BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
CAO THỌ PHÚ
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA
NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN TỪ 1930 ĐẾN 1954
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm, Phòng Khoa học
Công Nghệ - Sau đại học, quý thầy cô Khoa Sử, cùng tất cả các bạn đồng học đã nhiệt tình
giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn PGS. TS Võ Xuân Đàn, thầy đã tận tình chỉ
bảo và hướng dẫn cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này. Thầy
đã khuyến khích, động viên và góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình tôi viết luận
văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Ban quản
lý Bảo tàng huyện và các khu di tích lịch sử của huyện nhà, đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi khai thác, nghiên cứu tất cả những tư liệu có liên quan đến đề tài luận văn này.
Tuy chỉ được nghiên cứu trong thời gian ngắn, nhưng với sự giúp đỡ tận tình của quý
thầy, cô và sự cố gắng hết sức mình, tôi đã có điều kiện tiếp thu được những kiến thức và
phương pháp vô cùng quý báu.
Tác giả
2.1.2. Phong trào đấu tranh của nhân dân Hóc Môn trong những năm Đảng mới thành lập
(1930-1931).....................................................................................................................29
2.1.3. Đấu tranh chống thuế, chống khủng bố của nhân dân Hóc Môn (1932-1935).....33
2.1.4. Mười Tám Thôn Vườn Trầu - căn cứ cách mạng và phong trào của nhân dán Hóc
Môn (1936-1939) ............................................................................................................35
2.2. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 tại Hóc Môn ..................................................41
2.2.1 Tiếp nhận chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ ..........................................41
2.2.2. Quá trình chuẩn bị khởi nghĩa ..............................................................................43
2.2.3. Diễn biến cuộc khởi nghĩa tại quận Hóc Môn ......................................................44
4
2.2.4. Thực dân Pháp khủng bố sau cuộc khởi nghĩa .....................................................51
2.2.5. Ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa tại quận Hóc Môn.......................................55
2.3. Hóc Môn trong khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám (1941-1945) ..............56
2.3.1. Phục hồi cơ sở, tổ chức lực lượng mọi mặt tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
.........................................................................................................................................56
2.3.2. Đảng bộ Hóc Môn lãnh đạo nhân dân tham gia biểu tình ở Sài Gòn mừng cách
mạng tháng Tám thắng lợi ..............................................................................................61
2.3.3. Giành chính quyền ở Hóc Môn .............................................................................64
CHƯƠNG 3: HÓC MÔN TRONG CHÍN NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1945 -1954).............................................................................. 67
3.1. Hóc Môn những năm đầu sau cách mạng tháng Tám (1945 -1946) .....................67
3.1.1. Củng cố chính quyền và tổ chức lực lượng vũ trang ............................................67
3.1.2. Cuộc chiến đấu ngăn chặn địch mở rộng chiếm đóng và càn quét.......................70
3.2. Tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, đánh phá chính sách bình định
của giặc Pháp, phát triển chiến tranh du kích ở nông thôn (1947 -1948) ...................81
3.2.1. Xây dựng mọi mặt cho cuộc kháng chiến.............................................................81
3.2.2. Phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh hoạt động tác chiến tiêu diệt địch .......86
được gọi tên từ đây (hóc hẻm có nhiều cây môn) [ 1 , tr.3].
Cùng với sự hình thành về mặt hành chính của đất phương Nam, Hóc Môn với tên đầu
tiên gọi là Bình Long nằm trong địa hạt của Tỉnh Gia Định chính thức định hình. Hóc Môn
nguyên là thủ phủ của Bình Long huyện, từ sau cuộc khởi nghĩa “Mười Tám Thôn Vườn
Trầu” năm 1885, thực dân Pháp đổi tên là quận Hóc Môn (bao gồm cả huyện Củ Chi) thuộc
tỉnh Gia Định. Nay là huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Hơn một thế kỷ chống quân xâm lược, nhân dân Hóc Môn đã tham gia vào các phong
trào yêu nước như: cuộc đánh chiếm đồn Thuận Kiều (1871), cuộc khởi nghĩa Mười Tám
Thôn Vườn Trầu (1885), các cuộc khởi nghĩa của những người yêu nước trong Hội kín Thiên
Địa Hội (1913, 1916), phong trào Hội kín của Nguyễn An Ninh (1922-1928), cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ (1940).
