BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Lan Ngọc
MOTIF THÁCH CƯỚI TRONG
TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Lan Ngọc
MOTIF THÁCH CƯỚI TRONG
TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ QUỐC HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 6
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................... 10
4. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................... 10
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 13
6. Đóng góp của đề tài ....................................................................................................... 14
7. Bố cục của luận văn ...................................................................................................... 15
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.............. 18
1.1. Một số vấn đề về lịch sử - xã hội liên quan đến motif thách cưới trong truyện cổ
tích các dân tộc Việt Nam ................................................................................................ 18
1.1.1. Khái niệm “tục thách cưới” ................................................................................... 18
1.1.2. Nguồn gốc của tục thách cưới ............................................................................... 20
1.1.3. Biểu hiện của tục thách cưới trong hôn nhân truyền thống các dân tộc Việt Nam
......................................................................................................................................... 24
1.1.4. Vai trò của tục thách cưới trong hôn nhân truyền thống Việt Nam ...................... 30
1.2. Một số vấn đề về lý thuyết liên quan đến motif thách cưới trong truyện cổ tích
các dân tộc Việt Nam ........................................................................................................ 32
1.2.1. Lý thuyết về motif ................................................................................................. 33
1.2.2. Lý tuyết về type ..................................................................................................... 34
1.2.3. Mối quan hệ giữa type và motif ............................................................................ 35
1.3. Các tiêu chí để xác định motif thách cưới trong truyện cổ tích các dân tộc Việt
Nam .................................................................................................................................... 36
CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ MOTIF THÁCH CƯỚI TRONG
người nghe không ai tin những câu chuyện bịa đặt trong truyện cổ tích là có thật,
song người nghiên cứu lại có thể và cần phải liên hệ (những chuyện bịa đặt ấy) với
hiện thực cuộc sống và xác định xem những khía cạnh sinh hoạt nào đã làm nảy sinh
ra những cốt truyện ấy” dẫn theo [7, 286]. Đó không còn là tri giác nghệ thuật nữa
mà đã trở thành tri giác khoa học. Để đạt được như vậy, hiện nay đang ngày càng phổ
biến quan điểm cho rằng cần phải khảo sát những cách thức, những con đường theo
đó các sự kiện của hiện thực đời sống đi vào cổ tích như thế nào. Việc khảo sát này
rất phức tạp, lại càng phức tạp hơn trong trường hợp có những sự kiện của đời sống
thực tế đi vào truyện cổ tích đã bị biến dạng đi, không còn nhận ra được nữa nếu
không tiến hành một công việc nghiên cứu so sánh đối chiếu tỉ mỉ với một khối lượng
tài liệu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Bắt nguồn từ xu hướng ấy, đồng thời dựa vào khả năng lưu giữ và ghi dấu hiện
thực của cổ tích, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích đã phản ánh một cách rất sinh
động và cụ thể đời sống con người, từ những mối quan hệ gia đình đến những quan
hệ trong xã hội, từ tập quán tín ngưỡng cho đến những phong tục về hôn nhân và
quan hệ vợ chồng…Trong đó nghi lễ hôn nhân truyền thống, đặc biệt là tục thách
cưới là yếu tố hiện thực tiêu biểu đã đi vào văn học dân gian.
Có thể thấy, thách cưới không chỉ là một trong những phong tục hôn nhân quan
trọng trong truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, mà nó còn có ảnh hưởng không
nhỏ đến hệ thống văn học dân gian qua đề tài, các thể loại. Đặc biệt đối với thể loại
cổ tích, nó còn trở thành motif – chi tiết nghệ thuật quan trọng chi phối đến tổ chức
và kết cấu của truyện. Ở mỗi dân tộc khác nhau, motif này lại có những đặc điểm và
chức năng khác nhau thể hiện đặc điểm tư duy và đời sống văn hóa, tinh thần của các
tộc người.
