ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VIỆT NAM HỌC VÀ TIẾNG VIỆT
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: VĂN HỌC CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: MỘT NHẬN THỨC VỀ TRUYỆN THƠ
Đề tài: Xây dựng nhân vật dì ghẻ trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng qua
khảo sát truyện thơ Quảng Tân – Ngọc Lương và truyện thơ Trần Châu
Giảng viên : Bùi Thị Thiên Thai
Sinh viên thực hiện : Đào Thị Thơm
MSSV : 11030836
Lớp : K56 – Việt Nam học
Hà Nội – 2013
ĐẶT VẤN ĐỀ
Truyện thơ là những truyện kể bằng thơ, biểu hiện cảm nghĩ bằng ngôn ngữ
giàu hình ảnh, cảm xúc, chứa đựng những vấn đề xã hội có sự kết hợp của yếu tố tự sự
với yếu tố trữ tình, dung lượng lớn, mang tính cố sự của truyện kể dân gian, biểu hiện
dưới hình thức thơ ca với màu sắc trữ tình rõ nét.
Sự xuất hiện của truyện thơ trong lòng xã hội đầy mâu thuẫn của các dân tộc
thiểu số là tất yếu khi mà bản thân các sáng tác văn học dân gian khác như thần thoại,
truyện cổ tích hay sử thi chưa đáp ứng được. Có lẽ bản thân truyện thơ ra đời đã mang
trong đó là sự dung hợp giữa những sáng tác dân gian với những sáng tác cá nhân với
tư tưởng rõ ràng của những tác giả khuyết danh trong xã hội mâu thuẫn đó. Vì vậy
truyện thơ vừa có tính chất của văn học dân gian lại vừa có tính chất của văn học bác
học, vừa có thể lưu hành bằng hình thức truyền miệng, vừa lưu hành thông qua văn
bản thành văn. Nói tóm lại, truyện thơ các dân tộc chính là dấu gạch nối giữa văn học
thành văn và văn học dân gian. Với kho tàng truyện thơ vô cùng phong phú và đa dạng
về đề tài như: Nam Kim – Thị Đan, Chim Sáo, Nàng Kim Quế, Trần Châu, Quảng Tân
– Ngọc Lương, Lưu Đài – Hán Xuân,…của dân tộc Tày – Nùng; Út Lót – Hồ Liêu,
Nàng Nga – Hai Mối,…của người Mường; Người H’Mông có Tiếng hát làm dâu,
Nàng Dợ - Chà Tăng, ; Dân tộc Thái có Xống chụ xon xao, Khun Lú – Nàng Ủa,…
Với những nhận thức trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng nhân vật dì
ghẻ trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng qua khảo sát truyện thơ Quảng Tân – Ngọc
Lương và truyện thơ Trần Châu”.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TRUYỆN THƠ NÔM TÀY - NÙNG
1.1. Những vấn đề liên quan
Trong di sản Hán Nôm Việt được lưu giữ hiện nay, chủ yếu là sách Hán Nôm
của người Kinh còn những tài liệu và sách vở Hán Nôm của các dân tộc thiểu số thì có
rất ít. Trong số ít đó thì đáng kể hơn cả là mảng sách Nôm Tày – Nùng và trong nội bộ
nguồ sách đó chiếm ưu thế hơn cả là mảng sách văn học dân gian như: Truyện cổ tích,
truyện cười, tục ngữ ca dao, những điệu sli, lượn…nổi bật trong số đó là cả kho tàng
truyện thơ Nôm có thể kể ra như: Lưu Đài – Hán Xuân, Nàng Kim Quế, Nam Kim –
Thị Đan, Quảng Tân – Ngọc Lương, Trần Châu, Đính Quân
Điều đặc biệt trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng là sự xuất hiện của kiểu chữ viết
“Nôm” nó thể hiện ở sự tiếp xúc văn hóa qua việc ghi âm lại ngôn ngữ bằng chữ Nôm
Tày qua sự ảnh hưởng của chữ Nôm Việt, đó là điều dễ nhận thấy trong quá trình giao
lưu tiếp xúc văn hóa, ngôn ngữ và nó đã ảnh hưởng tới việc xuất hiện của truyện thơ
Nôm có thể là sự kết hợp giữa nguồn gốc nội sinh của nền văn hóa tộc người với yếu
tố ngoại lai trong quá trình tiếp xúc. Truyện thơ Nôm Tày – Nùng có sự liên quan giữa
văn học truyền miệng với văn học tiếp xúc văn học bác học qua cách thể hiện văn vần
theo thể thơ thất ngôn có vần chân, cùng với những tác giả khuyết danh thuộc tầng lớp
nho sĩ bình dân nên ngôn từ thể hiện tư tưởng đã trau truốt và sinh động hơn. Truyện
thơ Nôm Tày – Nùng thuộc vào nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo
đạo đức của loại truyện Nôm Việt mang nhiều yếu tố tự sự được thể hiện thông qua
cốt truyện và hệ thống nhân vật và vẫn dựa theo kết cấu cốt truyện theo quỹ đạo của
một tác phẩm văn học dân gian, việc xây dựng nhân vật thành tuyến nhân vật có sự
xung đột với nhau đã góp phần nêu rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Một trong số
nhiều nhân vật có mặt trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng là nhân vật dì ghẻ có thể là
tuyến nhân vật trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra bi kịch và làm nổi bật tư tưởng chủ đề tác
phẩm.
