BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Nguyễn Hoàng Mai
PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT ÂM HỌC
CỦA HỆ THỐNG NGUYÊN ÂM
TIẾNG BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Lê Nguyễn Hoàng Mai
PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT ÂM HỌC
CỦA HỆ THỐNG NGUYÊN ÂM
TIẾNG BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số
: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
4. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................8
5. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................8
6. Cấu trúc luận văn ...........................................................................................................9
CHƯƠNG 1: TÍN HIỆU ÂM THANH CỦA NGUYÊN ÂM ................................ 11
1.1. Một số vấn đề về sóng âm ..........................................................................................11
1.1.1. Sự hình thành của sóng âm..................................................................................11
1.1.2. Cộng hưởng và họa âm .......................................................................................11
1.2. Đặc trưng âm học của nguyên âm ............................................................................12
1.2.1. Âm sắc của nguyên âm ........................................................................................12
1.2.2. Formant ...............................................................................................................13
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG BÌNH ĐỊNH
..................................................................................................................................... 19
2.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Bình Định ..............................................................................19
2.2. Hệ thống âm đầu tiếng Bình Định ............................................................................21
2.3. Hệ thống âm cuối tiếng Bình Định ...........................................................................22
2.4. Hệ thống âm chính tiếng Bình Định ........................................................................24
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ NGỮ
LIỆU ........................................................................................................................... 28
3.1. Quy trình và phương pháp thu thập ngữ liệu...........................................................28
3.1.1. Xác định vùng nghiên cứu và đối tượng ngôn ngữ..............................................28
3.1.2. Lựa chọn tư liệu viên ...........................................................................................29
3.1.3. Ngữ liệu ...............................................................................................................31
3.1.4. Thiết bị thu âm .....................................................................................................31
3.2. Phương pháp xử lý ngữ liệu ......................................................................................31
3.2.1. Phương pháp đo tần số formant của nguyên âm .................................................31
3.2.2. Phương pháp đo trường độ nguyên âm ...............................................................35
5.1.3. Đặc trưng âm sắc của nguyên âm /i͜ɤ/.................................................................84
5.2. Nguyên âm /ɯ͜ɤ/ .........................................................................................................85
5.2.1. Nguyên âm /ɯ͜ɤ/ qua cách phát âm của 12 tư liệu viên ......................................85
5.2.2. Sự triệt tiêu yếu tố thứ hai của nguyên âm /ɯ͜ɤ/ .................................................91
5.2.3. Đặc trưng âm sắc của nguyên âm /ɯ͜ɤ/ ..............................................................98
5.3. Nguyên âm /u͜ɤ/ ........................................................................................................100
5.3.1. Sự thể hiện của /u͜ɤ/ qua cách phát âm của 12 tư liệu viên...............................100
5.3.2. Sự triệt tiêu yếu tố thứ hai của nguyên âm /u͜ɤ/ ................................................105
5.3.3. Đặc trưng âm sắc của nguyên âm /u͜ɤ/ ..............................................................113
5.3.4. Giải pháp âm vị học...........................................................................................115
Chương 6 TRƯỜNG ĐỘ NGUYÊN ÂM TRONG TIẾNG BÌNH ĐỊNH ........ 117
6.1. So sánh giá trị trường độ của các cặp nguyên âm .................................................118
6.1.1. [ɐ] “-ơi”, [ɤ] và [ɐ] “-ây” ...............................................................................118
6.1.2. [ɐ] “-ân, -âng” , [ɐ] “-ông” và [o] “-ôn” .......................................................118
6.1.3. [ɐ] “-ât, -âc”, [ɐ] “-ôc” và [o] “-ôt”...............................................................119
Cũng như “-ân, -âng”, “-ông” và “-ôn”, trường độ giữa “-ât, -âc”, “-ôc”, “-ôt” cũng
có kết quả tương tự: nguyên âm trong “-ât, -âc” và “-ôc” có độ dài gần tương đương
nhau và ngắn hơn hẳn so với “-ôt”................................................................................119
6.1.4. [ɤ] và [ɐ] ...........................................................................................................120
âm.
- Khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về nguyên âm tiếng Bình Định, chúng tôi nhận
thấy hướng nghiên cứu thực nghiệm về âm học chưa được chú ý. Phương pháp hay dùng để
miêu tả nguyên âm tiếng Bình Định là lắng nghe cách phát âm của người bản ngữ rồi ghi
chép lại. Khuyết điểm của việc nghiên cứu ngữ âm bằng cách này là nó thiếu tính chính xác
vì bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan của nhà nghiên cứu. Trước tình hình đó, chúng tôi
nhận thấy rằng một nghiên cứu chuyên biệt về đặc trưng âm học của các nguyên âm trong
tiếng Bình Định là hết sức cần thiết.
