BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đặng Đào Ý Đoan
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỦNG XẠ KHUẨN
SINH HOẠT CHẤT KHÁNG NẤM FUSARIUM
GÂY HẠI TRÊN CÂY CÀ CHUA
(LYCOPERSICON ESCULENTUM MILL.)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đặng Đào Ý Đoan
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỦNG XẠ KHUẨN
SINH HOẠT CHẤT KHÁNG NẤM FUSARIUM
GÂY HẠI TRÊN CÂY CÀ CHUA
(LYCOPERSICON ESCULENTUM MILL.)
Chuyên ngành : Vi sinh vật học
Mã số
: 60 42 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. Fusarium gây bệnh trên cây cà chua ................................................................ 3
1.1.1. Nấm Fusarium ............................................................................................ 3
1.1.2. Cây cà chua ................................................................................................ 8
1.2. Xạ khuẩn ......................................................................................................... 13
1.2.1. Đặc điểm sinh học của xạ khuẩn .............................................................. 13
1.2.3. Các đặc điểm phân loại xạ khuẩn ............................................................. 15
1.2.4. Các chất có hoạt tính sinh học từ xạ khuẩn .............................................. 16
1.3. Chất kháng sinh .............................................................................................. 18
1.3.1. Lược sử nghiên cứu chất kháng sinh ........................................................ 18
1.3.2. Cơ chế tác động của chất kháng sinh ....................................................... 20
1.3.4. Các chất kháng sinh có khả năng kháng nấm từ xạ khuẩn ...................... 22
1.3.5. Tình hình nghiên cứu và sử dụng các kháng sinh có nguồn gốc từ xạ
khuẩn trên thế giới và Việt Nam. ............................................................. 24
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 27
2.1. Vật liệu ............................................................................................................ 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Hóa chất ................................................................................................... 27
2.1.3. Thiết bị và dụng cụ ................................................................................... 27
2.1.4. Các môi trường sử dụng trong nghiên cứu ............................................... 27
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 28
3.6. Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của dịch lên men đến khả năng nảy mầm
của hạt và sự phát triển của cây cà chua trong phòng thí nghiệm .................. 62
3.7. Kết quả thử nghiệm khả năng kháng Fusarium của dich lên men chủng
XK trên cây cà chua trong chậu thí nghiệm ................................................... 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 73
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT
Bào tử
KL
Khuẩn lạc
MT
Môi trường
NXB
Nhà xuất bản
XK
Xạ khuẩn
của chủng S. pseudogriseolus.............................................................. 50
Bảng 3.5.
Ảnh hưởng của nguồn nitơ đến hoạt chất kháng Fusarium của
chủng S. pseudogriseolus .................................................................... 51
Bảng 3.6.
Ảnh hưởng của hàm lượng nitơ đến hoạt tính kháng Fusarium
của chủng S. pseudogriseolus tại 72 h ................................................ 53
Bảng 3.7.
Ảnh hưởng pH ban đầu của MT lên hoạt tính kháng Fusarium
của chủng S. pseudogriseolus sau 72h ................................................ 54
Bảng 3.8.
Ảnh hưởng nhiệt độ của MT lên hoạt tính kháng Fusarium của
chủng S. pseudogriseolus sau 72 h ...................................................... 56
Bảng 3.9.
Động học quá trình lên men sinh tổng hợp chất kháng Fusarium
của chủng S. pseudogriseolus.............................................................. 57
Bảng 3.10.
