ, đồ thị ................................................................................................ v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN .................................................................................................... 3
1.1. Điều kiện tự nhiên – xã hội vùng nghiên cứu ............................................................ 3
1.2. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới và Việt Nam ....................................... 6
Chương 2. ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................... 13
2.1. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................................ 13
2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................................... 13
2.3. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 13
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................................ 17
3.1. Đa dạng về thành phần loài cây thuốc ..................................................................... 17
3.2. Dạng sống của cây thuốc ......................................................................................... 21
3.3. Thực vật có giá trị bảo tồn ....................................................................................... 24
3.4. Đa dạng về giá trị cây thuốc của VQG Lò Gò – Xa Mát ......................................... 26
3.5. Bộ sưu tập mẫu thực vật cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát ..................................... 31
3.6. Một số cây thuốc được sử dụng phổ biến ở VQG Lò Gò – Xa Mát ........................ 33
3.7. Thảo luận ................................................................................................................. 63
Chương 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 65
Bảng 3.2.
Thành phần các Họ, Chi và Loài trong các Bộ có các loài cây thuốc
của VQG ................................................................................................ 17
Bảng 3.3.
Các họ có nhiều loài cây thuốc của VQG ............................................. 20
Bảng 3.4.
Các chi cây thuốc nhiều loài của VQG ................................................. 21
Bảng 3.5.
Dạng sống của cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát.................................. 21
Bảng 3.6.
Các loài cây thuốc cần được bảo tồn của VQG Lò Gò – Xa Mát ......... 24
Bảng 3.7.
Cây thuốc có trong Danh mục vị thuốc Y học cổ truyền ...................... 26
Bảng 3.8.
Phương thức sử dụng cây thuốc ............................................................ 28
Bảng 3.9.
Lá và quả Mù u – Calophyllum inophyllum L....................................... 35
Hình 3.6.
Thành ngạnh đẹp – Cratoxylum formosum (Jack) Dyer ....................... 37
Hình 3.7.
Dầu con rái – Dipterocarpus alatus Roxb. ex G. Don .......................... 38
Hình 3.8.
Dầu trà ben – Dipterocarpus obtusifolius Teysm. ................................ 40
Hình 3.9.
Cốt toái bổ (Tắc kè đá) – Drynaria bonii C. Christ. ............................. 42
Hình 3.10. Hoa Cà na – Elaeocarpus hygrophilus Kurz. ........................................ 43
Hình 3.11. Mức hoa trắng – Holarrhena pubescens (Buch.- Ham.) Wall. ex G.Don
............................................................................................................... 44
Hình 3.12. Sao đen – Hopea odorata Roxb. ........................................................... 46
Hình 3.13. Cầy (Kơ nia) – Irvingia malayana Oliv. ex Benn. ................................ 48
Hình 3.14. Máu chó cầu – Knema globularia (Lamk.) Warb ................................. 49
Hình 3.15. Sơn rừng (Sơn huyết) – Melanorrhoea laccifera Pierre ....................... 50
Hình 3.16. Nắp ấm – Nepenthes mirabilis (Lour.) Bruce. ...................................... 51
Hình 3.17. Nắp ấm lá men – Nepenthes thorelii Lecomte. ..................................... 53
Hình 3.18. Hoa Sâm cau – Peliosanthes teta Andrews ........................................... 54
Hình 3.19. Giáng hương trái to – Pterocarpus macrocarpus Kurz......................... 55
Tuy nhiên, do tình trạng khai thác tài nguyên rừng quá mức, nạn cháy rừng,
cũng như áp lực gia tăng về dân số và nhu cầu sử dụng thuốc chữa bệnh ngày càng
nhiều, đặc biệt là các dược liệu có nguồn gốc tự nhiên, dẫn đến nguồn tài nguyên
cây thuốc ngày càng bị cạn kiệt, nhiều loài cây thuốc đang phải đối mặt với nguy cơ
bị tuyệt diệt. Tính đến năm 2007, danh sách những cây thuốc bị đe dọa ở Việt Nam
lên tới 144 loài, trong đó phải kể đến như Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis), Sâm
vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng liên
(Coptis chinensis), Lan một lá (Nervilia sp.), Đẳng sâm (Codonopsis javanica)...
