BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hồng Nhung
PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ
TỈNH VĨNH LONG
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hồng Nhung
PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ
TỈNH VĨNH LONG
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Chuyên ngành : Địa lí học
Mã số
: 60 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Nguyễn Thị Hồng Nhung
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................. 6
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 6
3. Giới hạn về phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 7
4. Lịch sử nghiên cứu của đề tài ........................................................................................ 7
5. Hệ thống quan điểm và các phương pháp nghiên cứu .............................................. 10
6. Những đóng góp chính của luận văn........................................................................... 12
7. Cấu trúc luận văn ......................................................................................................... 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH
TRỒNG CÂY ĂN QUẢ ............................................................................................ 14
1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................................ 14
1.1.1. Các khái niệm chung............................................................................................. 14
1.1.2. Vai trò của sản xuất cây ăn quả ............................................................................. 19
1.1.3. Phân loại và đặc trưng cây ăn quả ........................................................................ 23
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành trồng cây ăn quả ....................... 25
1.1.5. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển ngành trồng cây ăn quả theo hướng bền vững28
1.2. Cơ sở thực tiễn về phát triển cây ăn quả ................................................................. 29
1.2.1. Vài nét về tình hình phát triển cây ăn quả ở Việt Nam ......................................... 29
1.2.2. Vài nét về tình hình phát triển cây ăn quả của vùng Đồng bằng sông Cửu Long 39
3.2.2. Nhóm giải pháp về khoa học & công nghệ........................................................ 115
3.2.3. Phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lao động .................................................. 118
3.2.4. Về chính sách, tổ chức và quản lí trong sản xuất ............................................... 119
3.2.5. Phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ sản xuất và tiêu thụ. ...................................... 122
3.2.6. Nhóm giải pháp về quản lí và phát triển thị trường ............................................ 123
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 136
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 139
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
• BĐKH: Biến đổi khí hậu.
• CAQ: Cây ăn quả.
• DLST: Du lịch sinh thái.
• ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long.
• EurepGAP: Tiêu chuẩn châu Âu về thực hành nông nghiệp tốt.
• FAO: (Food and Agriculture Organization) Tổ chức lương thực thế giới.
• GTVT: Giao thông vận tải.
• GO: Tốc độ tăng giá trị sản xuất.
• GAP (Good Agriculture Practices - GAP): Thực hành nông nghiệp tốt.
• GMP (Good Manufacturing Practices): Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt nhằm đảm
bảo điều kiện vệ sinh an toàn cho sản xuất.
• HTX: Hợp tác xã.
• HACCP: Hệ thống quản lí an toàn chất lượng thực phẩm hữu hiệu và được thế giới
công nhận.
• ISO: Tiêu chuẩn hóa chất lượng.
• IPM (Intergrate Pest Management): Quản lí dịch hại tổng hợp.
39.159ha, đứng thứ 2 ở ĐBSCL. Sản lượng CAQ của cả tỉnh cung cấp cho thị trường gần
400 ngàn tấn/năm với nhiều chủng loại đặc sản như: bưởi Năm Roi, cam sành, nhãn, sầu
riêng Ri 6, măng cụt, bòn bon,… Đó được xem là tài sản quí trong nhân giống cũng như lai
tạo ra các nông sản hàng hóa mang tính cạnh tranh trên thị trường.
Mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng ngành trồng CAQ của tỉnh Vĩnh Long hiện đang
đối mặt với hàng loạt hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển như: Thị trường chưa
ổn định (giá cả lại bấp bênh, điệp khúc “được mùa rớt giá” vẫn thường xuyên xảy ra làm
cho nông dân dè dặt trong quyết định đầu tư,… ); Nhiều nguyên liệu sản xuất phụ thuộc rất
lớn vào nhập khẩu như: phân bón, nông dược,… Phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng sâu rộng, nhưng các sản phẩm CAQ Việt Nam nói chung và của
Vĩnh Long nói riêng có sức cạnh tranh thấp về giá cả, năng suất và chất lượng; Sự biến đổi
khí hậu diễn ra ngày càng sâu rộng đang là thách thức chung đối với toàn ngành nông
nghiệp và sự phát triển CAQ nói riêng của tỉnh Vĩnh Long.
