BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thúy Ái
HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI, BIỂN ĐẢO
VIỆT NAM THỜI VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN
(1802 – 1883)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thúy Ái
HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI, BIỂN ĐẢO
VIỆT NAM THỜI VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN
(1802 – 1883)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 35
Chương 2. HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI VIỆT NAM CỦA TRIỀU
NGUYỄN (1802-1883) ............................................................................. 36
2.1. Xây dựng cơ sở chuẩn bị cho việc phòng thủ, bảo vệ biên giới thời vương
triều Nguyễn (1802-1883). ........................................................................................ 36
2.1.1. Xây dựng lực lượng quân đội ...................................................................... 36
2.1.2. Xây dựng các đồn, bảo ở biên giới .............................................................. 40
2.2. Hoạt động bảo vệ biên giới Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802-1883) .............. 44
2.2.1. Chính sách “phủ dụ, vỗ yên”đối với các dân tộc thiểu số vùng biên giới ... 44
2.2.2. Kiên quyết đấu tranh chống thổ phỉ, giữ gìn cương giới quốc gia .............. 55
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................................... 76
Chương 3. HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIỂN ĐẢO CỦA TRIỀU NGUYỄN
(1802-1883) ............................................................................................. 78
3.1. Triều Nguyễn tiếp tục xác lập và thực thi chủ quyền đối với các vùng biển
đảo Việt Nam .............................................................................................................. 78
3.1.1. Vùng biển miền Trung (chủ yếu là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) ........... 78
3.1.2. Vùng biển Tây Nam ................................................................................................ 79
3.2. Thực hiện phòng thủ, bảo vệ các vùng biển đảo Việt Nam .................................. 81
3.2.1. Xây dựng lực lượng thủy quân .................................................................... 81
3.2.2. Đầu tư đóng thuyền và phát triển hệ thống tàu thuyền ................................ 89
3.2.3. Hoạt động phòng thủ ở các cửa biển ............................................................ 95
3.2.3.1. Xây dựng hệ thống đồn bảo, pháo đài ở các cửa biển trọng yếu .............. 95
3.3. Hoạt động đảm bảo an ninh các vùng biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn
(1802-1883) ............................................................................................................... 102
3.3.1. Tuần tra, giám sát các vùng biển đảo ......................................................... 102
3.3.1.1. Hoạt động tuần tra các vùng biển đảo ..................................................... 102
3.3.2. Hoạt động tiễu trừ giặc biển ....................................................................... 116
Tiểu kết chương 3 ...................................................................................................... 128
gia trong lịch sử nước ta được ghi lại bởi những trận chiến oanh liệt: Chống giặc
Quỳnh Châu ở biên giới phía Bắc; diệt Hồ Tôn từ phía Nam (thời Hùng Vương); quân
thủy của nữ tướng Lê Chân làm khiếp đảm quân thủy của địch ở vùng biển Hải Phòng
ngày nay (thời Hai Bà Trưng); chặn đánh Trần Bá Tiên ở sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt,
đầm Dạ Trạch (thời Lý Nam Đế); trận Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 của Ngô
Quyền; trận chiến ở biên giới Đông Bắc thời Lê Hoàn; trận Bạch Đằng lần thứ hai năm
2
981; náo động châu Khâm, châu Liêm năm 1075; chặn đứng quân địch ở ngoài vùng
biển năm 1077 (thời Lý). Trong kháng chiến chống quân Mông- Nguyên lần thứ 3
năm 1288, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn đã tạo nên chiến công
vang dội trên sông Bạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy 6 vạn tên…
Bước sang thế kỉ XVI, XVII và những năm đầu thế kỉ XVIII, thủy quân Việt Nam đã
chiến thắng hạm đội của thực dân Hà Lan năm 1642-1643, đánh thắng hạm đội thực
dân Anh năm 1702…
Thế kỉ XIX, triều Nguyễn được thành lập, cai quản lãnh thổ đất nước từ Bắc đến
Nam. Các vị vua triều Nguyễn đều nhận thức được tầm quan trọng của biên giới, biển
đảo đối với sự tồn vong, an ninh của quốc gia, vận mệnh dân tộc. Do vậy, cùng với
việc quản lí đất nước, phát triển kinh tế, các vị vua triều Nguyễn cũng ra sức bảo vệ
vững chắc vùng biên giới, biển đảo – phần máu thịt thiêng liêng của Tổ Quốc. Vậy,
triều Nguyễn đã có những hoạt động quân sự cụ thể nào để bảo vệ các vùng biên giới,
biển đảo của Tổ Quốc?