Đặc biệt, những loài như Ba kích (Morinda officinalis), Đẳng sâm (Codonopsis
2
javanica), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora)… vốn phân bố khá rộng rãi nhưng do
khai thác liên tục nhiều năm đã làm cho chúng trở nên hiếm dần, thậm chí còn được
đưa vào Sách đỏ và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam nhằm khuyến cáo bảo vệ
(Nguyễn Tập, 2007). Do đó, việc điều tra, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu và sưu
tập mẫu tiêu bản về tài nguyên cây thuốc ở một vườn quốc gia của khu vực Đông
Nam bộ như Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát là điều cần thiết và thiết thực, góp
phần vào công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên này.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA
LÒ GÒ – XA MÁT, TỈNH TÂY NINH”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra, định danh, lập danh lục thành phần loài cây thuốc trên cơ sở đó
đánh giá tiềm năng.
- Xây dựng bộ mẫu tiêu bản cây thuốc phổ biến của vườn quốc gia (VQG) Lò
Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh.
3. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài cây làm thuốc, xây dựng danh lục cây thuốc ở VQG
với mực nước biển. Cả vùng có độ dốc trung bình 1o - 5o do vậy VQG có địa hình
4
gần như bằng phẳng như là kiểu của bậc thềm sông Vàm Cỏ Đông. Có thể phân
chia địa hình cho khu vực LGXM thành các kiểu phụ tiểu địa hình là bằng phẳng,
trũng và gò hình thành các trảng và bàu ngập nước trong mùa mưa [18].
1.1.3. Thổ nhưỡng
Trên cơ sở nền địa chất trầm tích dày, phong hóa mạnh tạo thành các khối
laterit vững chắc, với các loại đất phù sa cổ phát triển cùng với các quá trình địa
mạo san bằng và bào mòn tạo nên các lớp đất cát trên bề mặt thấy xuất hiện rải rác
trong VQG và đặc biệt là phần phía Bắc có địa hình thấp trũng lôi kéo cát trong
thềm cổ. Việc xuất hiện các khối laterit lớn, mà nhiều nơi lộ ra trên bề mặt do kết
quả tích tụ oxyt sắt-nhôm. Phân bố của các khối laterit này thấy xuất hiện tại các
trảng, bàu có địa hình bằng phẳng tạo điều kiện nước không thấm xuống dưới được
gây ngập một khoảng thời gian trong mùa mưa [18].
1.1.4. Khí hậu
Tây Ninh hay cả Nam bộ nói chung có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt.
Lượng mưa dao động từ khoảng 1.300mm/năm đến khoảng 1.900mm/năm, có
những năm lượng mưa đạt trên 2.000mm (có thể tới 2.300mm), phân bố không đều
giữa các tháng, thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 10. Mùa mưa có thể kéo dài
trung bình 6 tháng, có thể kéo dài đến 8 tháng (các tháng có lượng mưa trên
100mm) [18].
1.1.5. Thủy văn
1.1.5.1.
Nước mặt – Sông suối
Hệ thống thủy văn không phong phú lắm tại khu vực VQG nên mức độ chia
Kiểu rừng khô thưa thứ sinh ngập nước theo mùa trên đất ngập nước ưu thế
-
họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) và Tràm (Melaleuca).
-
Kiểu rừng khô ngập nước theo mùa ưu thế tràm và cây bụi gai.
-
Trảng cỏ ngập nước theo mùa.
-
Rừng thứ sinh cây bụi trảng cỏ ngập nước ven sông, lòng suối [18],[19].
1.1.6.2.
Hệ động vật
- Hệ côn trùng VQG Lò Gò - Xa Mát gồm 128 taxa côn trùng thuộc về 9 bộ, là
một phần rất quan trọng của hệ côn trùng vùng rừng mưa nhiệt đới khu vực phía
Nam, Việt Nam.
- Khu hệ cá ở VQG Lò Gò – Xa Mát mang tính đặc trưng của vùng trung lưu
và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ và 10 bộ, bằng 70,4% khu hệ cá
Đồng Tháp Mười, trong đó bộ Cá chép (Cypriniformes) chiếm số lượng nhiều nhất.
- Lớp Ếch nhái ở VQG Lò Gò - Xa Mát gồm 23 loài thuộc 15 chi, của 6 họ
trong 2 bộ.