Trong bối cảnh như vậy, việc chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển cây ăn quả tỉnh
Vĩnh Long theo hướng bền vững” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn. Đề tài được
thực hiện sẽ góp phần giải quyết những khó khăn và khai thác tiềm năng sẵn có trong việc
sản xuất CAQ của tỉnh Vĩnh Long. Kết quả đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc
qui hoạch, định hướng phát triển CAQ của Vĩnh Long theo hướng bền vững trong giai đoạn
2014 - 2020.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
6
Trên cơ sở vận dụng những vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển CAQ, đề tài tập
trung phân tích hiện trạng phát triển CAQ của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2001-2011. Từ đó,
đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển CAQ của tỉnh Vĩnh Long theo hướng bền
vững đến năm 2020.
2.2. Nhiệm vụ
triển CAQ. Theo Tác giả, “ về đất, CAQ cần trước hết phải là đất có kết cấu tốt, tơi, thoáng,
giữ được nhiều nước, nhiều ôxy,... hướng vườn ở chỗ dãi nắng,... [13]
Ngoài các nhân tố tự nhiên: đất đai, khí hậu,… thì yếu tố kĩ thuật trồng CAQ cũng là
vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm. Theo Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận (1991)
đã chỉ ra rằng: Muốn trồng CAQ đem lại hiệu quả cao, phải chọn giống sạch bệnh, khỏe, giữ
được phẩm chất. Tác giả còn đi sâu hướng dẫn kĩ thuật nhân giống hữu tính (gieo hạt); vô
tính (chiết, ghép, giâm cành,…). [29] Cùng đề cập đến vấn đề này, có các Tác giả:
GS.TS.Trần Thế Tục, TS.Cao Anh Long, PGS.TS. Phạm Văn Côn, TS. Hoàng Ngọc Thuận
và TS. Đoàn Thế Lư cũng đã nêu các yêu cầu kĩ thuật trồng và chăm sóc CAQ như về thời
vụ trồng, đào hố, chế độ bón phân với nhiều loại CAQ. [30] Những kĩ thuật trên đã và đang
được ứng dụng rộng rãi trong trồng CAQ ở nước ta và đem lại nhiều hiệu quả thiết thực.
Ngoài những yếu tố trên, để CAQ được đầu tư đúng hướng thì việc đánh giá hiệu quả
kinh tế của nó trong cơ cấu cây trồng cũng là vấn đề rất quan trọng cho sản xuất. Bàn về vấn
đề này, Tác giả Vũ Công Hậu nhận định: trồng CAQ có hiệu quả kinh tế cao so với nhiều
cây trồng khác, một số công trình điều tra cho thấy, hiện nay thu nhập về CAQ cao gấp 3 - 4
lần so với lúa trên cùng đơn vị diện tích canh tác. Chính nhờ bán được giá cao nên phong
trào trồng CAQ đang lên mạnh và xu hướng này có thể kéo dài, tình hình kinh tế được cải
thiện, lương thực được đảm bảo. [13]
Trong bất kì ngành sản xuất nào cũng vậy, công tác qui hoạch luôn là yêu cầu tất
yếu. Nói về công tác qui hoạch cho vùng trồng CAQ, tiêu biểu có Tác giả Hoàng Ngọc
Thuận (1998) đã nêu rõ: trong qui hoạch vùng trồng CAQ, cần chú trọng các căn cứ để xây
dựng vùng CAQ cả về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đồng thời giải quyết các kĩ thuật
trong qui hoạch như: thiết kế vườn, dự kiến kế hoạch sản xuất, đầu tư vốn,… [29] Đây
chính là những nội dung không thể thiếu trong sản xuất CAQ.
Ngoài những nhân tố trên, để sản xuất đạt hiệu quả và duy trì lâu dài, vấn đề có ý
nghĩa sống còn đối với mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất - đó là thị trường tiêu thụ.