Tiếp nối thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945, quân và dân Hóc Môn góp
phần cùng cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và đại thắng mùa xuân
năm 1975.
Mỗi làng, mỗi xóm đều có chiến công, như chiến khu An Phú Đông, căn cứ Vườn Cau
Đỏ (Thạnh Lộc), vườn trầu Bà Điểm, địa đạo Xuân Thới Thượng... đã lưu truyền mãi. Mỗi
thôn, mỗi ấp đều có nợ máu của quân thù, Ngã Ba Giồng (Xuân Thới Thượng), Cầu Xáng
6
(Tân Hiệp), Cầu Sa (Bà Điểm), Giếng Nước (quận lỵ) là những nơi kẻ thù dựng lên những
“trường bắn” để giết hại hàng loạt đồng bào, đồng chí yêu nước của chúng ta. Đồng chí Tổng
Bí thư Nguyễn Văn Cừ, nhiều đồng chí trong Trung ương, Xứ ủy Nam Kỳ như Phan Đăng
Lưu, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí lãnh đạo trong Tỉnh ủy Gia
Định, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, Huyện ủy Hóc Môn và cán bộ, đảng viên, nhân dân các
xã trong huyện, đã hy sinh trên mảnh đất này.
Một vùng đất nằm về phía Tây Bắc thành phố Sài Gòn chưa tới 20 km, nhưng Hóc Môn
lại có một vị trí khá độc đáo cả về địa thế lẫn con người. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm dù bị địch khủng bố, càn quét, chà đi, xát lại nhưng Hóc Môn - Bà Điểm vẫn xứng đáng
là hậu phương vững chắc, là bàn đạp để quân và dân ta khống chế địch tại cửa ngõ phía Tây
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Huyện Hóc Môn từ
năm 1930 đến năm 1954” nhằm mục đích ôn lại những mốc lịch sử cách mạng quan trọng của
Đảng bộ và nhân dân huyện Hóc Môn từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến năm 1954.
Rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình lãnh
đạo cách mạng của Đảng bộ huyện, để vận dụng nó tiếp tục lãnh đạo nhân dân huyện Hóc
Môn thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở địa phương, góp phần vào sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Sử dụng luận văn này làm tài liệu giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ ở địa phương,
trước mắt là giáo dục cho học sinh ở các trường phổ thông trên địa bàn huyện Hóc Môn về
truyền thống cách mạng hào hùng của quê hương Mười Tám Thôn Vườn Trầu, Bà Điểm Hóc Môn.
Tôi được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất Hóc Môn giàu truyền thống này,
vì thế tôi chọn đề tài này nghiên cứu coi như là một việc làm tri ân của tôi với những đồng bào,
chiến sĩ đã ngã xuống nơi đây, nhắc nhở với nhau trân trọng và gìn giữ truyền thống để vun
đắp cho hôm nay và ngày mai. Luận văn này cũng góp phần phục vụ công tác biên soạn Lịch
sử huyện nhà và giúp tôi giảng dạy tốt hơn môn Lịch sử địa phương tại trường phổ thông.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lịch sử truyền thống yêu nước, đấu tranh chống ngoại xâm, chống áp bức,
bóc lột của nhân dân huyện Hóc Môn, góp phần làm phong phú lịch sử dân tộc và thấy được
vai trò của huyện Hóc Môn trong tiến trình dựng nước và giữ nước.