- Việc nghiên cứu ngữ âm của một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều thời gian để thu thập ngữ
liệu. Vốn sinh ra ở Bình Định và có nhiều người than sinh sống tại đây, người viết có nhiều
thuận lợi hơn trong việc lưu trú để thực hiện nghiên cứuu, cũng như có điều kiện để tiếp xúc
với các tư liệu viên.
2. Mục đích nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu các đặc trưng âm học của hệ thống nguyên âm tiếng
Bình Định. Trên cơ sở phân tích các bản ghi âm của các tư liệu viên nam và nữ, người viết
tiến hành xác định sự thay đổi về đặc trưng âm học của các nguyên âm trong tiếng Bình
Định so với tiếng Việt chuẩn và đưa ra hệ thống âm vị riêng cho tiếng Bình Định.
- Người viết hy vọng những kết quả nghiên cứu trong luận văn này có thể cung cấp nền
tảng ban đầu cho các nghiên cứu toàn diện hơn và sâu sắc hơn về tiếng địa phương Bình
Định nói riêng và tiếng địa phương khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm âm học của các nguyên âm đóng vai trò âm
chính xuất hiện trong các từ đơn tiết. Một sự giới hạn như vậy nhằm bảo đảm tránh trường
hợp nguyên âm bị nhược hoá.
Các nguyên âm chủ yếu bị ảnh hưởng bởi phụ âm cuối, do đó các nguyên âm sẽ được
phân tích trong mối tương quan với các phụ âm sau nó.
-
Tư liệu viên: Đề tài này phân tích các mẫu thu âm của 12 tư liệu viên, trong đó bao
gồm 5 nam và 7 nữ; 6 người đến từ huyện Tuy Phước và 6 người đến từ huyện An Nhơn.
-
Ngữ liệu: Để thực hiện các bản ghi âm, chúng tôi sử dụng một danh mục các từ phổ
biến trong đời sống hằng ngày, chứa các nguyên âm trong các bối cảnh khác nhau.
5.2. Phương pháp xử lý ngữ liệu
-
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích ngữ âm học bằng phần mềm Praat Praat
(phiên bản 5.3.17) trên cơ sở xác định các formant F1, F2, F3.
-
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của thống kê để xử lý bộ số liệu thu
được sau khi phân tích ngữ âm học.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn này được bố cục thành 06 chương như sau:
Chương 1: Trình bày cơ sở lý thuyết về tín hiệu âm thanh của nguyên âm (sóng âm,
cộng hưởng, hoạ âm, âm sắc, formant,…) làm cơ sở cho việc phân tích ngữ âm ở các
chương sau.
Chương 2: Trình bày một số vấn đề về âm vị học tiếng Bình Định. Trong chương này
chúng tôi trình bày những vấn đề âm vị đáng chú ý trong tiếng Bình Định và đưa ra một số
nghi vấn cần làm rõ. Những nghi vấn này sẽ được giải quyết bằng việc phân tích ngữ âm
Chẳng hạn, một chiếc quạt cũng có thể tạo ra dao động trong không khí nhưng dao động đó,
mặc dù vẫn được cảm nhận, tuyệt nhiên không phải là âm thanh (Peter Ladefoged 1996: 8).
Tiếng nói của con người chính là các sóng âm được tạo ra bởi hoạt động của cơ quan cấu
âm, mà trong đó đáng kể nhất là sự đóng mở của dây thanh. Dây thanh đóng tạo nên một áp
lực không khí từ phổi đưa lên, áp lực này được giải phóng khi dây thanh mở. Việc đóng mở
dây thanh liên tục tạo nên một nguồn dao động, chính là nguồn sóng âm của tiếng nói.