Là một giáo viên THPT, đang công tác và giảng dạy tại một tỉnh vùng sâu, tôi hi
vọng với việc tìm hiểu, tổng hợp lại về những hoạt động quân sự của triều Nguyễn
nhằm bảo vệ vùng biên giới, biển đảo Việt Nam sẽ góp một phần nhỏ trong việc đánh
giá khách quan về triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta. Đồng thời, đây cũng sẽ là
nguồn tư liệu hữu ích, phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu của giáo viên, học
sinh và sinh viên sau này.
quân đội, phòng ngừa, bảo vệ vùng biên giới, biển đảo Tổ Quốc, hoạt động tuần biển,
công tác khen thưởng ban cấp cho lực lượng thủy quân, trang bị ở các đồn đài vùng
biên giới, cửa biển, về Hoàng Sa, Trường Sa… Cách viết là tập hợp những ghi chép
chi tiết của các đại thần đứng đầu Lục bộ rồi chuyển cho một vị đại thần có trách
nhiệm do triều đình chỉ định trước, viết thành sách. Sách này được viết từ năm Thiệu
Trị thứ ba (1843) đến năm Tự Đức thứ tư (1851) thì hoàn tất. Sách gồm 97 quyển,
chép từ thời Gia Long năm thứ nhất (1802) đến Tự Đức năm thứ tư (1851). Sau đó
được tiếp tục với tên “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên”(1852-1945).
- Bộ sách “Khâm định tiễu bình lưỡng kì nghịch phỉ phương lược chính biên”do Cơ
Mật Viện, Bộ Binh và Nội các triều Nguyễn tuân theo chỉ dụ của vua Minh Mạng biên
soạn, gồm 153 quyển, bao gồm:
Phần 1: Quyển đầu gồm Tổng mục, các bài tấu, biểu xin biên soạn và báo cáo sách
đã hoàn thành xin được khắc in dâng lên vua Minh Mạng, tiếp theo là 2 quyển Thiên
chương Ngự chế thi - tập hợp 72 bài thơ với lời chú cụ thể từng bài của vua Minh
4
Mệnh về tâm trạng lo lắng cũng như vui mừng trước diễn biến của quá trình trấn áp
những cuộc nổi dậy ở các vùng trong cả nước.
Phần 2: Khâm định tiễu bình Bắc Kì nghịch phỉ phương lược chính biên (gồm 80
quyển)
Phần 3: Khâm định tiễu bình Nam Kì nghịch phỉ phương lược chính biên (gồm 47
quyển).
Phần 4: Khâm định tiễu bình Xiêm khấu phương lược chính biên (gồm 15 quyển).
Phần 5: Khâm định tiễu bình Thuận tỉnh man phỉ phương lược phụ biên (gồm 8
quyển).
Nội dung của bộ sách tập hợp toàn bộ công văn, chỉ dụ của nhà vua, các bản tấu,
biểu của các viên đại thần, tướng lĩnh cầm quân đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy và xâm
lược trên cả miền Bắc, miền Nam trong thời gian 3 năm, từ năm Minh Mệnh thứ 14
thời Nguyễn. Đây là một sử liệu đầy đủ và chính xác về chủ quyền Việt Nam trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quyển IV viết về vấn đề ở vùng thượng du và biên
phòng trên vùng đất phía Nam. Sách được dịch sang tiếng Việt vào năm 1964.