8
Qua các phong trào cách mạng do Đảng bộ Hóc Môn lãnh đạo ở tại địa phương nhằm
khẳng định vai trò của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trước và trong cách mạng tháng
Tám năm 1945, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Nghiên cứu lịch sử địa phương Hóc Môn nhằm giáo dục lòng yêu quê hương trong thế
hệ trẻ, trong cộng đồng dân cư để động viên và cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động, sáng tạo
sống xã hội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự nghiệp đấu tranh cách mạng của một địa phương là một phần trong sự nghiệp cách
mạng của dân tộc. Do đó Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Huyện Hóc Môn
trong những năm 1930-1954 chính là một bộ phận của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu
vấn đề này trong bối cảnh chung của đất nước dân tộc, những truyền thống chung và riêng,
những thành tựu, ưu điểm, những hạn chế của phong trào cách mạng ở huyện Hóc Môn so với
cái chung của toàn quốc. Trên cơ sở đó rút ra những cống hiến của huyện Hóc Môn vào sự
nghiệp cách mạng của cả nước, những điều cần giáo dục cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai
sau. Đồng thời sẽ góp phần làm phong phú thêm những trang hào hùng bất khuất của dân tộc
Việt Nam.
Mỗi một địa phương đều có quá trình hình thành, phát triển, có những biến động và
những đặc điểm riêng của mình. Tuy nhiên trong bối cảnh chung của đất nước, nhiệm vụ cách
mạng của từng địa phương đều gắn chặt và nằm trong yêu cầu phát triển của đất nước, huyện
Hóc Môn không thể nằm ngoài quy luật ấy. Chính vì thế mà mỗi một sự kiện lịch sử riêng rẽ
như: một cuộc khởi nghĩa, một trận đánh lớn, diễn ra tại địa phương Hóc Môn đều có quan hệ
chặt chẽ đến những biến cố lịch sử chung của dân tộc. Đó là quy luật phát triển của đời sống
xã hội mà trong đó quy luật của công cuộc dựng nước và giữ nước đứng ở vị trí hàng đầu. Do
đó phải nêu được sự thể hiện của quy luật phổ biến của lịch sử trong quá trình lịch sử địa
phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian hạn chế nên phạm vi nghiên cứu đề tài này là Lịch sử phong trào đấu tranh
cách mạng của nhân dân huyện Hóc Môn trong giai đoạn 1930-1954. Luận văn chỉ dừng lại
và tập trung nghiên cứu một số khía cạnh cụ thể sau :
- Nghiên cứu phong trào yêu nước và chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Hóc
Môn trước khi thành lập Đảng và ảnh hưởng của nó đối với công cuộc kháng chiến chống
Pháp ở những giai đoạn sau.
10
của cả nước, nếu không có phong trào và lực lượng cách mạng của cả nước hỗ trợ. Lịch sử của
địa phương Hóc Môn dù có độc đáo, phong phú đến đâu cũng đều nằm trong tính thống nhất
11
của lịch sử toàn quốc. Sự vận động phát triển của phong trào cách mạng tại địa phương Hóc
Môn tất yếu chịu sự chi phối của phong trào cách mạng cả nước.
Ngoài phương pháp nghiên cứu của ngành học là phương pháp logic và phương pháp
lịch sử, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp hệ thống hóa: đặt lịch sử Huyện Hóc Môn trong bối cảnh chung của lịch
sử dân tộc, từ đó hệ thống hóa những vấn đề còn tản mạn, rời rạc từ nhiều nguồn sử liệu khác
nhau. Phương pháp hệ thống hóa là cơ sở trình bày những nội dung cơ bản của luận văn.
- Phương pháp liên ngành: đặc biệt chú trọng kết hơp chủ yếu các tài liệu, kế thừa những
thành tựu nghiên cứu của các ngành lịch sử, địa lý học, khảo cổ học, dân tộc học, văn học...
- Phương pháp điền dã: để có được cái nhìn thực tế trong qua trình nghiên cứu, tác giả đã
có được may mắn tham gia cùng Tổ sưu tầm, biên soạn Lịch sử địa phương Hóc Môn của
Huyện ủy, đến một số nơi cụ thể, tiếp xúc với những con người cụ thể để sưu tầm, khai thác
các tư liệu sống và các hồi ký của các đồng chí cách mạng lão thành có hiểu biết hoặc có tham
gia kháng chiến qua các thời kỳ lịch sử; đến các nhà bảo tàng, nhà truyền thống tiếp cận những
di vật, di tích lịch sử hiện còn lưu lại trên địa bàn huyện Hóc Môn.