Chính vì tầm quan trọng này, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về yếu tố thị trường
trong sản xuất, cụ thể là: Viện Qui hoạch và KTNN (1993) đã chỉ ra rằng: Trong mỗi giai
đoạn phát triển kinh tế nhất định thì nhu cầu về sản phẩm quả nhất định phải khác nhau.
canh CAQ đặc sản có triển vọng và đưa ra giải pháp nhằm tổ chức nhân rộng những mô
hình sản xuất có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
Ngoài ra, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đặc biệt là
phát triển cây có múi, cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ khâu sản xuất giống đến kĩ
thuật canh tác, nghiên cứu tác nhân gây sâu bệnh, giúp nhà vườn phòng trừ hiệu quả, đẩy
mạnh các biện pháp công nghệ trước và sau thu hoạch, tìm hiểu thị trường, giải pháp tiêu
thụ, tìm đầu ra cho sản phẩm cây có múi. Trên cơ sở đó, đề tài: “ Nghiên cứu giống CAQ có
năng suất, chất lượng và các biện pháp kĩ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất trên cây có múi
9
tại tỉnh Vĩnh Long” đã được thực hiện với sự tham gia của Trường Đại học Cần Thơ, Viện
Nghiên cứu CAQ miền Nam, Sở NN và PTNT Vĩnh Long và Sở Khoa học Công nghệ- Môi
trường Vĩnh Long.
Mặt khác, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế vườn CAQ, tỉnh cũng đã chủ trương đẩy
mạnh khai thác tiềm năng vườn CAQ bằng biện pháp kết hợp phát triển du lịch sinh thái.
Năm 2009, có công trình “ Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao
của Vĩnh Long”. Đề tài đi sâu phân tích những điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội để phát
triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao với các vườn CAQ trĩu quả của vùng nông thôn Nam
Bộ. Qua đó, tỉnh có cơ sở định hướng, qui hoạch tập trung đầu tư các dự án phát triển sản
phẩm du lịch có tính đặc thù, riêng biệt vùng sông nước miệt vườn nhằm nâng cao thu nhập
cho nhà vườn và góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
của Vĩnh Long theo hướng tích cực.
Ngoài những công trình trên, Vĩnh Long chưa có công trình nào nghiên cứu về hiệu
quả kinh tế, tính cạnh tranh, tiềm năng và thực trạng, đồng thời cũng chưa có công trình
nghiên cứu nào nhằm mang lại định hướng và giải pháp cho phát triển CAQ tỉnh Vĩnh Long
theo hướng bền vững. Tuy nhiên, với các công trình nghiên cứu trên sẽ là những tài liệu
tham khảo quí giá cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Phát triển cây ăn
quả tỉnh Vĩnh Long theo hướng bền vững”.
Phương pháp này cho phép tính kế thừa, tích lũy thành tựu của quá khứ. Đây là
phương pháp được sử dụng hầu như xuyên suốt trong luận văn, bao gồm 2 giai đoạn: thu
thập tài liệu và xử lí tài liệu. Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn gồm có các dạng:
tài liệu chuyên khảo, số liệu thống kê từ các cơ quan ban ngành; một số luận văn, luận án,
đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước; một số tạp chí,… Kết quả của quá trình thu thập
và xử lí tài liệu sẽ ảnh hưởng đến kết quả của quá trình nghiên cứu, tính chính xác và tính
khoa học của đề tài.
5.2.2. Phương pháp thống kê
Trong luận văn, các tài liệu, số liệu thống kê được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau
như Sở nông nghiệp và PTNT, Sở Công thương Vĩnh Long, Sở Khoa học và Công nghệ
Vĩnh Long, Sở Tài nguyên Môi trường Vĩnh Long, Chi cục Bảo vệ Thực vật Vĩnh Long,
Chi cục Khuyến nông Vĩnh Long và các Website có liên quan,… Việc sử dụng số liệu thống
kê là một trong những cơ sở khoa học quan trọng để giúp tác giả đưa ra những so sánh, nhận
xét trong nghiên cứu.
5.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp bản đồ, biểu đồ rất quan trọng và là đặc thù của khoa học địa lí. Các
bản đồ, biểu đồ trong luận văn cho phép thể hiện kết quả nghiên cứu một cách sinh động
11
hơn. Theo mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã xây dựng hệ thống bản đồ bao gồm: Bản đồ
hành chính tỉnh Vĩnh Long, Bản đồ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển CAQ tỉnh Vĩnh
Long và Bản đồ hiện trạng phát triển CAQ tỉnh Vĩnh Long. Các bản đồ trong đề tài được
thành lập trên cơ sở phần mềm MapInfo.