Nhận thấy vị trí và tầm quan trọng của motif này, chúng tôi quyết định khảo sát
về Motif thách cưới trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam như là một đối tượng
5
khoa học hoàn chỉnh. Hy vọng với hướng nghiên cứu này, sẽ có thể làm sáng rõ hơn
khả năng khéo léo, về tài đi săn, tài đánh giặc, thử thách về những đồ sính lễ quý
hiếm… Ngoài ra tác giả còn đề cập đến một số luật tục là tàn dư của chế độ mẫu hệ
xuất hiện trong truyện cổ tích như: tục ở rể, vị trí và vai trò của nhân vật ông cậu
trong hôn nhân. Các quan niệm, phong tục, tập quán đó tuy đã bị mai một, thay đổi
nhưng chúng được sử dụng để kết hợp với vấn đề đấu tranh xã hội trong truyện cổ
tích để tạo ra những ý nghĩa mới trong truyện. Với việc mô tả quan hệ chàng rể - bố
vợ, mô tả các điều kiện khó khăn của việc thách cưới… trong motif thử thách, chủ đề
thử tài kết hôn đã làm phương tiện thể hiện chủ đề đấu tranh xã hội một cách sinh
động và phong phú.
Trong công trình nghiên cứu của mình in trong tạp chí Văn học dân gian số 4
năm 1999, Nhân vật xấu xí mà có tài trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam,
tác giả Nguyễn Thị Huế đã tiến hành tìm hiểu về dạng nhân vật xấu xí mà có tài trong
quá trình vượt qua những thử thách của ông bố cô gái xinh đẹp để được cưới cô làm
vợ. Ở phần 7: thử thách có đề cập đến chi tiết thách cưới. Tác giả đã liệt kê những thử
thách mà nhân vật xấu xí nhưng có tài phải thực hiện, lấy những tác phẩm Sọ Dừa,
Chàng rùa, Chàng Bầu… làm ví dụ phân tích, tác giả đã nhận định ngoài những thử
thách làm những việc khó khăn, đối tượng thử thách là ông bố cô gái còn bắt nhân vật
phải vượt qua những lễ thách cưới oái oăm, phiền toái như lễ cưới phải đủ vàng bạc
châu báu, tiệc dọn phải toàn của ngon vật lạ với nhiều vàng bạc châu báu… Tiếp theo
đó, bài viết còn phân tích cách thức nhân vật hoàn thành được lời thách cưới trong
phần 8: tài năng, vật phù phép và ở phần cuối cùng Nguyễn Thị Huế đã đưa ra kết
quả của quá trình thực hiện thử thách của nhân vật là phần lớn nhân vật đều hoàn
thành được thử thách và kết hôn với cô gái.
Ở bài viết Nhân vật “gây trở ngại và thử thách” của kiểu truyện “người
mang lốt” trong truyện cổ tích thần kì các dân tộc Việt Nam của tác giả Phạm
Tuấn Anh đăng trên tạp chí Văn học dân gian số 5 năm 2008, trang 20-24, khi phân
tích những đặc điểm của nhân vật “gây trở ngại và thử thách”, ở đặc điểm thứ ba,
người viết có đề cập đến hình tượng nhân vật này luôn đưa ra những thử thách khó
khăn nhằm cản trở việc hôn nhân của người mang lốt xấu xí. Thử thách đầu tiên là
phần cơ sở hình thành kiểu truyện người lấy vật, tác giả đã khẳng định một trong
những cơ sở hình thành nên kiểu truyện này chính là dựa trên quan điểm của các
nghệ nhân dân gian, chứng kiến sự tàn bạo của xã hội phong kiến, sự thống khổ của
những con người thấp cổ bé họng. Nhân vật là những con người có hoàn cảnh bất
8
hạnh phải vượt qua những thử thách khắc nghiệt của những ông bố vợ tương lai để có
thể được kết hôn với cô gái hằng mơ ước, đồng thời khẳng định tài năng phi thường
của nhân vật chính. Trong chương 2: khảo sát những motif chủ yếu trong kiểu truyện
người lấy vật, tác giả đã liệt kê khá nhiều những motif khác nhau, trong đó có motif
thách đố. Ở phần này tác giả thống kê nhiều loại thử thách mà nhân vật “đội lốt” phải
vượt qua. Đó là những thử thách được đưa ra bởi một kiểu nhân vật đại diện cho tầng
lớp trên trong xã hội - những ông bố vợ tương lai buộc chàng trai phải vượt qua nếu
muốn được kết hôn. Tác giả gọi đây là phong tục “thử tài kén rể”. Nội dung của thử
thách là về khả năng làm việc, sức khỏe hơn người, sính lễ quý hiếm. Sau đó tác giả
đưa ra nhận định, nhân vật chính bao giờ cũng phải trải qua những thử thách nhằm
tạo tình huống ly kỳ hấp dẫn cho truyện. Mặt khác, đây chính là điều kiện để nhân vật
thể hiện tài năng, phẩm chất khác thường của mình ẩn sau lớp vỏ xấu xí. Ở loại thử
thách này, nhân vật phải có tài năng, tài ứng biến nhanh nhạy và sự giúp đỡ của các
thế lực thần kì. Cuối cùng tác giả khẳng định, thách đố là một motif quan trọng không
thể thiếu trong kết cấu cốt truyện của kiểu truyện người lấy vật. Tuy không đề cập
trực tiếp đến motif thách cưới mà sử dụng một cách gọi khác là “thử tài kén rể”, tác
giả của luận văn này đã trình bày được một số các dạng thức tiêu biểu của motif
thách cưới trong truyện cổ tích.