- Phương pháp phân tích, so sánh cũng được sử dụng để tìm mối liên hệ giữa các sự kiện
lịch sử nhằm nêu bật nội dung cốt lõi, bản chất của sự vật, cố gắng trình bày lịch sử như nó đã
từng diễn ra. Đồng thời qua đó xác định được những giá trị truyền thống, tính đặc thù của địa
phương Hóc Môn và xác định vị trí, vai trò của Hóc Môn trong lịch sử dân tộc.
12
CHƯƠNG 1: HUYỆN HÓC MÔN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
Hóc Môn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 1 , mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ bình
quân hàng năm là 27°c, thuận lợi cho các loại cây trồng và gia súc phát triển bình thường.
Lượng mưa hàng năm phân bố không đều, thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 12, chiếm
64% lượng mưa cả năm. Khô hạn thường xảy ra từ tháng 12 đến tháng 4 gây ảnh hưởng đến
sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Chế độ thủy văn ở Hóc Môn chịu ảnh hưởng của hệ thống sông rạch, kênh chính điều
tiết cho các vùng bưng, trũng cấy lúa hai vụ. Do thủy lợi nội đồng và công trình bờ bao chưa
tốt nên vào mùa mưa hàng năm thường xảy ra ngập lụt ở một số vùng trũng. “Chế độ thủy
triều của các sông ngòi ở Hóc Môn là bán nhật triều: nước ròng từ 9 đến 12 giờ và từ 20 giờ
đến 2 giờ hôm sau; nước lớn từ 1 giờ đến 8 giờ và 17 giờ đến 20 giờ, những ngày toàn nhật vào
mùng 4, 5, 6 và l0 âm lịch hàng tháng, ngày triều cao nhất là 15 và 30 âm lịch. Chân triều mùa
lũ là 2,2m và mùa kiệt là l,32m” [2, tr.11,12].
Nhìn chung là thổ nhưỡng và khí hậu thời tiết mưa thuận gió hòa, thuận lợi cho trồng trọt
và chăn nuôi, Hóc Môn từ lâu đã là vành đai xanh, vành đai thực phẩm của thành phố.
1.2. Lược sử hình thành huyện Hóc Môn
Theo sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, tháng 2 năm Mậu Dần 1698
chúa Nguyễn ra lệnh cho Lễ Thành Hầu chức Chưởng binh Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý
phía Nam và quyết định thành lập phủ Gia Định. Phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và
Tân Bình, huyện Tân Bình đặt ra dinh Phiên Trấn. Lúc bấy giờ dân cư vùng này vẫn còn thưa
thớt và đất đai thì hoang vu.
Trong khoảng hơn ba mươi năm (1698-1731), có những lưu dân từ miền Trung, miền
Bắc do không cam chịu sự thống trị hà khắc của phong kiến Trịnh, Nguyễn nên đã đến vùng
đất này để sinh cơ lập nghiệp. Người dân đã lập ra sáu thôn ấp đầu tiên trên mảnh đất này là
“Tân Thới Nhứt, Thuận Kiều, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Xuân Thới Tây, Tân Phú” [ 1 ,
tr.15].
Với sáu thôn này là chìa khóa, từ đó phát triển thêm các thôn khác, tổng cộng mười tám
thôn là: “Thuận Kiều, Thuận An, Trung Hòa, Tứ Chánh Giáo Đức, Tân Thới Bình, Tân Thới
quận Gò Vấp và tỉnh Chợ Lớn, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh chợ Lớn, phía Tây
Nam giáp tỉnh Long An” [36, tr.7]. Từ năm 1957, tỉnh Gia Định gồm sáu quận, trong đó có
bốn quận cũ Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè và thêm hai quận mới là Tân Bình, Bình
Chánh.