Ngoài những công trình mang tính chính thống trên, gần đây, có nhiều tác phẩm
cũng đề cập đến việc bảo vệ biên giới, biển đảo dưới triều Nguyễn, tiêu biểu như:
- Sách “Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam”- Nguyễn Thái Anh chủ biên, nhà
xuất bản Thời Đại ấn hành, chia làm 3 phần:
Phần 1: Những cứ liệu lịch sử quan trọng - cung cấp những tài liệu, cứ liệu mang
tính pháp lý về chủ quyền biển đảo Việt Nam như: Công ước quốc tế về Luật biển năm
1982, một số nội dung văn bản từ các triều đại phong kiến Việt Nam khẳng định chủ
quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…
Phần 2: Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam- gồm những bài viết đặc sắc, những
tuyên bố khẳng định quyền bất khả xâm phạm về chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Những biện pháp đấu tranh khôn khéo không khoan nhượng để bảo vệ toàn vẹn lãnh
thổ, lãnh hải Việt Nam. Những bài viết thế hiện sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với
Việt Nam, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người dân, mỗi cơ quan, ban
ngành, đoàn thể trong công cuộc gìn giữ bảo vệ Tổ Quốc.
Phần 3: Biển đảo Việt Nam trong văn chương, thơ ca, âm nhạc.
- Sách “Người Việt với biển”do Nguyễn Văn Kim chủ biên. Dưới góc độ nghiên cứu
lịch sử, tác phẩm này có ba nội dung cơ bản, đáng chú ý là nội dung thứ 3 - chủ quyền
và hoạt động bảo vệ an ninh biển đảo: Chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa và nhiều vùng đảo khác được đề cập thông qua tài liệu ghi chép trong
6
chính sử Trung Quốc và qua sự quan sát của các thương nhân. Trong phần này, tác giả
cũng đề cập đến “Thủy quân Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII và đầu thế kỉ XIX qua
nguồn sử liệu phương Tây”. Từ đó cho ta thấy rằng, các chúa Nguyễn cũng như vua
Nguyễn đã có ý thức cao trong việc bảo vệ biển đảo Việt Nam.
“Tư duy hướng biển trong Châu bản triều Nguyễn” - TS. Lê Huỳnh Hoa, Khoa Lịch
sử, trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, khẳng định Việt Nam là nước có truyền
thống hướng biển. Truyền thống và tư duy hướng biển của dân tộc Việt Nam được thể
hiện rất rõ trong lịch sử dân tộc và Châu bản triều Nguyễn, qua hoạt động đóng tàu,
thuyền, phân loại và quản lí tàu thuyền; giữ gìn an ninh vùng biển và chống thủy phỉ;
hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển; tổ chức, thực thi chủ quyền của Việt Nam tại
Hoàng Sa và Trường Sa.
- “Châu bản triều Nguyễn - cơ sở lịch sử về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và
Trường Sa”- bài viết của TS. Lê Huỳnh Hoa, khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm
Tp. Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử; trong đó tác giả khẳng định
Châu bản là nguồn tài liệu gốc phản ánh lịch sử một cách khách quan nhất, chính xác
nhất và cụ thể nhất, đồng thời đưa ra 14 Châu bản triều Nguyễn có nội dung nói đến
việc cứu hộ, cứu nạn các tàu gặp nạn ở Hoàng Sa, ban thưởng, hay xử phạt những
người thực thi công vụ ở Hoàng Sa, thời gian thực thi nhiệm vụ của những người lính
trong đội Hoàng Sa…Qua đó, cho thấy hoạt động chiếm hữu và khai thác của nhà
nước phong kiến Nguyễn không gặp phải bất cứ sự phản đối của quốc gia nào khác
trong khu vực (kể cả Trung Quốc), chứng tỏ từ lâu Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc lãnh
thổ Việt Nam.