Hoạt tính kháng Fusarium của chủng S. pseudogriseolus được
Hình 1.6. Cấu trúc của blastixidin S ........................................................................ 23
Hình 1.7. Cấu trúc validamyxin A ........................................................................... 24
Hình 3.1. Hình thái khuẩn lạc một số chủng xạ khuẩn phân lập được .................... 40
Hình 3.2. Hoạt tính kháng Fusarium của 8 chủng XK tuyển chọn được ................ 42
Hình 3.3. Đặc điểm hình thái khuẩn lạc của chủng xạ khuẩn D7 ........................... 43
Hình 3.4. Hệ sợi chủng D7 ...................................................................................... 43
Hình 3.5. Cuống sinh bào tử và bào tử chủng D7 ................................................... 43
Hình 3.6. Kết quả giải trình tự ARNr 16S của chủng D7 ........................................ 44
Hình 3.7. Biểu đồ ảnh hưởng của thành phần MT đến hoạt tính kháng
Fusarium của chủng S. pseudogriseolus theo thời gian ........................ 47
Hình 3.8. Hoạt tính kháng Fusarium của chủng D7 trên 4 loại MT sau 72 h
nuôi cấy. ................................................................................................ 48
Hình 3.9. Ảnh hưởng của nguồn cacbon đến hoạt tính kháng Fusarium của
chủng S. pseudogriseolus ...................................................................... 49
Hình 3.10. Đồ thị ảnh hưởng của hàm lượng cacbon đến hoạt tính kháng
Fusarium của chủng S. pseudogriseolus sau 72 h ................................. 51
Hình 3.11. Biểu đồ ảnh hưởng của nguồn nitơ đến hoạt tính kháng
Fusarium của chủng S. pseudogriseolus sau 72h .................................. 52
Hình 3.12. Đồ thị ảnh hưởng hàm lượng nitơ đến hoạt tính kháng Fusarium
của chủng S. pseudogriseolus ................................................................ 53
Hình 3.13. Ảnh hưởng pH ban đầu của MT lên hoạt tính kháng Fusarium của
chủng S. pseudogriseolus ...................................................................... 55
Hình 3.14. Đồ thị ảnh hưởng nhiệt độ lên hoạt tính kháng Fusarium của
chủng S. pseudogriseolus ...................................................................... 56
Hình 3.15. Động thái quá trình lên men sinh tổng hợp chất kháng Fusarium
của chủng S. pseudogriseolus theo thời gian......................................... 58
Hình 3.16. Biểu đồ hoạt tính kháng Fusarium của chủng S. pseudogriseolus
được chiết bằng các dung môi hữu cơ từ sinh khối ............................... 60
năng suất thu hoạch từ 30-70% trên rau màu. Đặc biệt, Fusarium là tác nhân gây
bệnh trên rất nhiều loại cây trồng, trong đó có cây cà chua. Chúng có thể gây hại
trên mọi giai đoạn sinh trưởng của cây cà chua, làm lá biến vàng héo khô dần, cây
sinh trưởng yếu và cuối cùng toàn cây bị héo chết. Thêm nữa, các bệnh cây do
chúng gây ra có thể lan rộng nhanh chóng thành dịch lớn trên đồng ruộng nhờ gió,
mưa và cả các hoạt động của côn trùng [3,7,11].
Để phòng trừ nấm gây bệnh, người nông dân thường sử dụng nhiều loại thuốc
hóa học. Mỗi năm, Việt Nam sử dụng khoảng 25000 tấn thuốc hóa học diệt sâu
bệnh. Theo thống kê năm 2004, ở Việt Nam có tới 436 loại hóa chất với 1231 tên
thương phẩm hóa học khác nhau [37]. Mặc dù biện pháp này có ưu điểm lớn là diệt
trừ dịch hại nhanh chóng, triệt để, có hiệu quả cao nhưng lại rất tốn kém, gây ô
nhiễm môi trường (MT), làm mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến sức khỏe con
người và vật nuôi.
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế này, xu hướng hiện nay là sử dụng các
tác nhân sinh học hay những sản phẩm trao đổi chất của những tác nhân này để
phòng, trừ bệnh hại cây trồng. Trong số đó, xạ khuẩn (XK) là nhóm có nhiều tiềm
năng nhất vì tỷ lệ loài có khả năng sinh chất kháng sinh cao, trong đó có nhiều chất
kháng sinh có khả năng chống nấm mạnh.