Sau ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975, Hóc Môn là huyện thuộc thành phố Sài Gòn
- Gia Định. Tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên
15
thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đến nay Hóc Môn là một
huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng trên địa bàn huyện trong mấy chục
năm qua tiếp tục có nhiều thay đổi về địa giới hành chính. Hiện nay, huyện Hóc Môn gồm có
mười một xã (Tân Thới Nhì, Tân Hiệp, Tân Xuân, Thới Tam Thôn, Đông Thạnh, Xuân Thới
Thượng, Xuân Thới Sơn, Bà Điểm, Nhị Bình, Trung Chánh, Xuân Thới Đông) và một Thị
trấn (Thị trấn Hóc Môn).
1.3. Đặc điểm Dân cư - Kinh tế - Văn hóa - Xã hội
1.3.1. Dân cư
Những cư dân đầu tiên đến lập nghiệp và sinh sống trên mảnh đất Mười Tám Thôn
Vườn Trầu này là những người nông dân do không chịu nổi sự áp bức bóc lột nặng nề của chế
độ phong kiến Trịnh, Nguyễn nên họ phải rời bỏ quê hương xứ sở, di chuyển vào phương
Nam tìm vùng đất mới sinh sống tự do. Họ đã đến vùng đất Bến Nghé (Gia Định) này. Vừa
thoát khỏi sự áp bức bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, họ lại phải đương đầu với thời tiết
khắc nghiệt của thiên nhiên, chống các thú dữ cọp, beo, voi, rắn, heo rừng, cá sấu. Họ ra sức
khai hoang, dựng nhà lập ấp, tổ chức trồng trọt chăn nuôi, lập nên những vườn cây trái và hoa
màu, những ruộng lúa, ruộng mía, đặc biệt là những vườn trầu cau vàng tươi rợp lá.
Vì phải liên tiếp chống thiên nhiên, thú dữ buổi ban đầu và chống bọn ngoại xâm sau
này, nên người nông dân vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu đã nung nấu trong lòng mình tinh
thần yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc và lòng khát khao tự do, công bằng, tôn trọng lẽ phải,
không chịu khuất phục trước mọi áp bức bất công nào bất cứ từ đâu đến. Họ có tinh thần đoàn
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, Hóc Môn có một số nhà máy, xí nghiệp quy mô
vừa và nhỏ tập trung ở xung quanh huyện lỵ và trung tâm một số xã như: ba nhà máy xay sát
lớn của tư sản Hoa Kiều và Việt Nam (có từ 40 đến 60 công nhân), rải rác ở các xã cũng có
máy xay nhỏ phục vụ tại chỗ, ngoài ra còn có các trại cưa xẻ gỗ, xưởng dệt nhuộm, trại đóng
xe bò, xe ngựa, đóng thuyền, lò rèn, lò gạch, đồ gốm và một số nghề đan giỏ trạc, gầu, đệm,
chằm nón lá ...
Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, nhiều xã ấp của Hóc
Môn đã được đô thị hóa như: Chợ Cầu, Bàu Nai (Đông Hưng Thuận, nay thuộc quận 12),
Trung Chánh (Trung Mỹ Tây), Bùi Môn (Tân Xuân), khu vực Thành Quan Năm (Tân Thới
Nhì)... Từ sau năm 1954, nhiều khu phố mới mọc lên san sát, các ngành nghề buôn bán, sản
xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh chóng. Do vị trí tiếp cận thành phố và
theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp xây dựng đất nước, số lượng công nhân viên chức của
Hóc Môn ngày càng tăng.
17
Từ sau ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975 huyện Hóc Môn có những biến đổi sâu sắc
theo hướng xây dựng huyện Công - Nông nghiệp. Hàng loạt công trình mới mọc lên phục vụ
cho sản xuất và đời sống như các công trình thủy lợi, điện nước, giao thông, công nghiệp địa
phương; phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu (như sản xuất cơ khí, sửa chữa, cưa xẻ gỗ, xay sát,
chế biến lương thực, thực phẩm...). Các cửa hàng, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, mẫu giáo,
chợ, rạp hát được xây dựng đều ở các xã.