- Lớp Bò sát ở VQG Lò Gò - Xa Mát có 56 loài, thuộc về 2 bộ, trong đó bộ
Có vẩy (Squamata) có số loài chiếm đến 92,9 %.
hoa.
Giữa năm 1985, quyển sách “Cây thuốc Trung Quốc” ra đời, đã liệt kê một
loạt các loài thực vật chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa
nhọt độc, viêm tuyến hạch, vết thương tụ máu; Cải Soong (Nasturtium officinale) có
tác dụng giải nhiệt, chữa lở miệng, chảy máu chân răng, bướu cổ. Tác giả Perry, với
7
quyển “Medicinal Plants of East and Southeast Asia” (1985) nằm trong chương
trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á đã
nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu, trong đó có 146
loài thực vật có tính kháng khuẩn [39].
Trên thực tế có rất nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc nhưng do con
người khai thác quá mức dẫn đến nhiều loài trên thế giới vĩnh viễn mất đi hoặc đang
bị đe dọa nghiêm trọng (theo Công ước đa dạng Sinh học, 1992). Theo Raven
(1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng
1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài có nguy cơ bị đe dọa. Trong
số những loài thực vật đã bị mất đi hoặc đang bị đe dọa nghiêm trọng, trong đó có
nhiều loài cây thuốc như: ở Bangladet có loài Tylophora indica dùng để chữa bệnh
hen suyễn, loài Zanonia indica dùng để tẩy xổ - trước kia có khá nhiều nay có nguy
cơ bị tuyệt chủng. [Islam A.S, 1991].
Trong công trình “Medicinal and poisonous plants”, (3 tập) thuộc chương
trình phối hợp điều tra tài nguyên thực vật Đông Nam Á (xuất bản năm 1999, 2001
và 2003) đã thống kê được khoảng 2.200 loài thực vật có giá trị làm thuốc, đây là
công trình có giá trị khoa học cao. Tất cả các loài được mô tả chi tiết về đặc điểm
hình thái, sinh thái, phân bố, cách gieo trồng và giá trị sử dụng; đặc biệt trong công
trình này cũng được phân tích khá đầy đủ các hàm lượng hoạt chất có trong các bộ
phận của thực vật.
Năm 2006, Christophe Wiart đã xuất bản quyển “Medicinal Plants of the AsiaPacific: Drugs for the Future?” mô tả chi tiết dược lý dân tộc học của hơn 400 loài thực
trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật. Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa
giác tư y thư” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc [12],[30].
Thời nhà Nguyễn (1788-1883), Nguyễn Quang Lượng với “Nam dược”, “Nam
dược chỉ danh truyền” ghi chép 500 vị thuốc nam. Năm 1858, Trần Nguyên Phương
với “Nam bang thảo mộc” đã kể tên và mô tả công dụng của trên 100 loài cây thuốc
[11],[12].
Ở Đông Dương, bộ sách “Catalogue des produits de l’Indochine” do hai nhà
thực vật người Pháp Ch. Crévost và A. Pételot biên soạn, trong đó, đáng chú ý nhất
là tập V “Produits médicinaux” (1928 – 1935) đã mô tả 368 loài cây thuốc và vị
thuốc là các loài thực vật có hoa [34]. Đến năm 1952, Pételot bổ sung và xây dựng
9
thành “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập,
với 1.482 loài cây thuốc ở cả ba nước Đông Dương [40].
Năm 1957, Đỗ Tất Lợi cho ra đời công trình “Dược liệu học và các vị thuốc
Việt Nam” gồm 3 tập. Đến năm 1961 tác giả đã tái bản in thành 2 tập, trong đó mô
tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam. Từ năm 1962-1965, “Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam” được xuất bản gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành
2 tập, trong đó giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và
khoáng vật. Trong lần tái bản thứ 12 vào năm 2006 tác giả đã nâng số loài động
thực vật có giá trị làm thuốc lên đến 800 loài, các loài này được mô tả tỉ mỉ tên khoa
học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học và chia tất cả các cây thuốc đó thành
các nhóm bệnh khác nhau.
Năm 1966, Vũ Văn Chuyên “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”, trong đó
ngoài việc tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, ông còn đưa ra danh sách các cây
thông thường thuộc các họ, giúp dễ học và dễ phân loại thực vật, thuận lợi cho việc
tra cứu.