- “Chính sách của vua Gia Long và Minh Mạng đối với vùng biển Đông Bắc Việt
Nam (1802-1840)”– Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Hữu Hạnh, Đại học Thái Nguyên,
2011, tác giả đã trình bày về vị trí địa lý, tầm quan trọng của vùng biển Đông Bắc Việt
Nam, cùng chính sách kinh tế đối với vùng biển này. Đồng thời, tác giả cũng trình bày
khá chi tiết về chính sách bảo vệ của vua Gia Long và Minh Mạng đối với vùng biển
Đông Bắc: xây dựng thủy quân, tàu thuyền, hoạt động tuần tra, phòng chống cướp
biển…
Bên cạnh đó, rải rác trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, Xưa và Nay,
nghiên cứu Đông Nam Á, lịch sử Quân sự…cũng có những bài viết đề cập đến những
khía cạnh khác nhau trong việc bảo vệ biên giới, biển đảo Tổ quốc.
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau của vấn đề bảo vệ biên giới, biển đảo triều Nguyễn, nhưng chưa có công trình
dàng và thuận lợi hơn. Đây được xem là những tài liệu gốc, tài liệu quan trọng nhất
phục vụ cho luận văn.
9
- Các bộ sách thông sử và giáo trình của các trường đại học cũng là nguồn tham khảo
chính cho luận văn.
- Các tác phẩm và công trình nghiên cứu về vùng biên giới, các vùng biển đảo Việt
Nam có liên quan đến luận văn.
- Các bài viết đăng trên các tạp chí liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp như Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Xưa và Nay, tạp chí Lịch sử quân sự…đã đăng các bài viết
có nội dung phong phú, làm tài liệu tham khảo, để nhận thức sâu hơn về triều Nguyễn.
- Các tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn cao học có nội dung liên quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng hai phương pháp quan trọng nhất là phương pháp
lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra, còn vận dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp.
5. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này, luận văn sẽ góp phần làm rõ hoạt động bảo vệ biên giới, biển
đảo Việt Nam của triều Nguyễn - đây cũng là một mảng kiến thức quan trọng nhưng
chưa được tổng hợp và đưa vào giảng dạy ở bậc phổ thông. Ngoài ra, đề tài này sẽ góp
phần nhỏ hưởng ứng chủ trương của nhà nước trong việc thay đổi cách nhìn nhận,
đánh giá về triều Nguyễn- triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Góp phần bổ sung, cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên
cứu lịch sử. Qua đó, giáo dục học sinh về tầm quan trọng của các vùng biên giới, các
vùng biển đảo quê hương, hưởng ứng tích cực phong trào tuyên truyền về biển đảo quê
hương của Ban Tuyên Giáo trung ương dành cho tuổi trẻ Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia thành 3
2.2.1.1. Chính sách đối với dân tộc thiểu số ở biên giới phía Nam.
2.2.1.2. Chính sách đối với dân tộc thiểu số ở miền Trung, Tây Nguyên.
2.2.1.3. Chính sách đối với các dân tộc thiểu số ở biên giới phía Bắc.
2.2.2. Kiên quyết đấu tranh chống thổ phỉ, giữ gìn cương giới quốc gia.
2.2.2.1. Ở vùng biên giới phía Bắc.
2.2.2.2. Ở vùng biên giới phía Nam.
Tiểu kết chương 2.
11
Chương 3: HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIỂN ĐẢO CỦA TRIỀU NGUYỄN (18021883).
3.1. Triều Nguyễn tiếp tục xác lập và thực thi chủ quyền đối với các vùng biển
đảo Việt Nam.
3.2. Thực hiện phòng thủ, bảo vệ ở các vùng biển đảo Việt Nam.
3.2.1. Xây dựng lực lượng thủy quân.
3.2.2. Đầu tư đóng thuyền và phát triển hệ thống tàu thuyền.
3.2.3. Hệ thống phòng thủ ở các cửa biển.
3.3. Hoạt động đảm bảo an ninh các vùng biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn
(1802-1883).
3.3.1. Tuần tra, giám sát vùng biển đảo.
3.3.2. Hoạt động tiễu trừ giặc biển.
Tiểu kết chương 3.