Trong phạm vi bài viết của mình, tôi xin nhấn mạnh vào việc xây dựng nhân vật
Được Trời, Phật giúp, Trần Châu xin Long Vương cho Quyển Vương trở lại trần gian,
vợ chồng đoàn tụ sống trong hạnh phúc.
Nội dung tư tưởng của truyện Trần Châu là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa người
thiện kẻ ác, giữa chính và tà nhưng cuối cùng chính nghĩa cũng thắng được gian tà.
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG NHÂN VẬT DÌ GHẺ QUA HAI TÁC PHẨM TRUYỆN
THƠ NÔM TÀY – NÙNG, QUẢNG TÂN – NGỌC LƯƠNG VÀ TRẦN CHÂU
2.1. Nguồn gốc xuất hiện của nhân vật dì ghẻ trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng
Các tác giả khuyết danh đã rất sáng tạo trong việc kế thừa hệ thống nhân vật
trong kho tàng truyện cổ tích để xây dựng vào truyện thơ để thể hiện chủ đề tác phẩm.
Trong số đó là xây dựng nhân vật dì ghẻ theo motif chung ảnh hưởng của truyện cổ
tích thì đó là nhân vật thuộc vào loại nhân vật phản diện (rất ít thuộc vào tuyến nhân
vật chính diện – Thị Lương trong Trần Châu) đối lập với nhân vật chính diện trong tác
phẩm và vượt ra ngoài truyện thơ là những khía cạnh liên quan đến xã hội tộc người
lúc bấy giờ. Việc khai thác đề tài xung đột dì ghẻ con chồng không phải chỉ tồn tại
trong thời gian phiếm chỉ trong truyện cổ tích thì ở trong truyện thơ nó lại là đặc hữu.
Theo giáo sư Nguyễn Tấn Đắc “Xung đột dì ghẻ con chồng là một hiện tượng
đặc hữu và tiêu biểu trong xã hội phụ hệ, nó gần giống như xung đột mẹ chồng nàng
dâu, trong xã hội phụ hệ con cái thuộc về người cha, nếu như người cha sống với một
người vợ kế thì chúng phải ở chung với một người đàn bà xa lạ đối với mình. Chính lý
do đó gây ra xung đột tình cảm thường trực giữa người dì ghẻ và con chồng và khi có
tranh chấp về quyền lợi thì xung đột đó có thể rất gay gắt….” Điều đó thể hiện rõ xã
hội đương thời trong truyện thơ dân tộc Tày Nùng có xung đột giữa dì ghẻ con chồng.
Hơn thế nữa trong không gian xã hội, khi mọi người đều chăm chỉ lao động hoặc do
hoàn cảnh hoặc do yếu tố tâm lý nào đó tác động mà sinh lòng thiện, lòng ác khác
nhau, về bản chất thì người thiện vẫn là người thiện, kẻ ác vẫn là kẻ ác chính điều đó
quy định diễn biến tâm trạng nhân vật dì ghẻ theo tình tiết trong truyện thơ điển hình
là nhân vật Thị Tương trong Quảng Tân – Ngọc Lương, và ngược lại là nhân vật Thị
Lương Trong Trần Châu.