1.1.2. Cộng hưởng và họa âm
Mỗi nguồn âm đều là một thể rung động (moving body). Sự lan truyền rung động từ
thể này sang thể khác có thể làm nảy sinh hiện tượng cộng hưởng, theo đó âm thanh phát ra
sẽ được khuếch đại. Chẳng hạn, dây đàn kéo căng khi rung động có thể tạo ra âm thanh, tuy
nhiên âm thanh đó rất nhỏ nếu không có thùng đàn. Bởi vì với sự rung động nhỏ của dây
đàn, có rất ít phân tử không khí chuyển động quanh dây đàn. Trong khi đó nếu có thùng đàn
thì rung động của không khí do dao động của dây đàn gây ra sẽ lan truyền tới khối không
khí trong thùng đàn, làm cho dao động trở nên lớn hơn nhiều lần, theo đó, âm thanh cũng
lớn hơn nhiều lần. Hiện tượng như vậy gọi là cộng hưởng, thùng đàn gọi là hộp cộng hưởng.
Bên cạnh việc khuếch đại âm thanh thì hộp cộng hưởng còn có tác dụng tạo nên âm sắc của
âm, tức là nét đặc trưng phân biệt âm này với âm khác.
Đối với quá trình tạo tiếng nói thì khoang mũi và khoang miệng đóng vai trò hộp cộng
hưởng (gọi là “khoang cộng hưởng”). Sự thay đổi hình dáng và kích thước của khoang cộng
hưởng có thể ảnh hưởng đến âm sắc của âm, do đó khi phát âm các âm khác nhau thì kích
thước và hình dạng khoang miệng có thể thay đổi (nhờ vào sự kết hợp và thay đổi vị trí của
các bộ phận cấu âm bên trong như răng, lưỡi, môi, v.v.), khiến cho dao động phức tạp của
không khí thay đổi, từ đó tạo nên các âm khác nhau.
Một sóng âm, chẳng hạn như tiếng nói hoặc âm thanh của các nhạc cụ, được tạo ra bao
gồm nhiều sóng thành phần, trong đó có một sóng âm chính có tần số thấp nhất f0, gọi là âm
cơ bản, và nhiều hoạ âm (hay còn gọi là bội âm) có tần số cao hơn tần số cơ bản (là bội số
nguyên của tần số sóng âm chính). Các hoạ âm này chủ yếu phụ thuộc vào hình dạng và
kích thước của các khoang cộng hưởng tạo nên âm sắc của từng âm.
dạng và kích thước khác nhau của bộ máy cấu âm. Những âm khác nhau ở âm sắc thì các
họa âm có biên độ khác nhau làm cho đồ thị dao động âm của các âm không giống nhau,
mặc dù độ cao và độ to của chúng có thể như nhau.
1.2.2. Formant
Như đã nói ở trên, âm sắc của các nguyên âm phụ thuộc vào cấu trúc các hoạ âm do sự
cộng hưởng của cơ quan cấu âm. Vì thế một trong những cách tốt nhất để mô tả nguyên âm
là xác định tần số của các hoạ âm – các formant – mà quan trọng nhất là ba formant đầu
tiên. Formant đầu tiên là formant có tần số thấp nhất, kí hiệu là F1, kế đến là formant F2 cao
hơn và cuối cùng là F3 cao hơn nữa. Ngoài ra, còn có các formant cao hơn nhưng những
formant này không nhiều giá trị về mặt ngôn ngữ học vì nó chỉ liên quan chủ yếu đến
“giọng” riêng của từng người nói chứ không tiêu biểu cho âm sắc đặc trưng của các nguyên
âm khác nhau. Trong các ngôn ngữ có số lượng nguyên âm lớn thì ngoài formant, độ dài
cũng là yếu tố dùng để khu biệt các nguyên âm.
Các formant sẽ có giá trị nhất định tương ứng với mỗi hình dạng kích thước của bộ máy
cấu âm. Hình dạng và kích thước đó có thể được thay đổi thông qua việc dịch chuyển vị trí
của lưỡi, ngạc mềm và hình dạng môi. Các phổ (spectrogram) sau đây cho thấy formant của
các nguyên âm trong các từ “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo” do tác giả phát âm:
Hình 1.1. Phổ của từ “bê”
Hình 1.2. Phổ của từ “be”
Hình 1.3. Phổ của từ “bơ”
Hình 1.4. Phổ của từ “ba”
Hình 1.5. Phổ của từ “bư”
590
870
1340
600
650
1040
F2
2020
2960
1370
1490
2230
900
880
1330
400
"bê"
"bo"
"bô"
600
800
"ba"
1000
1200
1400
1600
F1
Hình 1.9a. Sơ đồ các nguyên âm trong “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo”
Nếu ta đảo các trục F1, F2, sơ đồ trên sẽ thành:
3500
3000
2500
bơ
1000
bu
1400
bo
1600
Hình 1.9b. Sơ đồ các nguyên âm trong “bê, be, bư, bơ, ba, bu, bô, bo”
Ta thấy, có sự tương quan nhất định giữa F1, F2 và vị trí của nguyên âm. Nguyên âm
hàng trước như [i], [e], [ɛ], [a] có F2 cao hơn các nguyên âm hàng sau [u], [o], [ɔ]. Trong
khi đó, các nguyên âm có độ nâng lưỡi cao như [i], [ɯ], [u] có F1 thấp hơn hẳn các nguyên
âm có độ nâng lưỡi thấp như [a]. Nói cách khác, khi lưỡi nâng lên cao thì giá trị của formant
F1 sẽ giảm; lưỡi đưa về trước thì giá trị formant F2 sẽ tăng.