Luận văn Thạc sĩ Văn học của Phan Ánh Nguyễn do TS. Hồ Quốc Hùng
hướng dẫn về Motif hôn nhân giữa người và thần linh trong truyền thuyết và cổ
tích Việt Nam năm 2013 tại trường đại học Sư Phạm Tp.Hồ Chí Minh, trong phần
phân loại các dạng thức của motif hôn nhân giữa người với thần linh ở truyền thuyết,
khi tổng kết đánh giá, tác giả có nhận định thể loại truyền thuyết đã lưu giữ lại những
Trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, thách cưới là motif xuất hiện
thường xuyên bên cạnh các motif phổ biến khác, vì vậy nếu không phân định rõ ràng
về các tiêu chí xác định motif sẽ rất có thể bị nhầm lẫn. Về vấn đề lý thuyết motif và
việc đặt ra những tiêu chí để xác định motif thách cưới sẽ được trình bày một cách cụ
thể ở một phần trong chương một của luận văn. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi nhận thấy motif thách cưới có vai trò quan trọng, chi phối đến sự phát triển
của cốt truyện. Do đó, ngoài việc khảo sát motif thách cưới, luận văn còn phân tích
nó trong các mối quan hệ khác của tác phẩm. Để đạt được mục tiêu khoa học này,
chúng tôi không chỉ nghiên cứu motif thách cưới ở mặt phân loại, cấu tạo và dạng
10
thức của chúng mà còn đặt chúng trong mối quan hệ với những chi tiết, motif khác có
trong những cốt truyện được khảo sát.
4.2. Phạm vi tư liệu
Trong luận văn này, chúng tôi chọn motif thách cưới trong truyện cổ tích các
dân tộc Việt Nam làm đề tài nghiên cứu chính. Vì thế, khi tiến hành nghiên cứu
chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát ở thể loại truyện cổ tích của các dân tộc trên đất nước
Việt Nam (bao gồm cả dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số). Nhưng nghiên cứu toàn
bộ truyện cổ tích của cả 54 dân tộc là một công việc vô cùng khó khăn và đòi hỏi rất
nhiều thời gian, nên ở công trình này, chúng tôi chỉ nghiên cứu dựa vào nguồn truyện
cổ tích của 27 dân tộc bao gồm: Kinh, Mường, Dao, Tày, Nùng, Thái, Raglai, Vân
Kiều, Giáy, Hrê, Cơ Tu, Mảng, Hà Nhì, Lô Lô, Phù Lá, Cao Lan – Sán Chí, Khơ Me
Nam bộ, Cơ Ho, H’Mông, M’Nông, Mạ, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Tà Ôi, Ba Na, Pu Péo.
Sở dĩ, chúng tôi chọn lựa khảo sát kho tàng truyện cổ của những dân tộc này bởi lẽ
đây đều là những tộc người tương đối lớn ở Việt Nam, có đời sống văn hóa tinh thần
khá phong phú và có nguồn truyện tương đối dồi dào ở tất cả các thể loại. Chúng tôi
hy vọng số lượng truyện của các dân tộc khảo sát trong luận văn này có thể phản ánh
được những dạng thức và đặc điểm của motif thách cưới trong truyện cổ tích của các
dân tộc Việt Nam nói chung và của từng dân tộc nói riêng.
- Thu Hương (2006), Truyện cổ Nùng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
- Trương Hiến Mai (2012), Truyện cổ Chăm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
- Lô Giàng Páo (1983), Truyện cổ Lô Lô, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Hoàng Quyết (1986), Truyện cổ Tày Nùng, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Lâm Quý, Phương Bằng (1983), Truyện cổ Cao Lan – Sán chí, Nxb Văn hóa,
Hà Nội.
- Mai Văn Tấn (2007), Truyện cổ Vân Kiều, Nxb Lao Động, Hà Nội.