Từ những lí do trên, với mong muốn tìm hiểu và khai thác nguồn tài nguyên VSV
vô cùng phong phú của Việt Nam, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu:
2
“Nghiên cứu một số chủng xạ khuẩn sinh hoạt chất kháng nấm Fusarium gây
hại trên cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill.)”.
2. Mục tiêu
Thu nhận và thử nghiệm tác dụng chất kháng Fusarium gây bệnh trên cây cà
chua từ chủng xạ khuẩn tuyển chọn.
3. Nội dung nghiên cứu
1.1.1. Nấm Fusarium
1.1.1.1. Đặc điểm sinh học
Fusarium là chi lớn nhất trong họ Tuberculariaceae. Chúng sống hoại sinh
hoặc ký sinh trên nhiều cây trồng, cây ăn trái và rau. Hệ sợi nấm phân nhánh, có
vách ngăn, sợi nấm thường không màu và chuyển màu nâu khi già. Hệ sợi nấm sản
sinh độc tố tiết vào hệ mạch gây héo cây chủ. Cơ thể dinh dưỡng dạng sợi đa bào,
phân nhánh phức tạp, vách ngăn có lỗ thủng đơn giản ở giữa, trong tế bào có một
nhân hoặc nhiều nhân. Vách tế bào bằng chitin, glucan. Trên MT nuôi cấy, tản nấm
có thể tơi xốp như bông, bằng phẳng hoặc lan rộng trên bề mặt môi trường. Mặt
trên của tản nấm có màu trắng, kem, vàng cam, đỏ, tím hồng hoặc tím. Mặt dưới có
thể không màu, hoặc vàng cam, đỏ, tía sẫm hay màu nâu. BT lớn hơi cong hình lưỡi
liềm, có 3 – 5 vách ngăn, kích thước từ 27 - 46 x 3 - 5µm. BT nhỏ hình ovan hoặc
elip, kích thước từ 5 – 12 x 2,2 – 3,5µm, không có vách ngăn, BT được hình thành
trong bọc giả.
Fusarium có 2 hình thức sinh sản: sinh sản sinh dưỡng và sinh sản vô tính.
Thiếu giai đoạn sinh sản hữu tính trong vòng đời nên người ta gọi chung là nấm
không hoàn chỉnh hay nấm bất toàn.
- Sinh sản sinh dưỡng: từ 1 sợi nấm riêng rẽ, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ
sinh trưởng và phân nhánh thành hệ sợi nấm. Bào tử hậu (BT màng dày, BT áo) là
những tế bào hơi tròn, có tế bào chất được cô đặc lại, có màng dày bao bọc. Thỉnh
thoảng có bào tử hậu với vách tế bào xù xì hoặc có sắc tố. Ở bào tử này, chất dinh
dưỡng được chuyển từ tế bào kề bên sang tế bào ưu tiên làm tế bào này phồng lên,
chứa nhiều chất dự trữ và có thể chịu đựng những điều kiện bất lợi trong thời gian
dài. Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng sẽ nảy mầm và phát triển thành sợi nấm mới.
- Sinh sản vô tính bằng bào tử (BT) gồm BT đính lớn, BT đính nhỏ
+ BT đính lớn (bào tử lớn) có kích thước 3 – 8 x 11 - 70µm, trong suốt, dài,
nhiều nhân, hình liềm hoặc cong được sinh ra từ cuống bào tử. Đầu và cuối bào tử
lớn thuôn và nhọn. Một vài BT lớn tách rời và không gắn trên cuống BT. Những tế
5
tiết ra fumonisin gây bệnh ung thư thực quản ở người (Mazasass, 1972). Một số
dạng F. solani gây thối cổ rễ cây con họ đậu Hà Lan, đậu cô ve và thối rễ ở các cây
trưởng thành. Các bệnh héo Fusarium thường nghiêm trọng hơn trong điều kiện
thời tiết ấm và ẩm ướt, nhiệt độ trung bình 27 – 300C. Nấm gây bệnh có thể lan
truyền qua hạt giống, cây nhiễm bệnh hoặc lan truyền theo nước tưới và nhờ gió
(Haware , 1978) [45].