Năm 1976, trong công trình luận văn phó tiến sĩ khoa học, Võ Văn Chi đã
điểm nhận dạng và giá trị sử dụng của chúng.
Đến cuối năm 2006, nhóm các tác giả thuộc Viện Dược liệu trong công trình 2
tập “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” đã thống kê được 920 loài cây
thuốc, đây là công trình khá đầy đủ và công phu, nhóm các tác giả đã mô tả, phân
tích khá chi tiết các đặc điểm nhận dạng, phân bố, công dụng và thành phần hóa học
của từng loài [5].
Năm 2007 trong công trình “Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt
Nam” Nguyễn Tập đã giới thiệu 144 loài cây thuốc nguy cấp ở Việt Nam.
Tác giả Tào Duy Cần, Trần Sĩ Viên đưa ra “Cây thuốc vị thuốc và bài thuốc
Việt Nam” (2007) gồm trên 500 vị thuốc Nam – thuốc Bắc thường dùng (vốn là
những thảo mộc dễ kiếm, sống ở nước ta) được mô tả, xác định vùng phân bố, bộ
phận dùng và tác dụng của thuốc ngoài ra còn kèm theo các phương thuốc trị bệnh
theo y học cổ truyền.
Giữa năm 2007 trong Dự án hỗ trợ chuyên ngành “Lâm sản ngoài gỗ Việt
Nam” đã giới thiệu 82 loài thực vật có giá trị làm thuốc, với đầy đủ các thông tin về
11
đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật nhân trồng, khái thác, chế biến, bảo
quản, giá trị kinh tế và đề xuất các biện pháp bảo tồn.
Huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, thông tin về cây thuốc mới được đề
cập trong những năm gần đây. Trong công trình “Khảo sát thành phần loài và xây
dựng bộ sưu tập mẫu các loài cây thân gỗ trên hệ sinh thái gò đồi thuộc huyện Củ
Chi, Tp. Hồ Chí Minh”, Đặng Văn Sơn đã ghi nhận được 29 loài thực vật có giá trị
làm thuốc, đến năm 2009 tác giả cập nhật và nâng số lượng loài cây thuốc lên 38
loài và gần đây nhất (2011) trong công trình đăng ở Hội nghị khoa học toàn quốc
lần thứ 4 về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, nhóm tác giả đã ghi nhận bổ sung vào
nguồn tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi lên 162 loài, 135 chi, 63 họ, 38 bộ thuộc 2
ngành thực vật bậc cao có mạch.
Tóm lại, thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật tự nhiên để
làm thuốc chữa bệnh của nhân dân ta là phong phú và đa dạng. Đây là kết quả của
một quá trình nghiên cứu lâu dài từ đời này sang đời khác. Vì vậy, ngày nay chúng
ta cần tiếp tục kiểm kê, bổ sung và hệ thống hóa các loài cây thuốc để giúp cho việc
bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu và sử dụng bền vững.
Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một báo cáo hay nghiên cứu nào về đa
dạng thành phần loài cây thuốc của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh
một cách đầy đủ, đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành đề tài này.
13
Chương 2.
ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được khảo sát tại vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, thuộc huyện Tân
Biên, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong vòng 8 tháng (từ 1/2012 đến 8/2012). Thời gian
khảo sát thực địa được tiến hành 5 đợt:
Đợt 1: từ 10/01/2012 đến 17/01/2012
Đợt 2: từ 25/03/2012 đến 30/03/2012
Đợt 3: từ 30/04/2012 đến 02/05/2012
Đợt 4: từ 15/05/2012 đến 22/05/2012
Đợt 5: từ 20/07/2012 đến 27/07/2012
Mỗi đợt khảo sát tiến hành 3-7 ngày tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và thời
gian phát triển của thực vật nghiên cứu. Tiến hành một số đợt khảo sát bổ sung khi
cần thiết.
2.3.2.3.
Phương pháp thu mẫu
Mẫu cho vào các cặp gỗ dán để đựng mẫu, sổ và bút chì mềm 2-3B để ghi
chép, nhãn hay băng dính bằng giấy có thể viết được và kéo cắt cây.