- Doãn Thanh (1978), Truyện cổ Dao, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
- Doãn Thanh (1982), Truyện cổ Phù Lá, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Nông Quốc Thắng (2011), Truyện cổ các dân tộc Tây Nguyên: Truyện cổ Gia
Rai, Truyện cổ Ê Đê, Truyện cổ M’Nông, Truyện cổ Ba Na – Kriêm, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội.
- Y Thi (1984), Truyện cổ M’Nông, Nxb Văn hóa thông tin Daklak, Đắc Lắc.
- Tạ Văn Thông (1984), Truyện cổ Cơ – Ho, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Tạ Văn Thông (1986), Truyện cổ Mạ, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
12
- Đỗ Như Thúy (1982), Truyện cổ Cơ Tu, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Huỳnh Ngọc Trảng (1983), Truyện cổ Khơ me Nam bộ, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Mùa A Tủa (2012), Truyện cổ các dân tộc phía Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội.
- Lù Dìn Siểng (1982), Truyện cổ Giáy, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Đặng Nghiệm Vạn (1985), Truyện cổ tích các dân tộc Trường Sơn – Tây
Nguyên, Nxb Văn học, Tp. Hồ Chí Minh.
- Lê Trung Vũ (1984), Truyện cổ H’Mông, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Vù Go Xá (1981), Truyện cổ Hà Nhì, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
Vì phần lớn những tư liệu khảo sát đều là những tập truyện cổ, tức là ngoài thể
loại cổ tích, nó còn đưa vào những thể loại văn học dân gian khác như truyền thuyết,
thần thoại, ngụ ngôn… Vì thế để chọn lựa được đối tượng nghiên cứu một cách chính
truyện.
Phương pháp thông kê và phân loại: đây là phương pháp thông qua những con
số để khẳng định một cách khách quan kết quả của việc khảo sát. Trên cơ sở đó,
chúng tôi phân loại chúng thành những nhóm cụ thể mang một đặc điểm nào đó dựa
trên những cơ sở nhất định.
Phương pháp so sánh: là phương pháp chỉ ra những điểm tương đồng và khác
biệt giữa hai nhóm, hai đối tượng nào đó. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng
phương pháp so sánh để chỉ ra những tương đồng và dị biệt tạo ra đặc trưng, chức
năng của motif thách cưới giữa truyện cổ tích của dân tộc kinh và truyện cổ tích các
dân tộc thiểu số.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp nghiên cứu sử dụng kết hợp
những thành tựu và phương pháp của các ngành: văn hóa học, dân tộc học và văn học
dân gian.
6. Đóng góp của đề tài
Motif thách cưới là một trong những motif phổ biến xuất hiện trong truyện cổ
tích nên cần được nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống. Thông qua đây,
chúng tôi muốn đạt những mục đích sau: làm rõ các dạng thức của motif thách cưới
trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam; tìm ra đặc điểm cấu tạo của motif thách
cưới ở cả hai vai trò là motif chi tiết và motif chủ đề, đồng thời so sánh motif này
14
trong truyện cổ tích của dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số để tìm ra những điểm tương
đồng và dị biệt giữa chúng. Những điều nêu trên có thể xem là đóng góp nhỏ bé của
luận văn này.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của
luận văn được triển khai thành ba chương như sau:
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (21
trang)
1.3. Các tiêu chí để xác định motif thách cưới trong truyện cổ tích các dân tộc
Việt Nam
CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI MOTIF THÁCH CƯỚI TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM (25 trang)
Chương này có nhiệm vụ tổng kết tình hình tư liệu và khảo sát các truyện cổ
tích có chứa motif thách cưới. Từ đó luận văn sẽ tổng hợp, khái quát để phân loại các
kiểu loại motif thách cưới trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam. Từ kết quả này,
chúng tôi sẽ đưa ra những so sánh, đối chiếu và lý giải về những tương đồng và khác
biệt giữa motif thách cưới trong truyện cổ tích của dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số.