Con đường xâm nhiễm của Fusarium từ sợi nấm và bào tử nảy mầm trong tàn
dư cây bệnh và đất xâm nhiễm vào rễ con còn non, sau đó lan dần vào các mạch
xylem. Sau khi phát triển trong mạch xylem sẽ lan lên hệ thống mạch dẫn trong
thân, gây tắc mạch xylem làm giảm lượng nước di chuyển lên cây, khiến cho cây bị
héo rồi chết. Quá trình này gây phản ứng của cây, tạo ra các hợp chất phenol và tạo
ra thể sần có màu nâu (Nene, 1991) [45].
Các triệu chứng bệnh thường thấy do Fusarium gây ra trên cây cà chua con lá
cây không phát triển được và trở nên khô héo. Ở những cây trưởng thành, lá sẽ bị
héo rũ cụp xuống, thường bắt đầu từ các lá chét phía gốc ở một bên cây sau đó lan
ra toàn cây làm cho lá héo rũ, màu vàng. Vết bệnh ở trên thân sát mặt đất hoặc cổ rễ
thường có màu nâu, vết bệnh lớn dần làm khô tóp cả đoạn thân sát mặt đất, bộ rễ
kém phát triển, rễ thối dần và chết đi [3, 7, 9, 18, 20].
1.1.2.3. Các biện pháp phòng trừ nấm Fusarium gây hại trên rau màu
Phòng và trừ bệnh hại là hai mặt không thể tách rời nhau của việc bảo vệ cây
trồng và nông sản nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cao. Các biện pháp phòng trừ có
thể được chia thành các nhóm sau đây dựa trên nguyên lý tác động và phương pháp
sử dụng các biện pháp đó:
• Biện pháp sử dụng giống chống bệnh và giống sạch bệnh
Tuyển chọn các giống chống một loại bệnh hoặc chống một nhóm bệnh có tác
dụng làm giảm tổn thất và giảm chi phí cho các biện pháp phòng trừ khác là biện
pháp có hiệu quả kinh tế cao. Mặt khác, sử dụng giống không mang bệnh để gieo
trồng có tác dụng phòng trừ bệnh trên đồng ruộng rất lớn. Do đó, đây là biện pháp
dụng phổ biến trong thực tế. Tuy nhiên, biện pháp hóa học có một số nhược điểm
lớn như sau:
- Nếu sử dụng không hợp lý, không đúng liều lượng sẽ cho hiệu quả thấp, gây
độc cho người và gia súc cũng như ô nhiễm MT.
- Phần lớn thuốc hóa học có khả năng tiêu diệt nấm bệnh nhưng đồng thời
7
cũng tiêu diệt các sinh vật có ích, làm phá vỡ cân bằng sinh học, gây khó khăn cho
việc áp dụng biện pháp sinh học. Mặt khác, chúng có thể để lại dư lượng trên nông
sản quá mức cho phép.
- Nếu sử dụng liên tục một loại thuốc trừ bệnh ở một vùng dẫn đến có thể làm
cho vi sinh vật gây bệnh thích nghi với thuốc và nhờn thuốc [3, 7, 11].
• Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học trong phòng trừ dịch hại rất đa dạng dựa trên nguyên tắc
chung là sử dụng sinh vật có ích để hạn chế sinh vật có hại [5]. Trong phạm vi đề tài
này chúng tôi chỉ giới thiệu biện pháp sinh học bằng việc sử dụng các chế phẩm
sinh học có nguồn gốc từ các VSV.