Nguyên tắc thu mẫu:
Mỗi mẫu có đầy đủ các bộ phận nhất định là cành, lá cùng với hoa và cả quả
càng tốt (đối với cây lớn) hay cả cây đối với cây thảo hay dương xỉ.
Mỗi loài thu 4-6 tiêu bản, các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh dấu cùng số
hiệu. Khi thu ghi chép ngay những đặc điểm để nhận biết ngoài thiên nhiên nhất là
các đặc điểm dễ mất khi khô ví dụ như màu sắc hoa, quả [26].
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.3.3.1.
Xử lý và bảo quản mẫu
Các mẫu thu được đeo nhãn ngay.
Khi ghi chép dùng bút chì mềm tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực để tránh
bị mất khi trời mưa hay ngâm tẩm về sau. Các mẫu vật có thể chỉ cần ghi số hiệu
mẫu, ngày thu mẫu, nơi thu mẫu còn các thông tin khác ghi riêng vào sổ ghi chép
thực địa.
Mẫu thu được đặt gọn trong 1 tờ báo gập 4, vuốt ngay ngắn (chú ý trên mẫu
phải có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát dễ dàng cả 2 mặt của lá mà không phải lật
mẫu, đối với hoa nên dùng các mảnh báo nhỏ để ngăn cách nó với các hoa hay lá
bên cạnh phòng khi sấy dễ bị dính vào các bộ phận bên cạnh). Sau đó xếp nhiều
mẫu thành chồng và dùng đôi cặp mắt cáo để bó chặt và ép mẫu xuống [26].
Sau mỗi ngày thu thập, các mẫu vật mang về cần được xử lý sơ bộ ngoài thực
địa bằng cồn pha loãng ở nồng độ 70%.
16
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA SINH HỌC
--------------Tên địa phương: ..................................................................................
Tên Khoa học: ....................................................................................
Họ thực vật:.........................................................................................
Nơi thu mẫu: .......................................................................................
Ngày thu mẫu: .....................................................................................
Người định tên: ...................................................................................
Số hiệu mẫu:........................................................................................
Hình 2.2. Nhãn tên mẫu thực vật trong bộ sưu tập
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để lưu trữ, thống kê và so sánh các thông tin thu
thập được, lập danh lục cây thuốc ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát.
Thống kê và ghi nhận những loài cây thuốc có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007), Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, Nguyễn Tập (2007), IUCN (2011), Danh
mục cây thuốc Bộ Y tế (2010), Nghị định 32 của Chính phủ.
Việc xác định thông tin của các loài có giá trị làm thuốc, dạng sống và tình
trạng bảo tồn sử dụng các sách Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi
(1997), Từ điển thực vật thông dụng của Võ Văn Chi (2003 - 2004), Cây thuốc và
động vật làm thuốc của Viện dược liệu (2006), Những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam của Đỗ Tất Lợi (2009), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới) của Võ Văn Chi
(2012)…
17
2,54
2
LYCOPODIOPHYTA
1
0,23
3
PINOPHYTA
1
0,23
4
MAGNOLIOPHYTA
420
97,00
Sự đa dạng về thành phần loài cây thuốc vùng nghiên cứu được thể hiện trong
bảng 3.2.
Bảng 3.2. Thành phần các Họ, Chi và Loài trong các Bộ có các loài cây thuốc
(5)
(6)
(7)
(8)
1
Arales
2
2,02
6
2,01
6
1,39
2
Arecales
1
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
4
Asterales
1
1,01
4
1,34
4
6
1,39
7
Caryophyllales
1
1,01
3
1,00
5
1,15
8
Commelinales
2
2,02
4
1
0,33
1
0,23
11
Cucurbitales
1
1,01
3
1,00
3
0,69
12
Cyperales
1
1
1,01
1
0,33
2
0,46
15
Ebenales
2
2,02
2
0,67
5
1,15
16
18
Gentiniales
5
5,05
38
12,71
62
14,32
19
Geraniales
1
1,01
1
0,33
1
11
2,54
22
Laurales
1
1,01
3
1,00
6
1,39
23
Liliales
7
7,07
9
12
4,01
17
3,93
26
Malvales
5
5,05
13
4,35
17
3,93
27
Marsileales
1
1
1,01
1
0,33
2
0,46
30
Nymphaeales
1
1,01
1
0,33
2
0,46
31