5.2.4. Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp cần thiết. Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã đi đến các
vườn CAQ, lấy thông tin từ các nhà vườn thành công với các mô hình sản xuất mới, các vựa
trái cây lớn trên địa bàn tỉnh, các cơ quan, ban ngành có liên quan. Cụ thể tác giả đã tham
quan tìm hiểu trại cây giống ở xã Tân Hội - TP.Vĩnh Long; điểm thu mua trái cây đặt tại xã
Tân An Luông, huyện Vũng Liêm; tham quan vườn CAQ kết hợp du lịch sinh thái ở Cù lao
13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGÀNH TRỒNG CÂY ĂN QUẢ
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các khái niệm chung
1.1.1.1. Khái niệm cây ăn quả và nghề trồng cây ăn quả
Cây ăn quả (ở Nam Bộ gọi là cây ăn trái) là các loại cây trồng hoặc quả rừng mà trái
cây được dùng làm thức ăn riêng biệt hoặc ăn kèm. CAQ có ý nghĩa quan trọng trong đời
sống và trong nền kinh tế quốc dân. Quả là những sản phẩm có giá trị sử dụng rộng rãi,
cung cấp nhiều chất dinh dưỡng vi lượng, khoáng chất bổ dưỡng và là nguồn liệu quí có tác
dụng phòng và chữa bệnh cho con người.
Theo Trần Thế Tục (1998), nghề trồng CAQ là một bộ phận của sản xuất nông
nghiệp, mà đối tượng chủ yếu là những cây lâu năm có quả ăn được.[29] Tùy theo nguồn
gốc, xuất xứ và vùng sinh thái mà có thể chia ra CAQ nhiệt đới, CAQ cận nhiệt đới, CAQ
ôn đới,…
Trồng CAQ có tác dụng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đưa các hộ nông
dân từ nghèo lên hộ có thu nhập khá và hộ giàu. Hiệu quả kinh tế và sự ổn định của vườn
CAQ gắn liền với cuộc sống định canh định cư, hạn chế phá rừng làm nương rẫy. [37]
Hội nhập kinh tế thế giới, sản phẩm quả càng có giá trị thương phẩm cao, giải quyết
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn.
Khoa học CAQ là một nghiên cứu các đặc tính sinh học của CAQ, vị trí và vai trò
của chúng trong hệ sinh thái, những qui luật về mối quan hệ giữa CAQ với điều kiện ngoại
cảnh. Từ đó đặt cơ sở lí luận cho việc phát triển nghề trồng CAQ với những biện pháp kĩ
thuật thích hợp cho từng loại cây trong điều kiện khí hậu, địa điểm cụ thể của nơi trồng
nhằm thâm canh tăng năng suất và phẩm chất quả.
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp phát triển từ lâu đời và trồng CAQ là một bộ
phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Phát triển nghề trồng CAQ đem lại nhiều lợi
triển được tổ chức ở Cộng hòa Nam Phi đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát
triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là: phát triển
bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường.
[25]
Phát triển bền vững về kinh tế
Phát triển bền vững về kinh tế là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện
ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của
nền kinh tế, gắn với tăng năng suất lao động, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội và môi
trường sống.
Phát triển bền vững về xã hội
15
Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động, có việc làm
thì người lao động mới có quyền, có thu nhập và tự hoàn thiện nhân cách của mình. Người
lao động nếu không có việc làm thì sẽ không có thu nhập từ đó dễ nảy sinh tiêu cực, tệ nạn
xã hội.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, làm tăng năng lực
sản xuất cho người nghèo, thông qua nâng cao kiến thức, trình độ cho người nghèo, hỗ trợ
vốn cho người nghèo. Xóa đói giảm nghèo còn tạo ra mặt bằng xã hội phát triển tương đối
đồng đều, đảm bảo an sinh xã hội - đó là điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững.
Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư như: thu
nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân, tỉ lệ sơ sinh, trẻ em tử vong, tỉ lệ trẻ em dưới
5 tuổi suy dinh dưỡng, tỉ lệ bác sĩ/1000 dân, tỉ lệ dân số được dùng nước sạch,… Liên Hiệp
Quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI), là chỉ số tổng hợp của 3 chỉ số cơ bản:
thu nhập bình quân đầu người, chỉ số về giáo dục (tỉ lệ % người lớn biết chữ) và chỉ số về y
tế (tuổi thọ bình quân).