Chế phẩm sinh học có ưu điểm không độc cho cây, người và gia súc, không
gây ô nhiễm MT. Chúng có tác dụng duy trì sự cân bằng hệ sinh thái trong MT.
không làm thay đổi kết cấu của đất, còn góp phần tăng độ phì nhiêu cho đất [3, 7,
11, 18]. Chế phẩm sinh học làm tăng khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu
cơ bền vững, các phế thải sinh học, phế thải công nghiệp, nông nghiệp góp phần
làm sạch MT. Các chế phẩm sinh học là những sản phẩm dạng bột, viên, lỏng…có
nguồn gốc trực tiếp từ sinh khối VSV hoặc từ các sản phẩm trao đổi chất của VSV.
Các chế phẩm sinh học rất đa dạng nhưng dựa vào mục đích có thể chia thành 3
nhóm: nhóm dùng cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh, chất
kích thích tăng trưởng bón cho cây trồng; nhóm dùng cho cải tạo đất, xử lý phế thải
nông nghiệp và nhóm dùng để phòng trừ sâu bệnh hại. Đây là nhóm được sử dụng
trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết. Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng
sáng hoặc hơi tối. Hạt nằm trong buồng chứa nhiều dịch bào kìm hãm sự nảy mầm
của hạt. Vòng đời của cây cà chua từ lúc để hạt làm giống là 65 – 80 ngày, được
chia làm các giai đoạn sau:
- Cây giống: lá mầm xuất hiện đầu tiên sau 6 – 10 ngày, sau đó các lá các lá
chét bắt đầu mọc. trong đoạn này thân chưa phân nhánh nhưng hệ rễ phát triển
mạnh mẽ khoảng 30 cm trong 2 tuần.
- Giai đoạn tăng trưởng của cây cà chua: kéo dài trong 4 tuần, giai đoạn này
cây tăng vọt về chiều cao, có thể xuất hiện 4- 5 cành trên thân. Số lượng lá cây phát
triển nhiều, tán lá rộng. Giai đoạn này bắt đầu tích lũy chất dinh dưỡng để chuẩn bị
ra hoa.
- Giai đoạn ra hoa và tạo quả: hoa được thụ phấn quả sẽ trưởng thành sau 50 –
55 ngày sau thụ tinh. Quả chín và có thu hoạch sau đó 2 tuần.
9
Trong vòng đời phát triển của cây cà chua thì giai đoạn cây giống và giai đoạn
ra hoa tạo quả là cây dễ bị nhiễm bệnh.
Cây cà chua có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như đất sét, đất
cát, đất pha cát, có độ pH = 6 – 6.5. Đất có độ ẩm cao và ngập nước kéo dài sẽ làm
giảm khả năng sinh trưởng của cây. Độ ẩm đất thích hợp cho cà chua là 60 – 70%
(Barehyi, 1971), độ ẩm không khí là 78 – 81%. Tuy nhiên, khi độ ẩm không khí quá
cao (> 90%) dễ làm hạt phấn bị trương nứt, hoa bị rụng (Tạ Thu Cúc, 1983). Nhiệt
độ thích hợp cho cà chua để đạt năng suất cao, chất lượng tốt là khoảng 21 – 240C
và thời tiết khô. Nhiệt độ dưới 120C kéo dài sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng, nhiệt độ
trên 270C kéo dài sẽ hạn chế ra hoa, đậu quả. Các tế bào phôi và hạt sẽ bị hủy hoại
khi nhiệt độ trên 380C. Trước và sau thụ phấn nếu nhiệt độ ban đêm quá 210C thì
khả năng đậu quả kém.