2.2. Về xây dựng nhân vật dì ghẻ trong truyện thơ Nôm Tày – Nùng
Người dì ghẻ Thị Tương trong Quảng Tân – Ngọc Lương xuất hiện ban đầu là
Chớ lang thang thành ra hèn mạt
Núi rừng xa ngàn dặm, phúc may
Hổ không bắt nay con còn sống
Mẹ cố vượt núi thẳm tím con
“khoắn mà” con ơi, hồn mau lại”
Nhưng ai ngờ: “ Dè đâu vừa về đến nhà trong
Dì căm uất đầy lòng khôn chứa
Mưu toan hại con trẻ nay mai
Nuôi chi loài “phj pjai” đáng ghét”
Từ những suy nghĩ đó thúc đẩy thị nhanh chóng thực hiện động cơ hãm hại con
chồng:
“Thị Tương liền cởi lặng thắt lưng
Tay dìm gáy Quảng Tân xuống cát
Chân đạp lưng trói chặt thân con
…
Thị Tương quăng xác trôi mặt nước
Trở lại nhà như không xảy việc”
Và với Ngọc Lương: “Đến vực thẳm núi dựng đán cao
Thoạt nhìn đã bạt xiêu hồn vía
Thị Tương liền xốc bế lấy ngay
“Mày phải chết, phen này khó sống”
Nói xong ném trẻ xuống đán cao”
Nhân vật Thị Tương trong truyện được xây dựng thuộc vào tuyến nhân vật phản
diện, gian tà, là nhân vật trực tiếp tạo ra xung đột và bi kịch cho nhân vật chính. Tuy
nhiên, tác phẩm không dừng ở đó mà đã đưa ra tình tiết của sự trở lại của Quảng Tân,
Ngọc Lương để nói ra nỗi oan uổng khổ cực của mình, buộc Thị phải nhận lấy hình
phạt thích đáng, cái chết của Thị Tương được thực hiện bởi yếu tố siêu nhiên, chi tiết
này làm ta gợi nhớ tới một số câu truyện cổ tích với cái kết được thực hiện bởi yếu tố
siêu nhiên như “Lấy chồng Dê” của dân tộc Kinh….
“Tự nhiên trời nổi cơn sấm sét
Chuyện đời còn truyền đạt thế gian
Vẫn đồn đại con chồng mẹ ghẻ
Không chê thiếp hèn hạ ăn xin
Gái theo chồng dĩ nhiên có số
Tơ hồng xe gặp gỡ ơn người”
Đồng thời tác giả cũng sắp xếp cho nhân vật rơi vào cảnh làm người mẹ kế trong
cảnh chồng đánh giặc phương xa ở nhà nuôi nấng con chồng. Nếu như Thị Tương
trong Quảng Tân - Ngọc Lương sinh lòng gian dâm thì ở Thị Lương:
“Chàng đi việc thiên hạ đế vương
Em ở lại trông nom gia thất
Việc nhà thu xếp sửa sang
Đạo tam tong tao khang nghĩa nặng
Việc cửa nhà cáng đáng mặc em”
Hay: “Việc cửa nhà tảo tần em nhận
Chàng cứ đi đừng bận lòng chi
Con chồng có khác gì con đẻ
Dẫu nhà hết gạo sẽ xin ăn
Không để con đói cơm nhịn mặc
Chằng ra đi dẹp giặc chớ buồn
Em đau phải buôn chồng giống ấy
Thế gian thường nói vậy, mẹ sau
Bụng người không như nhau tất cả”
Trong dạy dỗ Trần Châu:“Làm người phải khôn tinh ngay thẳng
Đừng có lòng tục phạm điều nào
Kẻo người nói mẹ sau không bảo
Làm người phải khôn khéo mọi điều
Quân tử nhi trung tiêu biết trọng”
Nếu như xây dựng dì ghẻ chỉ dừng ở đây thì tác phẩm không có gì đặc sắc, Thị
Lương cũng bộc bạch tâm trạng mình theo từng tình tiết nhưng nếu không tạo ra bi
kịch cho nhân vật chính thì tác phẩm như một câu truyện kể dân gian bình thường.
với hoàn cảnh xuất hiện, và qua nhân vật ta cũng thấy rõ được chủ đề tư tưởng của tác
phẩm truyện thơ Nôm Tày – Nùng thể hiện: Chính thắng tà, thiện thắng ác.
Mặc dù việc khắc họa hai hình tượng nhân vật dì ghẻ trong hai tác phẩm hoàn
toàn khác nhau dường như không liên quan tới nhau, nhưng ở phạm vi chuẩn mực xã
hội thì đó là hai hình ảnh đối lập nhau. Cả hai nhân vật đó tồn tại trong bối cảnh giống
nhau, cách xây dựng hành động, tâm lý nhân vật khác nhau nhưng đều mang trong
mình tư tưởng giáo dục là như nhau mà nó được thể hiện ở những lời kết của cả hai
tác phẩm trên.
Dù cách khắc họa nhân vật là khác nhau, tính cách khác nhau nhưng qua nhân
vật dì ghẻ, ta cũng thấy được sự vượt bậc của truyện thơ so với các sáng tác văn học
dân gian khác ở ngôn từ, ở những diến biến tâm trạng nhân vật, ở nội dung của cốt
truyện…. Qua hình ảnh dì ghẻ nói riêng người đọc cũng phần nào mường tượng được
về xã hội đầy mâu thuẫn, xung đột của các dân tộc ít người mà ở đây là dân tộc Tày –
Nùng.