Phát triển bền vững về môi trường
Trong thực tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhiều doanh nghiệp, nhiều
quốc gia đã không những khai thác cạn kiệt tài nguyên mà còn thải ra môi trường nhiều chất
trước hết phải tăng hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và vốn, sử dụng hiệu quả các nguồn
lực khan hiếm để thõa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp.
Thứ hai, phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các biện pháp thực hiện sự công
bằng về phân phối, chia sẻ sản phẩm nông nghiệp và tài nguyên nông nghiệp. Vì vậy, chiến
lược phát triển thủy lợi, phân bón, giống,… phải tính tới yếu tố công bằng cho sự phát triển
của nền nông nghiệp.
Thứ ba, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể phát
triển bền vững khi tài nguyên thiên nhiên, đất, nước được sử dụng hợp lí. Trong chiến lược
phát triển bền vững nông nghiệp, cần phải có các nội dung bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên, kết hợp với phát triển nông - lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Thứ tư, sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống. Sự phát
triển nông nghiệp được gọi là bền vững khi mà các hoạt động hiện tại của sản xuất không
làm ảnh hưởng xấu mà chỉ làm tốt hơn các khả năng phát triển của các thế hệ mai sao. Để
làm được điều đó, sự tham gia của nhóm người hưởng lợi, sự công bố công bằng lợi ích và
khả năng tự lập là những yếu tố cơ bản của các chương trình phát triển nông nghiệp và nông
thôn.
Phát triển nông nghiệp bền vững theo “Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam” cần
định hướng các nội dung sau:
Qui hoạch phát triển nông thôn, khuyến khích đô thị hóa nông thôn một cách hợp lí,
đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại kinh tế, giống cây trồng vật nuôi và sử dụng nguồn lao động ở
17
nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến, mở rộng sản xuất và thị trường sản xuất nông
nghiệp sạch.
Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi ruộng đất ở những vùng ruộng đất manh mún. Xây
dựng và thực hiện những chương trình nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai và sử dụng hợp lí
nguồn nước ở các địa phương. Củng cố và hoàn thiện hơn nữa hệ thống dịch vụ kĩ thuật và
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Thúc đẩy ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học đồng thời bảo tồn nguồn gen, giống
hội khác đáp ứng nhu cầu tiếp cận đến các dịch vụ sản xuất, tiếp cận thị trường thông tin
nhằm giúp người dân chủ động trong sản xuất. (ii) Góp phần giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, trước hết tăng cường đào
tạo cán bộ quản lí và cán bộ chuyên môn kĩ thuật, kinh tế cho vùng nông thôn có đủ năng
lực đáp ứng cho lĩnh vực trồng trọt hỗ trợ sản xuất CAQ theo hướng bền vững.
Về môi trường: (i) CAQ sẽ góp phần cùng với lâm nghiệp phủ xanh đất trống đồi
trọc, duy trì làm tăng độ che phủ đất, tạo sinh khối, tăng cường biện pháp chống suy thoái
đất; sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất trên cơ sở áp dụng các mô
hình canh tác hợp lí trên từng loại địa hình, loại đất và từng vùng sinh thái. (ii) Tăng cường
công tác nghiên cứu thu thập và bảo tồn nguồn gen giống cây CAQ, nhằm tăng tính đa dạng
sinh học. Tập trung thay đổi chất lượng giống cây trồng, áp dụng qui trình sản xuất tiên tiến
để hạn chế dư lượng các hoá chất nông nghiệp, thuốc phòng trừ sâu bệnh trong sản phẩm
CAQ và trong môi trường đất, nước. Tăng cường áp dụng các qui trình, công nghệ sản xuất
thân thiện với môi trường nhằm bảo vệ sức khỏe con người.
Như vậy, phát triển CAQ theo hướng bền vững giữ một vai trò quan trọng, không thể
tách rời trong phát triển nông nghiệp bền vững. Sản xuất và phát triển CAQ đã chuyển hóa
được những khó khăn về địa hình, thổ nhưỡng của một vùng đất thành tiềm năng lợi thế
mang lại lợi ích cho con người, trong khi loại đất đó nếu trồng những cây trồng khác mang
lại hiệu quả kinh tế thấp hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế.
Sản xuất và phát triển CAQ là điều kiện tạo ra việc làm, tăng trưởng GDP, từng bước
góp phần phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nông thôn. Đồng thời tham
gia vào chương trình quốc gia về phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng độ che phủ đất, cải thiện
và bảo vệ môi trường sinh thái.