1.1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây cà chua
thích hợp. Nói chung, cây ở giai đoạn còn non đang sinh trưởng mạnh, chống chịu
nhiệt độ kém hơn ở giai đoạn già và giai đoạn tĩnh. Mô tế bào chứa nhiều nước
chống chịu nhiệt độ kém hơn mô chứa ít nước. Nhiệt độ MT quá cao kéo dài có thể
làm cho chậm lớn, quả chín không đồng đều, chín ép quá sớm. Trong vụ xuân hè, cà
chua trồng muộn gặp tiết trời khô hạn và nóng dễ bị hiện tượng cuốn lá hàng loạt, lá
thô dày, quả non bị quắt. Cà chua có nhiệt độ tối ưu để đảm bảo sự sinh trưởng và
phát triển tốt nhất là 21 -240C, nếu nhiệt độ ban đên thấp hơn ngày 4 – 50C thì cây
cho nhiều hoa. Nếu nhiệt độ MT quá thấp có thể làm cho lá cây bị rụng, thụ phấn
kém, phấn hoa chết. Mặt khác, nhiệt độ quá thấp làm thay đổi áp lực thẩm thấu của
tế bào, một số lượng nước trong tế bào thoát ra ngoài mang theo một số chất hòa
tan. Sau đó, gây đóng băng ở trong các gian bào làm cho cây có hiện tượng bị héo
và tế bào bị hóa nâu, thân, cành có thể bị nứt hoặc sưng u [5].
- Ánh sáng và tia phóng xạ:
+ Ánh sáng: trong điều kiện thiếu ánh sáng sự sinh trưởng của cây bị cản trở.
Hoạt động quang hợp của lá bị giảm sút, lá cây có màu xanh nhợt nhạt, uốn cong,
vươn quá dài, mềm yếu. Ngoài ra, cấu tạo bên trong của lá bị biến đổi: vách tế bào
mỏng, chống chịu kém, thân yếu. Cường độ chiếu sáng tối thiểu để cây tăng trưởng
là 2.000 – 3.000 lux.
+ Tia phóng xạ: tác động của tia phóng xạ cũng có thể gây ra những trạng thái
bệnh lý của cây làm kìm hãm sinh trưởng, thậm chí tác động với liều lượng cao tia
rơnghen, tia α, β… cây có thể bị chết rụi, hoặc nhẹ hơn cây có thể bị rụng lá, hay lá
11
non không mọc ra được.
- Các khí độc trong không gian và chất độc hóa học
Trong không khí nhất là các vùng công nghiệp tập trung thường có nhiều khí
độc, khói bụi được gió đưa đi xa bao trùm lên cây cối gây ra những tác hại nhất
định. Bụi khói nhà máy có thể gây tình trạng làm tắc lỗ khí khổng ở lá dẫn tới sự
Mỹ và Châu Âu nhưng cuối thế kỉ XVIII, cà chua mới được dùng làm thực phẩm ở
Nga và Italia. Cho đến cuối thế kỉ XIX, cà chua mới thực sự trở thành loại thực
phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày. Ngày nay, cà chua trở thành một
trong những loại rau quả được trồng rộng rãi trên toàn thế giới nhờ có giá trị dinh
dưỡng cao.
Trong thành phần dinh dưỡng của cà chua có chứa nhiều gluxit, nhiều axit hữu
cơ và nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể con người. Cà chua cung cấp năng
lượng và khoáng chất, làm tăng sức sống, giúp cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt,
chống hoại huyết, chống nhiễm khuẩn, chống nhiễm độc, lợi tiểu, dễ tiêu hóa. Vỏ
quả cà chua chứa nhiều chất chống oxy hóa (các hợp chất phenolique, vitamin C và
lycopene). Dịch quả cà chua dùng để uống chống suy nhược, ăn không ngon miệng,
giảm hàm lượng cholesteron chống xơ cứng động mạch, thống phong, thấp khớp,
thừa urê trong máu, sỏi niệu đạo và mật, táo bón, viêm ruột. Đặc biệt, sử dụng cà
chua hay những sản phẩm từ cà chua có thể chống ung thư tuyến tiền liệt, ung thư
vú. Ngoài ra, cà chua còn dùng làm mỹ phẩm, chữa trứng cá. Lá cà chua còn được
dùng để xua đuổi muỗi và ong bò vẽ.