F2
0
F1
Hình 1.10. Hình thang nguyên âm biểu diễn quan hệ của các nguyên âm với giá trị F1, F2
Tuy nhiên, có những trường hợp mà F1 và F2 vẫn chưa đủ để phân biệt các nguyên âm,
Vần
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
Tuy nhiên, sơ đồ âm tiết lý tưởng của tiếng Việt như trên chỉ phản ánh đúng cấu trúc
âm tiết trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung. Ở phương ngữ Nam, trong đó có tiếng
Bình Định, sơ đồ âm tiết tiếng Việt đơn giản hơn, trong đó phần vần chỉ gồm hai bộ phận là
âm chính và âm cuối. Âm đệm [-w-] không tồn tại trong cấu trúc âm tiết ở vùng này.
Thanh điệu
Âm đầu
Vần
Âm chính
Âm cuối
Cụ thể là, các âm tiết có âm đệm ở phương ngữ Bắc và Trung ở Bình Định được phát
âm theo hai xu hướng:
- Xu hướng thứ nhất là triệt tiêu hoàn toàn âm đệm, các thành phần còn lại của âm
tiết giữ nguyên.
- Xu hướng thứ hai là triệt tiêu âm đệm, nhưng sự triệt tiêu này gây ra ảnh hưởng đến
các thành phần còn lại của âm tiết, cụ thể là âm đầu và âm chính, tạo nên những âm đầu và
âm chính khác so với âm tiết gốc ở phương ngữ Bắc và Trung (Hoàng Thị Châu 2004: 121124).
Xu hướng thứ nhất chiếm đa số trong các trường hợp phát âm âm tiết vốn có âm
đệm. Chẳng hạn, âm tiết “xoăn” [swăn1] được phát âm thành “xăn” [săn1], “tuyển” [twiɤn4]
phát âm thành “tiển” [tiɤn4], “loè loẹt” [lwɛ2 lwɛt6] thành “lè lẹt” [lɛ2 lɛt6].
2. Đối với trường hợp âm đệm kết hợp với âm chính là [a] mà âm đầu không phải là
âm mạc, xu hướng đồng hoá nguyên âm mặc dù chiếm đa số nhưng bên cạnh đó vẫn xuất
hiện xu hướng triệt tiêu âm đệm. Chẳng hạn, “soạn” [ʂwan6] được đọc là [ʂɔ:n6], nhưng vẫn
có người đọc là [ʂan6].
3. Đối với trường hợp âm đầu là zero, âm chính là [a] thì mặc dù xu hướng đồng hoá
nguyên âm nổi trội hơn, vẫn có trường hợp âm đầu zero bị chuyển thành âm [w-]. Nghĩa là
“oán” ngoài cách phát âm phổ biến [ɔ:n5] vẫn có cách phát âm [wan5]. Trong khi đó, ở Nam
Bộ, cách phát âm chủ đạo lại là [wan5].
4. Các âm tiết bắt đầu bằng âm [χ] và âm chính là [a], như “khoai”, ở Bình Định,
được phát âm theo cả hai cách: đồng hoá âm [χ] thành [f] (thành [faj1]) và giữ lại âm [χ]
nhưng đồng hoá nguyên âm (thành [χɔ:j1]). Theo quan sát của chúng tôi và nhận xét của
nhiều người địa phương, ở Bình Định hiện nay, cách đọc chuyển “kh” thành “ph” chủ yếu
gặp ở người già và các vùng kém phát triển hơn của tỉnh. Đa số các tư liệu viên mà chúng
tôi tiếp xúc đều đọc theo cách thứ hai, tức là đồng hoá nguyên âm [a]. Cách đọc thứ hai này
không tìm thấy ở Nam Bộ.