1.1.2. Vai trò của sản xuất cây ăn quả
CAQ là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Trong những năm gần
đây, CAQ góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, phủ
xanh đất trống đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái nhất là các tỉnh trung du miền núi.
Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được
giải quyết, đời sống nông dân được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm quả ngày càng
19
11,0
1,0
50,0
Chôm chôm Java
12,5
0,3
14,0
Dâu tây
7,6
1,0
55,0
Dứa
14,0
1,0
25,0
1,8
Mận (Đà Lạt)
8,3
0,9
6,0
Mít
24,0
-
9,0
Nhãn tiêu da bò
22,0
0,1
11
Nhãn xuồng
21,0
17,2
0,1
9,4
Thanh long
11,5
0,1
9,4
Loại trái
20
Xoài cát Hòa Lộc
14,3
0,4
40,0
(Phân tích tại Phòng sinh hóa của Trường Đại Học Nông Lâm - TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn
Văn Kế, 2001)
thấp 50 - 600oC. Cũng có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông: dịch quả được làm đông ở
nhiệt độ - 5 đến - 100oC. Khi ấy phần nước trong dung dịch đóng băng trước và được tách ra
khỏi dịch quả bằng cách li tâm. Dịch quả được làm đặc từng bước và sản phẩm cuối cùng
đạt độ khô
60 - 70%.
- Xirô quả: là nước quả được pha thêm nhiều đường (thường dùng đường kính trắng)
để độ đường trong xirô đạt 60 - 70%. Cần phân biệt xirô quả với nước quả cô đặc, hai sản
phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lượng đường cao nhưng nước quả cô đặc không
bổ sung đường còn xirô quả thì có bổ sung lượng đường khá cao.
- Squash quả: tương tự như xirô quả nhưng chứa nhiều thịt quả hơn và ở dạng đặc
sánh hơn.
- Nước quả lên men: được chế biến bằng cách cho nước quả lên men rượu. Sau thời
gian lên men từ 24 - 36 giờ, độ rượu trong sản phẩm đạt tới 4 - 5% V. Sau đó sản phẩm được
tiệt trùng, đóng vào bao bì kính và tiêu thụ nhanh. Nước quả lên men có hương vị đặc biệt
do nấm men tạo ra lại chứa nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hóa tốt.
- Bột quả giải khát: bao gồm dạng cao cấp là dạng bột quả hòa tan và bao gồm dạng
cấp thấp hơn là dạng bột quả không hòa tan. Bột quả hòa tan được chế biến từ nước quả,
qua quá trình làm đặc và sấy khô thành dạng bột có thêm một số phụ gia thực phẩm để tăng
thêm màu sắc, hương vị và độ hòa tan cho sản phẩm. Bột quả giải khát không hòa tan thì
được chế biến từ quả nghiền mịn (cả thịt và lẫn với phần xơ) rồi sấy khô bằng máy sấy phun
hoặc máy sấy kiểu trục các để sản phẩm đạt độ khô rất cao, thủy phân chỉ còn 2 - 5%. Sau
đó, sản phẩm được gia màu, gia hương tương tự như bột quả giải khát hòa tan.
- Nước quả giải khát: thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10 - 15% (tùy theo dạng
nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đường axit thực phẩm, chất màu thực phẩm, hương
liệu. Sản phẩm có thể được nạp CO2 hoặc không nạp CO2.
Hiện nay, Công ty Rau quả Miền Nam đang lập dự án xây dựng mới các cơ sở chế
biến rau quả tại một số địa phương, trong đó sản phảm nước quả giải khát luôn được xem là
một trong những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến
• Nhóm CAQ ôn đới: mận, đào, lê, táo tây, nho, dâu tây,…
Trong 3 nhóm kể trên, nhóm CAQ nhiệt đới chiếm vị trí quan trọng cả về tỉ lệ thành
phần giống và loài CAQ cũng như diện tích trồng.
(ii) Dựa vào giá trị sử dụng có thể phân thành các nhóm dưới đây:
• Nhóm CAQ cho đường bột và có thể giải quyết một phần lương thực: mít, chuối, hạt
dẻ, xakê.
• Nhóm cây cho chất béo: bơ, dừa, óc chó, mạy châu.
23