Do đó chương hai sẽ bao gồm những phần cụ thể như sau:
2.1. Tình hình tư liệu
2.2. Phân loại motif thách cưới
2.2.1. Lời thách để từ chối, bội ước
2.2.2. Lời thách để thử tài, kén rể tốt
2.2.3. Lời thách để chữa bệnh cho cô gái
2.2.4. Lời thách với mục đích khác
CHƯƠNG 3: CẤU TẠO CỦA MOTIF THÁCH CƯỚI TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM (24 trang)
Ở chương này, người viết sẽ đi vào làm rõ cấu tạo của motif thách cưới ở cả
hai vai trò: motif chi tiết và motif chủ đề. Ở vai trò là motif chi tiết chúng tôi tiến
hành liệt kê những dạng thức xuất hiện của motif thách cưới, đồng thời phân tích vai
trò, vị trí của nó đối với cốt truyện cổ tích. Đối với vai trò motif thách cưới là motif
chủ đề, dựa vào lý thuyết về type chúng tôi tập trung phân tích về cốt truyện và kiểu
nhân vật xuất hiện trong type. Đồng thời so sánh về vai trò và chức năng của motif
16
này trong truyện cổ tích của dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số để chỉ ra những
điểm tương đồng và dị biệt. Từ đó nhấn mạnh nét đặc sắc riêng của truyện cổ tích của
mỗi dân tộc. Chương ba bao gồm các phần sau:
tập tục truyền thống của dân tộc ấy. Bởi lẽ, theo Đại từ điển tiếng Việt thì phong tục
là lối sống, thói quen đã thành nề nếp được mọi người công nhận và tuân theo. Trong
đó “phong” là nền nếp đã lan truyền rộng rãi, còn “tục” là thói quen lâu đời. “Phong
tục có thể trở thành luật tục ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh
hơn cả những đạo luật” [57, 1262]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê
cũng có cùng định nghĩa “phong tục”: “Thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời
sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo” [29, 867]. Cho nên, phong tục
chính là những giá trị tinh thần vô giá cần phải gìn giữ của mỗi dân tộc. Trải qua
khoảng thời gian dài hàng trăm năm có khi là cả ngàn năm, nó đã trở thành những
quy ước cố định chi phối mạnh mẽ đến nếp sống, nếp cảm, nếp nghĩ của mỗi con
người trong cộng đồng và cũng chính họ lại là người lưu giữ và truyền thụ những giá
18
trị phi vật chất ấy đến thế hệ con cháu đời sau. Cũng vì lẽ đó, phong tục không thể
hình thành một cách dễ dàng trong một thời gian ngắn, theo ý muốn chủ quan của
một người hoặc một nhóm người. Ngược lại, nó cũng không dễ dàng bị xóa bỏ hoặc
thay thế bởi ý muốn chủ quan của một cá nhân hoặc tập thể nào cho dù có bằng
quyền lực to lớn đến đâu đi chăng nữa.
Trước hết, để hiểu rõ khái niệm “tục thách cưới” chúng tôi tiến hành làm rõ ý
nghĩa của từng từ riêng biệt. Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì “tục” với
nghĩa đầu tiên là “thói quen từ lâu đời trong đời sống nhân dân, được mọi người nói
chung công nhận và làm theo” [29, 1413] và làm rõ cho khái niệm này tác giả đã đưa
ra hai ví dụ là “tục ăn trầu, tục thách cưới”. “Thách” là nói kích nhằm làm cho người
khác dám làm một việc gì đó có tính chất khó khăn, hoặc dám đối đầu hay thi tài với
mình. Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì đưa ra khái niệm “thách cưới” như sau
“ra điều kiện cho nhà trai về sính lễ để gả con gái cho”. Còn ở cuốn Văn hóa phong
tục Việt Nam ABC của tác giả Phạm Côn Sơn thì định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết
về khái niệm “thách cưới”: “thời xưa khi nhà trai xin cưới, nếu nhà gái ưng thuận thì
trả lời cho người môi giới, tức ông hay bà mai, nhưng sự trả lời này còn bao gồm việc
mẹ quá ham của sính lễ mà yêu cầu cao thì nhân duyên của đôi lứa phải bị lỡ dở.
1.1.2. Nguồn gốc của tục thách cưới
Thách cưới cũng là một tục lệ truyền thống lâu đời, không chỉ của riêng Việt
Nam mà còn là tập tục của nhiều dân tộc ở nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới. Và xác
định nguồn gốc, điểm khởi phát cụ thể của nó vào thời gian nào, bắt nguồn từ đâu là
một công việc không hề đơn giản, chỉ có thể đưa ra khoảng thời gian ước lượng hết
sức khái quát về vấn đề này. Dựa vào mối quan hệ gắn bó mật thiết của tục thách
cưới với các hình thức hôn nhân và mô hình gia đình, chúng tôi nhận thấy để có thể
tìm ra một cách chính xác nguồn gốc của phong tục truyền thống lâu đời này thì bước
đầu tiên trong nghiên cứu phải bắt đầu từ lịch sử hôn nhân và nguồn gốc hình thành
gia đình của con người. Để biết tục thách cưới xuất hiện khi nào cần phải tìm ra
những hình thức hôn nhân đã từng tồn tại trong các thời kì phát triển khác nhau của
xã hội loài người, đồng thời phải biết vào những thời kì phát triển nào thì người
chồng chưa cưới phải chịu thử thách và những thử thách ấy có tính chất như thế nào.
