ĐẶT VẤN ĐỀ
Các Vườn quốc gia (VQG) và các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) nói
chung là những trung tâm đa dạng sinh học với các hệ sinh thái và hệ động
thực vật phong phú và tiêu biểu cho vùng hệ sinh thái. Vì vậy mục tiêu chính
của công tác bảo tồn trong mỗi khu Vườn quốc gia là phải bảo vệ tốt hệ sinh
thái rừng. Nhưng việc “đóng cửa rừng” đã gây ra rất nhiều khó khăn đối với
cuộc sống của người dân vùng đệm. Những người đã sống gắn bó với rừng từ
hàng ngàn năm nay và nguồn sống chủ yếu của họ cũng dựa vào tài nguyên
của rừng. Vì vậy, không thể tách rời người dân với rừng được, nhưng việc
đảm bảo người dân sống chung với rừng và không phá rừng là một bài toán
khó. Một trong những giải pháp vừa để bảo vệ được rừng vừa nâng cao đời
sống cho người dân vùng đệm là hướng họ vào việc gây trồng cây lâm sản
ngoài gỗ, đặc biệt là trồng cây thuốc vì:
Cây thuốc là cây có giá trị kinh tế cao và có thị trường rộng.
Cây thuốc có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ cho
nhân dân vùng đệm.
Cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc là một phần văn hoá của người
dân tộc thiểu số.
Để tiến hành được hoạt động vận động người dân tham gia vào công tác
bảo tồn loại tài nguyên này, yêu cầu trước mắt phải có được những thông tin
về hiện trạng khai thác và giá trị của các loại sản phẩm mà người dân thu hái.
Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở VQG Tam Đảo, cây thuốc chiếm một vị
trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế.
Trong số đó, trên 80% tổng số loài thuốc là mọc tự nhiên, chủ yếu trong các
quần hệ rừng. Rừng cũng là nơi tập trung hầu hết các cây thuốc quí có giá trị
sử dụng và kinh tế cao, nguyên nhân khác là nguồn gốc thuốc mọc tự nhiên ở
VQG Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng.
Vì vậy, bảo vệ tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng đã trở thành yêu
cầu cấp bách, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hội hiện tại và
tương lai.
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiện trạng và
giới. Người ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn 60000
3
năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây
thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này như cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus
globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu hiệu trong
việc chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị
mất đi khi người châu Âu đến định cư. Ngày nay, đa phần các dược thảo ở
châu Úc bắt nguồn từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng ven
Thái Bình Dương.
Dược thảo châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học
truyền thống cổ điển. Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN),
một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc
đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm
cuốn sách và đã được áp dụng trong ngành Y ở châu Âu hơn 1500 năm. Ở thế
kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách
dược thảo có tên “De material Medica”. Quyển sách này bao gồm 600 loại
thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây và là sách tham
khảo chính được dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII. Cuốn sách còn được
dịch ra nhiều ngôn ngữ như: Tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tư và tiếng Hebrew.
Vào thời Trung Cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa
vẻ bề ngoài của một loài cây “Dấu hiệu của thần thánh” và công dụng y học
của chúng. Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria
officinalis) giống như các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi.
Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành dược thảo cổ truyền lớn hơn bất kỳ
châu lục nào khác. Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi
đã có từ thời xa xưa. Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950
TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng. Trong bản
giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và
các công thức, 700 loài dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến
các vết thương do cá Sấu cắn. Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung
Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CIN) đã điều tra
nghiên cứu sàng lọc hơn 40000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc
có khả năng chữa bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có
dược tính mạnh được điều chế từ một loại Hoa hồng (Cantharanthus roseus).
Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ
em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90%.
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là hợp chất tự
nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây
thuốc theo các nhóm hợp chất được tiến hành và đã thu được nhiều kết quả
tốt. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện
đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao. Do vậy, đây là các nghiên cứu
được triển khai ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới - WHO năm 1985, trong số
250000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, có gần 20000 loài
thực vật được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến
thuốc. Trong đó, ở Ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc trên 5000 loài,
riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là
cây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1900 loài. Cũng theo WHO thì mức
độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới
80% dân số sử dụng thuốc dân tộc. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế
giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiện
nay có tới 80% số loài được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân
tộc. Điều này chứng tỏ đối với các nước công nghiệp phát triển thì việc sử
dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh. Cây
thuốc là loài cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện
đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe là con người.
6
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sự
phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì cần phải có sự kết hợp
giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại và y học cổ truyền của các dân tộc.
tả chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh.