12
Chương 1. KHÁI QUÁT CÁC VÙNG BIÊN GIỚI, BIỂN ĐẢO
VIỆT NAM
1.1. Vị trí địa lí các vùng biên giới, biển đảo Việt Nam
nước Văn Lang xưa”. Sách xưa của Trung Quốc thường nói đến cương giới Việt Nam
và Trung Quốc ở núi Phân Mao. Tương truyền Mã Viện sau khi dẹp xong Giao Chỉ đã
dựng một cột đồng ở núi Phân Mao ở vùng Đông Cổ Sâm. Song song với quá trình
hình thành, xây dựng nhà nước đầu tiên của người Việt cổ biên giới chung giữa Việt
Nam và Trung Quốc từ xa xưa cũng từng bước được định hình, trên cơ sở sự tồn tại
của những vùng lãnh thổ nước Việt Nam từ thời cổ đại.
Thời kỳ sơ khai, biên giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ dừng lại ở khái
niệm “vùng biên giới”, trên địa bàn cư trú và sinh sống của cư dân Lạc Việt và Âu
Lạc. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, lãnh thổ Việt Nam bị các triều đại phong kiến
phương Bắc đô hộ, ranh giới giữa hai nước không được phân định rõ ràng. Đến năm
938, khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đập tan cuộc xâm lược của quân Nam Hán trên
sông Bạch Đằng, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền
quốc gia mới được phân định rõ nét trong mối quan hệ giữa nước Việt với đế chế
phong kiến phương Bắc. Vấn đề này luôn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các
triều đại phong kiến Việt Nam.
Theo Tống sử, Tống Cảo là sứ giả nhà Tống được phái sang nước Việt năm 990 đã
báo cáo lên vua Tống rằng khi họ đến “hải giới” Giao Chỉ thì vua Lê Đại Hành đã cho
9 thuyền và 300 quân lên đón ở Thái Bình Tưởng (Trân Châu) và dẫn đoàn sứ thần
đến địa điểm quy định. Như vậy, ngay trong nghi thức tiếp đón sứ thần khi đó đã đề
cập đến cương vực "hải giới” và chủ quyền lãnh thổ. Năm 1078, vua Lý Nhân Tông
gửi thư cho vua Tống đòi lại vùng Quảng Nguyên (Quảng Hoà và Thạch An thuộc tỉnh
Cao Bằng ngày nay) và vùng Tô Mậu (Đình Lập và An Châu thuộc tỉnh lạng Sơn ngày
nay) mà nhà Tống đã chiếm trên đường rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược thất
bại năm 1076, nhưng phải đến sáu lần vua Lý đi đòi đất vẫn không thành. Năm 1127,
trong di chiếu vua Lý Nhân Tông đã điểm lại việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cương
vực lãnh thổ và hài lòng nhận thấy "bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến". Năm 1171,
1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi xem xét biên cương, vùng biển phía Nam, phía
Bắc, biên soạn ra cuốn sách "Nam Bắc phân giới địa đồ”ghi chép về hình thế núi sông,
cương vực đất nước.
hình thành trong quá trình lịch sử. Ngược lại, ở phía Tây từ đỉnh cao Đồng Văn đến
Điện Biên, do dân cư thưa thớt, địa hình phức tạp nên đường biên giới không rõ ràng.
Từ thời chúa Nguyễn cho đến cuối thế kỉ XIX, một đường biên giới trên đất liền giữa
15
Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành, tồn tại khá ổn định, được hai bên tôn trọng.
Biên giới đất liền giữa Việt Nam - Trung Quốc còn gọi là biên giới phía Bắc, dài 1406
km. Việt Nam có 7 tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc là Quảng Ninh, Lào Cai, Lai Châu,
Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, và Điện Biên. Các địa phương của Trung Quốc tiếp
giáp với đường biên giới này là tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng
Tây.