20
Chỉ có nắm được những dữ kiện dân tộc học như vậy thì mới có khả năng hiểu một
cách thích đáng tục thách cưới xuất hiện khi nào, ra sao.
Theo tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước,
tác giả Ăng-ghen đã phân tích một cách khoa học và tỉ mỉ về lịch sử loài người ở
những giai đoạn sớm nhất của nó, trong đó có giải thích đặc điểm của sự phát triển
những quan hệ gia đình ở các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Theo đó, hình thức
hôn nhân đầu tiên của con người trong thời đại mông muội là quan hệ tình dục hỗn
tạp. Nó không bị cấm đoán hoặc hạn chế bởi bất kì một qui tắc nào, kể cả vấn đề
huyết thống. Chính vì những quan hệ như thế, làm cho không thể xác định chắc chắn
ai là cha đẻ, dòng máu chỉ có thể xác định theo nữ hệ, và từ đó dẫn đến người đàn bà
với tư cách là những bà mẹ sẽ được tôn kính và có quyền lực cao độ.
trị một cách tàn ác.
Cùng với sự phát triển về kinh tế và của cải vật chất, vị thế của người đàn ông
trong gia đình dần thay đổi và được khẳng định hơn trước, người chồng có xu hướng
lợi dụng địa vị xã hội ấy để lật ngược địa vị làm chủ thuộc về mình. Đầu tiên là việc
xóa bỏ tính dòng dõi xác định theo chế độ mẫu quyền thành dòng dõi phải được tính
theo đằng cha hay còn gọi là chế độ phụ hệ. Chế độ phụ hệ là đặc trưng quan trọng
trong loại hình gia đình gia trưởng. Để đảm bảo được chế độ này, đảm bảo con cái là
đích thực mang huyết thống của người cha, thì người vợ phải phục tùng tuyệt đối
quyền lực của người chồng. Bắt đầu từ đây, nam giới đã thay quyền thống trị của nữ
giới. Người phụ nữ chỉ được phép có một chồng duy nhất và phải sống ở nhà chồng
để đảm bảo huyết thống.
Cũng bắt đầu từ đây đã nảy sinh những vấn đề như sau: nếu như trước kia,
trong chế độ quần hôn, đối tượng quan hệ của người đàn ông là vô cùng rộng lớn và
không bị hạn chế, thì giờ đây bị những nguyên tắc của hôn nhân không được cùng
huyết thống và chế độ phụ hệ - vai trò của người đàn ông được đề cao, người phụ nữ
phải tuyệt đối chung thủy với một người chồng chi phối khiến cho phụ nữ trở nên
hiếm và được tìm kiếm. Cho nên từ khi bắt đầu chế độ hôn nhân cặp đôi thì cũng bắt
đầu việc mua và cướp đàn bà, một trong những phương thức phổ biến để kiếm vợ.
Từ khi chế độ phụ hệ được xác lập, đặc biệt là khi loại hình gia đình gia trưởng
được hình thành thì hôn nhân trong thời kì này, về phía gia đình có con gái là hoàn
toàn bất lợi. Nếu như trước kia, đàn ông phải theo về ở rể trong bộ lạc của vợ, tức là
sẽ có thêm lực lượng lao động thì ở chế độ này lại bị giảm đi vì nữ giới phải về ở bên
22
nhà chồng. Để bù đắp lại sự hao hụt này, phía nhà gái yêu cầu chàng rể phải tham gia
lao động không thường xuyên trong một thời gian nhất định ở nhà mình rồi mới được
rước dâu về. Kiểu phục dịch này là cơ hội tốt để gia đình nhà gái đánh giá năng lực
và sức khỏe của chàng rể tương lai. Kiểu hôn nhân này tạm gọi là hôn nhân phục dịch.
Cũng chính trong thời gian này, chàng trai phải chịu và vượt qua được nhiều thử