Sau cách mạng Tháng Tám 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giải
phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc
sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc. Đỗ Tất Lợi người đã dày
công nghiên cứu nhiều năm và đã xuất bản được nhiều tài liệu về sử dụng
cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc. Đáng chú ý nhất là năm 1957, ông
đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập. Năm
1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu nên công dụng của
hơn 100 cây thuốc nam. Từ năn 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập. Đến năm 1969 tái bản
thành 2 tập, trong đó tác giả giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo
mộc, động vật và khoáng vật. Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các
loài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các năm 1970,
1977, 1981, 1986, 1995,1999, 2001, 2003. Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây
thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là tái bản lần thứ
10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng,
thành phần hóa học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác
nhau. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa
khoa học dân gian và khoa học hiện đaị.
Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
“Cây cỏ Việt Nam”. Tuy chưa giới thiệu được hết hệ thực vật Việt Nam,
nhưng phần nào cũng đưa ra được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật. Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam” và được tái bản vào năm 2000. Công trình liệt kê gần 800 loài cây,
8
con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chế
biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng.
Năm 1966, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây
thuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ
cây thuốc” và được in lần thứ hai vào năm 1976. Năm 1980, Đỗ Huy Bích,
ngành y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và tài
nguyên cây thuốc nói riêng. Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốc
hoặc mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các dự án đầu tư của Nhà nước,
cũng như các dự án của tổ chức phi chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồng
bào dân tộc Dao tại Ba Vì, Hà Tây - CREDEP), bảo tồn và phát triển cây
thuốc ở Sapa,…
Cây thuốc đã gắn liền với đời sống con người từ lâu và hiện nay thì nhu
cầu sử dụng nguồn tài nguyên này càng cao hơn. Vì vậy mà VQG Tam Đảo
nói riêng và rừng Việt Nam nói chung tài nguyên cây thuốc đang bị suy giảm
nghiêm trọng. Mỗi năm theo ước tính có hàng trăm tấn cây thuốc bị khai thác
từ rừng tự nhiên Tam Đảo, con số này chỉ dựa trên những nghiên cứu còn rất
hạn chế với số lượng nhỏ các xã, thôn nhưng trên thực tế còn cao hơn rất
nhiều.
Vì vậy để bảo tồn nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này đồng thời đảm
bảo cuộc sống cho người dân vùng đệm là một trong những thách thức lớn
đối với các cấp, ban ngành và chính quyền địa phương nơi đây.
10
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
Đánh giá được hiện trạng tài nguyên, tình hình khai thác, sử dụng cây
thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm làm cơ sở đề xuất các giải
pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc trong khu vực.
2.2. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là tài nguyên cây thuốc tại các xã thuộc địa bàn
VQG Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
2.3. Nội dung nghiên cứu.
2.3.1. Hiện trạng một số loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo
- Điều tra số lượng ngành, họ, chi, loài của các loài cây thuốc phân bố tại
và hiện trạng rừng để xác định các tuyến và ô cần lập.
- Tuyến điều tra: Các tuyến điều tra được lập theo hệ thống các tuyến
điển hình. Các tuyến điều tra được bố trí cắt ngang theo các trạng thái, các
sinh cảnh rừng trong khu vực. Khi điều tra theo tuyến cần có sự tham gia của
người dân địa phương (có thể nhờ hoặc thuê người dân đi cùng) để hỏi họ về
những cây mà họ thường sử dụng làm thuốc, tên địa phương và nơi chúng
xuất hiện.
Những cây không xác định được tên thì lấy mẫu về và xác định tên sau.
Các thông tin điều tra được ghi vào Mẫu biểu 2.1.
Mẫu biểu 2.1. Thống kê các loài cây thuốc theo tuyến điều tra
Tuyến số: ………………… Ngày điều tra: …….……
Người điều tra: ………….…
STT
Tên phổ
thông
Tên khoa
học
Dạng sống
Bộ phận
sử dụng
Công dụng
12
- Ô tiêu chuẩn (OTC)
Trong khu vực chọn những vị trí điển hình để lập các OTC, mỗi OTC
với diện tích 1000 m
2
.
Trong OTC cũng điều tra tương tự với điều tra theo tuyến và điều tra tình
hình phân bố của các cây thuốc. Thông tin điều tra từ OTC được ghi vào các
Mẫu biểu sau:
Dạng
sống
Bộ phận sử
dụng
Công
dụng
13
2.6.1.2. Phương pháp điều tra cộng đồng
Trong quá trình điều tra nghiên cứu cộng đồng sử dụng phương pháp
PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia).
Một số kĩ thuật thường sử dụng trong PRA:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được lựa chọn
- Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi bất kỳ
câu hỏi nào với những câu hỏi tùy thuộc vầo hoàn cảnh khi đó, thứ tự nội dung
cần hỏi có thể thay đổi tùy ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người
cung cấp thông tin.