Tuy nhiên, cà chua xanh có thể tiết ra trong tế bào những hợp chất alcaloides
tập hợp lại gọi chung là “Solanine”. Đây là một chất độc hại nguy hiểm cho cơ thể,
giảm khả năng hấp thụ canxi của xương. Nhưng hàm lượng solanine sẽ giảm dần
khi trái chín. Đồng thời, chất solanine sẽ bị phân hủy bởi nhiệt độ khi chế biến.
Ở nước ta, việc phát triển trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về mặt luân
canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích nên là loại rau được khuyến
khích phát triển. Tuy nhiên, việc trồng cà chua chưa được phát triển mạnh như
mong muốn do có nhiều tác nhân gây bệnh .Trong đó, Fusarium là đối tượng gây
hại phổ biến nhất, làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng.
Theo nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học thì một trong những tác nhân có khả
năng phòng trừ Fusarium có hiệu quả đó chính là xạ khuẩn.
13
Khác với các VSV khác, khuẩn lạc XK thường ở dạng thô ráp, chắc, xù xì,
dạng phấn, không trong suốt, có nếp tỏa ra theo hình tia phóng xạ. Kích thước KL
thay đổi tùy loài xạ khuẩn và điều kiện nuôi cấy. Đường kính của mỗi khuẩn lạc XK
chỉ chừng 0,5 – 2 mm nhưng cũng có những KL đạt tới 1 cm hoặc lớn hơn. Khuẩn
lạc XK có nhiều màu sắc khác nhau: đỏ, da cam, vàng, nâu, xám, trắng…[5,
9,10,14, 17, 28]. Khuẩn lạc có cấu trúc 3 lớp: lớp vỏ ngoài có dạng sợi bện chặt, lớp
trong tương đối xốp, lớp giữa có cấu trúc tổ ong.
Hệ sợi của XK chia ra thành khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khí sinh. Đường
kính của khuẩn ty thay đổi trong khoảng từ 0,2 – 1,0 µm đến 2 - 3µm. Đa số xạ
khuẩn có khuẩn ty không có vách ngăn và không tự đứt đoạn. Khuẩn ty có màu sắc
phong phú màu trắng, vàng, da cam, lam, tím…[38]. Khuẩn ty cơ chất phát triển
một thời gian thì dài ra trong không khí thành những khuẩn ty khí sinh. Sau một
thời gian phát triển, trên đỉnh của khuẩn ty khí sinh sẽ xuất hiện các cuống BT và
chuỗi BT. Cuống BT có thể có nhiều hình dạng khác nhau tùy loài: thẳng, lượn
sóng, xoắn, móc, vòng…
14
Về cấu trúc
Thành tế bào XK gồm 3 lớp: lớp màng ngoài dày khoảng 60 – 120 AO, khi già
có thể là 150 AO, lớp giữa rắn và chắc hơn, dày khoảng 50AO, lớp trong dày 50 AO
được cấu tạo chủ yếu từ các lớp glycopeptit gồm các gốc N–axetylglucozamin
(NAG) liên kết với các axit N–axetylmuramic (NAM) bởi các liên kết β 1, 4 –
glycozit. Thành tế bào có tác dụng duy trì hình dáng của khuẩn ty và bảo vệ tế bào.
Màng tế bào XK dày khoảng 7,5 – 10 nm, chứa nhiều enzim tham gia quá
trình trao đổi chất và quá trình vận chuyển các chất qua màng. Màng tế bào được
cấu tạo chủ yếu bởi hai thành phần photpholipit và protein [4,5, 43, 50, 51].
Nhân chưa phân hóa hình thái, chúng thuộc loại tế bào tiền nhân. Một trong
những đặc điểm đáng lưu ý của XK là chúng không bền vững về mặt di truyền và