1.1.1.2. Biên giới Việt Nam- Lào
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng có lịch sử phát triển lâu đời, có mối quan hệ
và lợi ích kinh tế - xã hội gắn bó, có chung số phận là thường phải chiến đấu chống
ngoại xâm. Cách đây hàng trăm năm, trong thời kỳ phong kiến, hai nước Việt Nam và
Lào đã có mối quan hệ láng giềng thân thiện, bang giao kinh tế và hỗ trợ nhau chống
xâm lược.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ triều đại Tây Sơn, lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long,
đổi tên nước là Việt Nam. Năm 1804, Gia Long cắt đất các xứ Sầm Châu thuộc trấn
Thanh Hoá (tỉnh Hủa-phăn), các phủ Trấn Ninh, Ngọc Ma, Lâm An xứ Lục Hoàn
thuộc trấn Nghệ An (tỉnh Xiêng-khoảng và tỉnh Khăm-muộn) cho Quốc vương Lạn
Xang vì có công giúp Gia Long đánh quân Tây Sơn.
Năm 1829, Minh Mạng cho cắt đất Sầm Châu đặt ra phủ Trấn Nam thuộc tỉnh Thanh
Hoá và phủ Trấn Biên thuộc tỉnh Nghệ An, phục hồi phủ Trấn Ninh, lấy đất Ngọc Ma
cũ đổi thành phủ Trấn Định, lấy đất Lâm An cũ đổi thành phủ Trấn Tịnh, lấy xứ Lục
Hoàn đổi thành phủ Lục Biên và đều thuộc tỉnh Nghệ An. Như vậy, các vùng đất này
sau 24 năm bị cắt cho Lạn Xang nay lại thuộc lãnh thổ Việt Nam. Dưới triều Minh
Mạng, lãnh thổ phía Tây của Việt Nam đã bao gồm các vùng đất rộng lớn gồm các
phân tán, rải rác trên những triền núi cao với lối sống du canh, du cư, quan hệ giao tiếp
rất hạn chế, nên họ không quan tâm đâu là đường biên giới, đâu là lãnh thổ của bên
này hay bên kia. Các tập đoàn phong kiến cầm quyền các cấp ở địa phương hai bên
đường biên giới thì tuỳ theo lợi ích của mình đã quy thuận triều đình phong kiến bên
này, rồi lại quy phục bên kia. Tuy vậy, do đặc điểm địa lý của một đường ranh giới
thiên nhiên chạy dọc theo các triền núi cao ngăn cách giữa hai nước, đến khi thực dân
Pháp đánh chiếm Đông Dương, thực tế đã có một đường biên giới Việt Nam - Lào
hình thành từ lâu đời.
17
Hai nước có chung đường biên giới với tổng chiều dài khoảng 2.067 km, đi qua 10
tỉnh biên giới của Việt Nam là Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Kon Tum; tiếp giáp với 10
tỉnh biên giới của Lào là Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bôly-khăm-xay, Khăm-muộn, Sa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van, Xê-kông và Ắt-tạ-pư. Điểm
khởi đầu của đường biên giới ở vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc
(tỉnh Điện Biên), kết thúc ở vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Lào – Chân Lạp (tỉnh
Kon Tum).
1.1.1.3. Biên giới Việt Nam- Chân Lạp
Đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Chân Lạp khởi đầu từ ngã ba biên
giới Việt Nam- Lào- Chân Lạp, trên ranh giới hai tỉnh Ratanakiri và Kon Tum, kéo dài
tới sát mép biển Hà Tiên, Kiên Giang, đi qua 10 tỉnh của Việt Nam (Kon Tum, Gia
Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang và
Kiên Giang); tiếp giáp với 9 tỉnh của Chân Lạp (là Ratanakiri, Mondulkiri, Kratié,
Tbong Khmum, Svay Rieng, Prey Veng, Kandal, Takéo và Kampot), với tổng chiều
dài khoảng 1.137 km [115, tr. 25]. Đường biên giới đi qua các tỉnh biên giới của Việt
Nam cụ thể như sau:
-
-
Tỉnh Long An tiếp giáp với tỉnh Svay Rieng, với chiều dài đường biên giới
khoảng 136 km, gồm 5 huyện và 19 xã biên giới.
-
Tỉnh Đồng Tháp tiếp giáp với tỉnh Prey Veng, với chiều dài đường biên giới
khoảng 49km, gồm 2 huyện, 8 xã biên giới.