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một số
câu hỏi có thể thêm vào tùy theo tình huống cụ thể.
- Phỏng vấn có cấu trúc (Phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụng một
bộ câu hỏi nhất định đối với người cung cấp thông tin có chọn lọc tham gia.
- Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đó
chúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một qui trình sử lý hoặc
chế biến nào đó.
- Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người
khác đưa ra trong các lần phỏng vấn trước.
- Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả về bước đầu tri thức và kinh
nghiệm phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm thông tin bổ
sung ta tiến hành thảo luận nhóm. Nhóm thảo luận bao gồm cả những người
tham gia và không tham gia thảo luận trước đó. Trong khi thảo luận cán bộ
nghiên cứu lần lượt đưa ra những thông tin đã thu thập để mọi người tranh
- Phân loại các loài cây thuốc theo bộ phận, công dụng, giá trị và dạng
sống của chúng.
- Bằng các phương pháp toán học chúng ta xử lý số liệu, viết báo cáo
thực tập.
2.6.3. Đánh giá mức độ đe dọa
Dựa trên các tài liệu đã ban hành về sự nguy cấp của thực vật để đánh
giá mức độ bị đe dọa của các loài thực vật có ích. Các tài liệu đó là: Sách đỏ
Việt Nam năm 1996; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng,
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Ngoài ra còn căn cứ vào tình hình khai
thác, sử dụng và buôn bán ở địa phương để chỉ ra các loài có nguy cơ bị đe dọa
trong khu vực nghiên cứu.
15
Chương 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
Khu vực nghiên cứu là 4 xã thuộc phía Đông của VQG Tam Đảo đó là
các xã: Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù.
• Phía bắc giáp xã Quân Chu.
• Phía nam giáp xã Hướng Đạo.
• Phía đông giáp xã Minh Quang.
• Phía tây giáp xã Ninh Lai.
3.1.1. Địa hình
Địa hình Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt
sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính. Phía
Đông Bắc các suối chính đều chảy về sông Công tạo nên vùng bồn địa
Đại Từ. Phía Tây Nam, các lưu vực suối đề đổ về sông Phó Đáy. Núi
Tam Đảo chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm trên 20 đỉnh
núi được nối với nhau bằng đường dông sắc nhọn.
Nó như một bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng
bằng. Các đỉnh có độ cao trên dưới 1000m. Đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắc
Yếu tố
Trạm
Tuyên
Quang
Trạm
Đại Từ
Trạm
Vĩnh
Yên
Trạm
Tam
Đảo
Nhiệt độ bình quân (
0
C) 22,9 22,9 23,7 18,0
Nhiệt độ tối cao tương đối 41,4 41,3 41,5 33,1
Nhiệt độ tối thấp tương đối 4,0 3,0 3,2 -0,2
Lượng mưa bình quân năm (mm) 1641,4 1906,2 1603,5 2630,3
Số ngày mưa trên năm 143,5 193,4 142,5 193,7
Lượng mưa cực đại trong ngày(mm) 150,0 352,9 284,0 299,5
Độ ẩm trung bình (%) 84,0 82,0 81,0 87,0
Độ ẩm cực tiểu 15,0 16,0 14,0 6,0
Lượng bốc hơi (mm) 760,3 985,5 1040,1 561,5
(Nguồn: Số liệu dự án thành lập VQG Tam Đảo)
17
3.1.4. Thủy văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
và sông Công ở phía Đông. Đường phân thủy của hai hệ thống sông trên
chính là dông núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ khê (Bình
Xuyên).
VI Cây làm rau ăn 86 6,36
VII Cây cảnh 152 11,73
VIII Cây cho tinh bột 5 0,39
(Nguồn: Số liệu dự án thành lập VQG Tam Đảo).
+ Hệ động vật rừng Tam Đảo.
Trong khu vực Tam Đảo đến nay đã phát hiện 840 loài động vật được
phân loại cụ thể theo Bảng 3.3 dưới dây. Trong đó có 39 loài và phân loài đặc
hữu.
Bảng 3.3. Thành phần hệ động vật Tam Đảo
Lớp Số bộ Số họ Số giống Số loài
Thú 8 25 48 64
Chim 15 50 140 239
Bò sát 2 14 46 75
Lưỡng cư 3 7 11 28
Côn trùng 3 48 271 434
Tổng số 36 144 516 840
(Nguồn: Số liệu dự án VQG Tam Đảo)
19
3.2. Tình hình dân sinh – kinh tế xã hội dân cư vùng đệm
3.2.1. Đặc điểm chung của vùng đệm
Vùng đệm VQG Tam Đảo nằm trên địa phận 23 xã, thuộc 6 huyện thị
của 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Với diện tích: 35.469 ha
và dân số là: 183.966 người (số liệu năm 2004). Dân bản địa khu vực này
gồm hai thành phần chính là người kinh và nhóm cộng đồng các dân tộc thiểu
số gồm: Dân tộc Sán Dìu, Dao, Nùng, Hoa, Sán Chỉ và Tày.