Tóm lại, tình hình kinh tế của huyện Hóc Môn rất dồi dào, phong phú, ruộng đất tương
đối màu mỡ, sản xuất được lúa và hoa màu, trồng được nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả
quý, đặc biệt là những vườn trầu đặc sản của quê hương Mười tám thôn Hóc Môn - Bà Điểm,
chăn nuôi gia súc cũng có chiều hướng phát triển mạnh. Hóc Môn là vùng có điều kiện để phát
triển nông nghiệp tương đối toàn diện nhưng dưới chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và
bọn quan lại phong kiến trước kia, sau đó là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, nhân dân Hóc Môn
vẫn bị nghèo khó, túng thiếu, cơ cực, vì những thủ đoạn vơ vét bóc lột tàn tệ. Cuộc sống của
người nông dân rất bấp bênh vì không có ruộng đất nên phải phụ thuộc vào bọn địa chủ, vào
ngưỡng, tôn giáo khác nhau nhưng họ vẫn thương yêu, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong tình
làng nghĩa xóm.
Vùng đất Hóc Môn - Bà Điểm trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, nhất là những thời kỳ
chiến tranh, nhưng trên địa bàn huyện vẫn còn lưu giữ nhiều di tích văn hóa và di tích lịch sử
ghi dấu quá trình góp công, góp sức của cha ông xưa xây dựng mảnh đất Mười Tám Thôn
Vườn Trầu này. Rất nhiều địa danh của huyện mang tên những người có công với dân làng
hay anh hùng dân tộc. Một số phong tục tập quán tốt đẹp còn duy trì như thờ Thần Hoàng, thờ
những người có công, anh hùng dân tộc, liệt sĩ vô danh, tưởng nhớ người hy sinh vì nghĩa lớn.
1.4. Phong trào yêu nước trước năm 1930
Tháng 9 năm 1858 sau khi nổ súng tấn công đánh chiếm Đà Nẵng không thành, thực dân
Pháp đành để lại một lực lượng nhỏ chiếm đóng bán đảo Sơn Trà. Đầu năm 1859, Pháp nổ
súng tấn công đánh chiếm thành Gia Định, hòng mở rộng xâm chiếm các tỉnh miền Đông
Nam Kỳ. Được hưởng truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng của ông cha,
nhân dân vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu dưới ngọn cờ nghĩa của các sĩ phu yêu nước lãnh
đạo, đã nhất tề đứng lên cùng nhân dân Bến Nghé (Sài Gòn), Gia Định quyết tâm chiến đấu
chống quân xâm lược cướp nước. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp bắt đầu.
Trong hai năm (1859-1860) chiến đấu quyết liệt chống thực dân Pháp xâm lược, nhân
dân vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu đã gia nhập hàng ngũ nghĩa quân của những người yêu
nước tiêu biểu chiêu mộ, nhất là nghĩa quân do Trương Định, sau đó là Trương Quyền lãnh
19
đạo. Nghĩa quân chiến đấu ngày đêm, đánh địch ngay tại trung tâm Gia Định và các trại lính,
gây nhiều tổn thất cho giặc Pháp.
Năm 1861, sau khi giặc Pháp chiếm đại đồn Chí Hòa, rồi đồn Thuận Kiều, chúng đã “lần
lượt chiếm các đồn Tân Thới, Rạch Tra và cả vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu” [5, tr.12].
Nghĩa quân Trương Định chiến đấu quyết liệt nhưng không cầm cự nổi phải rút về vùng Gò
Công, rồi tiến hành các cuộc hành quân lên Cái Bè vùng Đồng Tháp Mười. Sau đó “nghĩa
Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Anh Thủ đã gây được tiếng vang và khơi dậy thêm tinh
thần yêu nước chống Pháp của nhân dân ta.
1.4.2. Cuộc khởi nghĩa Mười Tám Thôn Vườn Trầu của Phan Văn Hớn (1885)
Năm 1868, thực dân Pháp đưa tên Đốc phủ sứ Trần Tử Ca về giữ chức quan đầu huyện
Bình Long (Mười Tám Thôn Vườn Trầu), hắn là tên Việt gian tay sai đắc lực của bọn thực
dân. Trần Tử Ca đã gây nhiều tội ác với nhân dân vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu: áp bức
bóc lột tàn tệ, độc quyền thu thuế, mua bán và vận chuyển, cướp ruộng đất của nông dân, bắt
bớ tù đày những người yêu nước, “giết người cắt cổ, bỏ trẻ em vào cối rồi cho lấy chày giã”
[38. tr.120]. Bàn tay của vợ chồng tên Ca luôn luôn đẫm máu. Nhân dân Mười Tám Thôn
Vườn Trầu vô cùng căm phẫn, chỉ chờ có dịp là vùng lên diệt tên tay sai ác ôn này.
Ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) sinh năm 1829, người làng Tân Thới Nhứt, là một nông
dân có nhiều mưu trí, có tình yêu thương đồng bào, thường đứng ra bênh vực nhân dân, chống
lại bọn cường hào ác bá; lòng đầy nhiệt huyết và sẵn sàng hy sinh cho cuộc chiến chống thực
dân Pháp xâm lược nên được nhân dân cảm mến. Bị bọn Trần Tử Ca vu khống là có âm mưu
làm loạn, nên chúng bắt ông giao cho Pháp đày ra Côn Đảo 5 năm tù. Sau khi mãn hạn tù, ông
về sống tại quê nhà là làng Tân Thới Nhứt nhưng phải đến trình diện tên Ca, hắn giả bộ
thương xót, khuyên ông về chí thú làm ăn, nghĩa là vui lòng làm nô lệ cho Pháp và chịu sự cai
tri tàn bạo của hắn. Hắn cho ông một cái áo, ông nhận và khẳng khái nói rằng: “Tôi xin nhận
áo để đến ngày khởi nghĩa tôi sẽ mặc!” [l,tr.26].
Ông tổ chức hai trường đá gà ở ngã tư An Sương và trên đường Bà Điểm - Trung Chánh
để che mắt địch và liên lạc với những người yêu nước. Sau một thời gian chuẩn bị, đến năm
1885 hai ông “Quản Hổn và Nguyễn Văn Bương (Đề Bương) lập căn cứ ở Bà Điểm - Hóc
Môn” [72, tr.503], tập hợp lực lượng quần chúng nông dân nghèo, rèn sắm vũ khí, tích trữ
lương thực. Ông quyết định khởi nghĩa và thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa gồm có: Phan
Văn Hớn (Tổng lãnh binh), Nguyễn Văn Hóa (Chánh lãnh binh), Phạm Văn Hồ (Phó lãnh
binh), và nội ứng Phan Văn Võ.
21
22
Rạng cơ đồ con cháu đắp bồi sau”. “Vì nước hy sinh gan liệt sĩ
Thương nòi chiến tử nghĩa anh hùng”.
[53, tr. 86]
1.4.3. Hội kín Phan Xích Long
Từ sau cuộc khởi nghĩa của ông Phan Công Hớn, phong trào đấu tranh yêu nước của
nhân dân vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu tạm lắng. Đến đầu thế kỷ 20 có nhiều tổ chức hội
kín được thành lập, những hội này tập hợp nhân dân chống Pháp và hoạt động rất sôi nổi. Năm
1913, Nguyễn Hữu Trí và Phan Xích Long (Phan Phát Sanh, tương truyền là con của vua Hàm
Nghi) [32, tr.120] cùng đứng ra dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp.
Hội kín Phan Xích Long lấy tên là “Thiên Địa Hội”, đây là một phong trào yêu nước của
nông dân Nam Bộ. Những người tham gia hội kín phần đông là nông dân ở nông thôn và một
số thợ thủ công, người buôn bán nhỏ ở thành phố.
Cuộc khởi nghĩa năm 1913:
Đêm 23 tháng 3 năm 1913, theo kế hoạch khởi nghĩa của Hội kín, nghĩa quân bí mật đặt
tám trái bom tự tạo tại một số nơi quan trọng trong thành phố Sài Gòn như Dinh Thống đốc,
Tòa án, Sở Thanh tra, Khám lớn Sài Gòn... nhưng trước giờ hành động bị địch phát hiện và
chúng cho tháo ngòi nổ đồng thời cho quân tăng cường tuần tra trong thành phố.
Nghĩa quân vùng ngoại thành Gò Vấp - Hóc Môn cùng các tỉnh lân cận đột nhập vào nội
thành mai phục và chờ nghe tiếng bom nổ thì tiến công đánh chiếm các cơ quan đầu não của
địch, nhưng chờ mãi không nghe tiếng bom nổ nên tự động rút lui. Kế hoạch khởi nghĩa
không thành, bị quân Pháp đàn áp, nghĩa quân tan rã. Trước đó hai ngày Phan Xích Long bị
Pháp bắt ở Phan Thiết và giải về giam ở Khám lớn Sài Gòn, những người lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa như Nguyễn Hiệp, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Màng, Nguyễn Ngọ và Trương Phước
chạy thoát.
Cuộc khởi nghĩa năm 1916:
Sau khi chạy thoát được, Nguyễn Hữu Trí tiếp tục hoạt động, bí mật tuyên truyền tổ
chức lại lực lượng. Đến đêm ngày 14 tháng 2 năm 1916 thì cuộc khởi nghĩa thứ hai lại bùng
nước và kích động tinh thần đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược trong nhân dân, nhất là
giới trí thức và thanh niên, đấu tranh đòi tự do dân chủ và độc lập dân tộc. Như vậy là “những
tư tưởng cách mạng của ông đã biểu lộ rõ ra” [53, tr. 212], Nguyễn An Ninh không những viết
báo rất hay mà còn có tài diễn thuyết hùng biện, mỗi lần ông đứng ra diễn thuyết là có đến
hàng ngàn người tham dự và nhiệt liệt ủng hộ. Người Việt thì rất khâm phục, còn thực dân
Pháp thì kiêng sợ, thù ghét.
24
Vùng Hóc Môn - Bà Điểm là một trong những địa bàn hoạt động chính của Hội kín
Nguyễn An Ninh lúc này. Khi về vùng đất Bà Điểm, “Nguyễn An Ninh tìm gặp các ông Lê
Văn Hậu (Tư Hậu), Phan Văn Đối (Mười Đối), Sáu Nhanh, Hà Văn Ngang, Hà Văn Phố,
Nguyễn Thị Giả. Tại Hóc Môn gặp các ông Cao Đức Luốt, Trần Văn Chiêu, Nguyễn Thị
Mừng, Phan Văn Cơ, Đỗ Văn Tửng, Lê Văn Phèn. Vùng chợ Cầu - Thuận Kiều (nay là quận
12) gặp các ông Lưu Minh Châu (Giáo Châu), Võ Thành Mong, Nguyễn Văn Trò” [ 1 , tr. 33].
Đây là những người yêu nước và các hội viên của tổ chức Thiên Địa hội, để từ đó gây dựng và
phát triển tổ chức Hội kín.
Hội kín Nguyễn An Ninh phát triển rất mạnh ở các quận, huyện xung quanh thành phố
như Hóc Môn, Bà Điểm, Củ Chi, Đức Hòa, Bình Chánh, Gò Vấp và một số tỉnh Nam Kỳ,
khắp nơi đều biết tiếng và đều có tổ chức cơ sở của Hội kín hoạt động. Tại các vùng nông
thôn, thanh niên xem Nguyễn An Ninh như thần tượng của mình.
Năm 1929, Nguyễn An Ninh bị bắt, đưa ra tòa và bị kết án 18 tháng tù. Trong lúc bị
giam ở Khám lớn Sài Gòn, được ông Nguyễn Đình Kiên tuyên truyền nên Nguyễn An Ninh
đã giác ngộ và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, sau đó qua vai trò trung gian của người vợ, ông
đã giới thiệu và đồng ý bàn giao các cơ sở hội kín của ông cho Tân Việt cách mạng đảng (tiền
thân của Đông Dương cộng sản liên đoàn). Trong suốt quá trình hoạt động chính trị, Nguyễn
An Ninh đã bị thực dân Pháp theo dõi bắt bớ, giam cầm tất cả năm lần. Ông mất ở trong tù vào
năm 1943.
Phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh đã có ảnh hưởng tích cực đến phong trào yêu nước
của vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu, Hóc Môn - Bà Điểm trong những năm trước khi Đảng