-
Tỉnh An Giang tiếp giáp với tỉnh Kandal, Takéo với chiều dài đường biên giới
khoảng 96 km, gồm 5 huyện, 17 xã biên giới.
-
Tỉnh Kiên Giang tiếp giáp với tỉnh Kam pot, với chiều dài đường biên giới là 48
km, gồm 2 huyện, 5 xã biên giới.
Địa hình dọc đường biên giới được chia làm 3 đoạn như sau:
- Đoạn 1: từ ngã ba biên giới đến hết biên giới tỉnh Bình Phước dài khoảng 585km, đi
qua vùng địa hình có nhiều rừng rậm, núi cao, hiểm trở.
- Đoạn 2: từ điểm tiếp giáp biên giới giữa tỉnh Bình Phước và tỉnh Tây Ninh đến sông
Vàm Cỏ Đông dài khoảng 143km đi qua nhiều vùng địa hình rừng rậm nhưng bằng
phẳng.
- Đoạn 3: từ Nam Tây Ninh đến giáp mép biển Xà Xía (Kiên Giang) dài khoảng
409km, đi qua địa hình phần lớn kênh rạch, sình lầy.
Biên giới Việt Nam – Chân Lạp được hình thành từ thế kỉ XVII cùng với quá trình
Việt Nam giáp biển ở hai phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần của
Biển Đông. Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, từ Quảng Ninh ở phía đông bắc tới Kiên
Giang ở phía tây nam. Vùng biển rộng trên 1 triệu km2, có trên 30 cảng biển, 112 cửa
sông, 47 vũng vịnh và khoảng 4000 đảo lớn nhỏ gần và xa bờ chạy suốt từ vịnh Bắc
Bộ đến vịnh Thái Lan [8, tr.18]. Tính trung bình tỉ lệ diện tích theo số km bờ biển thì
cứ 100 km2 có 1km bờ biển (so với trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền trên
1km bờ biển). Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa
với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp ba lần diện tích đất liền: 1 triệu km2/330.000km2).
Vùng biển nước ta tiếp giáp với các nước: Trung Quốc, Philipin, Malaixia, Indonesia,
Brunay, Singapor, Thái Lan và Campuchia [8, tr.18].
Biển đảo Việt Nam có thể phân thành 4 khu vực: vùng biển Đông Bắc (một phần
Vịnh Bắc Bộ)- nằm ở phía Đông bắc Việt Nam và tiếp giáp với đảo Hải Nam (Trung
Quốc), vùng biển Bắc Trung Bộ (một phần biển Đông) ở phía đông Việt Nam, vùng
biển Nam Trung Bộ (một phần Biển Đông) nằm ở phía Đông nam và vùng biển Tây
Nam (một phần Vịnh Thái Lan) nằm ở phía Tây nam của Việt Nam tiếp giáp với Cao
Miên và Xiêm. Nơi gần biển nhất ở nước ta là tỉnh Quảng Bình, chỉ cách biển khoảng
50 km, nơi xa nhất là Điện Biên, cách biển khoảng 500 km. Trong khu vực biển Việt
20
Nam có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm xa bờ tạo thành một phòng tuyến
bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển và hải đảo.
Chế độ khí hậu vùng biển Việt Nam khác nhau ở ba miền khí hậu chủ yếu: miền khí
hậu phía bắc từ đèo Hải Vân trở ra có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh; miền khí hậu phía nam từ Đà Nẵng vào tới các tỉnh ven biển đồng bằng sông
Cửu Long, có chế độ khí hậu gió mùa nhiệt đới cận xích đạo với hai mùa mưa và khô
rõ rệt, nhiệt độ luôn cao; miền khí hậu Biển Đông có chế độ khí hậu mang tính chất
gió mùa nhiệt đới biển. Vùng Biển Đông nói chung và vùng biển Việt Nam nói riêng
là khu vực chịu nhiều thiên tai, bão tố, biến đổi khí hậu và có nguy cơ sóng thần.