Đây là vùng tập trung dân cư đông đúc có tác động lớn và liên quan
mật thiết đến sự suy giảm hay phát triển của hệ sinh thái rừng trong VQG
Tam Đảo.
3.2.2. Phong tục tập quán
Khu vực cư trú của người dân bản địa vùng chân núi Tam Đảo là khu
Tỷ lệ %
Số
lượng
Tỷ lệ %
Số
lượng
Tỷ lệ %
Equisetophyta 1 0,84 1 0,29 1 0,22
Polypodiophyta 4 3,36 4 1,16 4 0,87
Pinophyta 2 1,68 2 0,58 2 0,43
Magnoliopsida 112 94,12 337 97,97 454 98,48
Tổng 119 100,00 344 100,00 461 100,00
21
Biểu đồ 4.1. Sự phân bố tỷ lệ cây thuốc trong các nghành
Khi đi sâu nghiên cứu thành phần cây thuốc ở Tam Đảo, ta thấy rằng: Số
loài cây thuốc phân bố ở các ngành không đồng đều nhau, chủ yếu tập trung ở
ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Với 112 họ (chiếm 94,12%), 337 chi
(chiếm 97,97%), 454 loài (chiếm 98,48%). Các ngành còn lại chỉ chiếm một
tỷ lệ rất nhỏ.Trong ngành Ngọc Lan thì lại phân ra làm 2 lớp: Lớp 2 lá mầm
và lớp 1 lá mầm, lớp 2 lá mầm chiếm số lượng cao hơn lớp 1 lá mầm với số
loài cụ thể như sau:
- Lớp 2 lá mầm: 92 họ, 287 chi, 332 loài
- Lớp 1 lá mầm: 20 họ, 50 chi. 122 loài
Tuy lớp 1 lá mầm chiếm số lượng nhỏ hơn nhưng lớp này lại bao gồm rất
nhiều loài cây có giá trị như: Thiên niên kiện, Hoàng tinh hoa trắng, Mía dò,
Kim tuyến, Râu hùm hoa tía, Bảy lá 1 hoa, Sa nhân,
4.1.1.2. Đa dạng về bậc họ
Qua điều tra, thống kê cho thấy, tại VQG Tam Đảo có 119 họ thực vật bậc
cao có mạch được sử dụng làm thuốc. Để đánh giá sự đa dạng về bậc họ tôi đã
chọn ra 10 họ có số loài nhiều nhất và được thống kê ở Bảng 4.2.
các họ: Bầu bí (Cucurbitaceae), Ráy (Araceae), Gai (Urticaceae), Cà phê
(Rubiaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Ngũ gia bì (Araliaceae).
Để đánh giá mức độ đa dạng về bậc họ tôi sử dụng công thức:
P% =
N
n
x100 (của TolmachoVA.L,1974)
Trong đó:
- P%: Tỷ lệ% tổng số loài trong 10 họ có số lượng loài lớn nhất so với
tổng số loài đã điều tra được.
- n: Tổng số loài trong 10 họ có số loài lớn nhất.
- N: Tổng số loài điều tra được trong khu vực nghiên cứu.
23
Nếu: P% < 50% tổng số loài điều tra được thì kết luận khu vực nghiên
cứu có thành phần cây thuốc đa dạng về họ.
P% > 50% tổng số loài điều tra được thì kết luận khu vực nghiên
cứu có thành phần cây thuốc không đa dạng về họ.
Trong đó tổng số loài của 10 họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc nhất chỉ
chiếm 37,54% < 50 % tổng số loài trong khu hệ. Như vậy ta có thể khẳng
định rằng thành phần loài cây thuốc tại khu vực đa dạng ở bậc họ.
4.1.1.3. Đa dạng về bậc chi
Sự phân bố cây thuốc trong các chi không đều nhau; chi nhiều loài nhất
là chi Ficus chứa 9 loài, chi ít loài nhất có 01 loài.
Để đánh giá tính đa dạng về bậc chi, tôi đã chọn ra 10 chi có số loài nhiều
nhất và được thể hiện trong Bảng 4.3. và Biểu đồ 4.2.
Bảng 4.3. Bảng đánh giá tính đa dạng về bậc chi
Stt Tên chi Tên họ Số loài Tỷ lệ %
1 Ficus Moraceae 9 1,95
2 Euphorbia Euphorbiacea
e