Từ ba trường hợp vừa nêu ở trên, chúng tôi cho rằng trong những âm tiết có âm
chính là [a], tiếng Bình Định có xu hướng xử lý âm đệm bằng cách đồng hoá nguyên âm [a]
hơn là triệt tiêu hẳn âm đệm hoặc đồng hoá phụ âm đầu như ở Nam Bộ. Đây là một trong
những đặc trưng hết sức đáng chú ý.
2.2. Hệ thống âm đầu tiếng Bình Định
Trong bảng phụ âm đầu của tiếng Việt chuẩn (chủ yếu dựa theo cách phát âm của Hà
Nội), âm [z] bao gồm cả phụ âm đầu trong các âm tiết “da” (trong “da thịt”), “gia” (trong
“gia đình”). Cách phát âm “da” [ja1] như ở phương ngữ Nam không tồn tại trong cách phát
âm ở phương ngữ Bắc. Ở vùng phương ngữ Nam, âm [z] được nhất loạt đổi thành [j]. Nói
cách khác, hệ thống âm vị của phương ngữ Nam thay thế âm [z] thành [j]. Ngoài ra, sự phân
biệt giữa [v] và [j] cũng mất đi. Do đó các từ “già”, “dà”, “và” được đọc giống nhau, thành
[ja2] (Hoàng Thị Châu 2004: 148). Ngoài đặc điểm trên, âm đầu trong tiếng Bình Định còn
mang một đặc điểm khác nữa của khu vực Nam Trung Bộ, hoàn toàn khác với các phương
Hữu
Xát
Cuối
Thanh
Thẳng Cong
lưỡi
lưỡi
hầu
t
b
d
Vang
m
n
Vô thanh
k
ɲ
ŋ
ʐ
χ
h
ɣ
j
2.3. Hệ thống âm cuối tiếng Bình Định
So với hệ thống 8 âm cuối trong phương ngữ Bắc thì hệ thống âm cuối của tiếng Bình
Định chủ yếu khác biệt ở hai cặp âm [n] - [t] (biểu hiện trên chữ viết là “n” và “t”) và [ŋ] [k] (biểu hiện trên chữ viết là “nh, ng” và “c, ch”).
Trước hết, chúng ta hãy xem xét cặp phụ âm [ŋ] - [k] trong phương ngữ Bắc khi được
phát âm bởi ngưởi Bình Định. Bảng sau đây cho thấy sự khác biệt trong cách phát âm của
tiếng Bình Định so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam Bộ khi kết hợp với 3 nguyên
âm đơn hàng trước:
Phương ngữ Bắc
Tiếng Bình Định
Phương ngữ Nam Bộ
Bệch [bek6]
[bɤt6]
[bɤt6]
Như vậy, trong trường hợp kết hợp với âm chính là các nguyên âm hàng trước [i, ɛ,
e] thì phụ âm cuối [ŋ] và [k] bị chuyển thành [n], [t] đồng thời với việc dịch chuyển nguyên
âm vào hàng giữa. Như vậy, sự biến mất của kết hợp [i, e, ɛ] với [ŋ] và [k] trong tiếng Bình
Định dẫn đến sự biến mất của một biến thể [ŋ’] và [k’] ngạc hoá vốn có trong tiếng Việt
chuẩn.
Các âm tiết được phát âm với âm cuối [ŋ] và [k] trong tiếng Bình Định còn bao gồm
cả các âm tiết mà trong phương ngữ Bắc được phát âm với âm cuối [n], [t]. Sau đây là tình
hình biến đổi của cặp [n], [t] trong phương ngữ Bắc khi được người Bình Định phát âm:
Phương ngữ Bắc
Tiếng Bình Định
Phương ngữ Nam Bộ
Mịn [min6]
[min6]
[mɪn6]
Men [mɛn1]
đổi. Tất cả những trường hợp còn lại [n], [t] đều nhất loạt chuyển thành [ŋ], [k]. Do đó chỉ
có trong tiếng Bình Định và các phương ngữ thuộc nhóm phương ngữ Nam khác, [ɤ] mới
có thể đi với [ŋ] (“mơn trớn” [mɤn1 ʈɤn5] đọc thành “mơng trớng” [mɤŋ 1 ʈɤŋ 5]).
Như vậy, ta có quy trình hình thành hai cặp âm [n], [t] và [ŋ], [k] trong tiếng Bình
Định như sau: