Đảng bộ tỉnh phú yên lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm 1960 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ SƠN TÙNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO
ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1960

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................................1

Chương 1. ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH GIỮ
GÌN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TRONG NHỮNG NĂM 1954-1959 ..... 7
1.1. Tình hình tỉnh Phú Yên sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết ................... 7
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Phú Yên ........................................ 7
1.1.2. Sự thay đổi so sánh lực lượng sau Hiệp định Giơnevơ ...................... 9
1.1.3. Âm mưu và thủ đoạn của địch ........................................................ 11
1.2. Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị nhằm thi hành
Hiệp định Giơnevơ ......................................................................... 14
1.2.1. Chủ trương của Đảng chuyển hướng đấu tranh ở miền Nam ........... 14
1.2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ Phú Yên trong cuộc đấu tranh giữ
gìn lực lượng cách mạng................................................................. 17
1.3. Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị có vũ
trang tự vệ chống khủng bố của địch .............................................. 19
1.3.1. Duy trì tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở Phú Yên .............. 19
1.3.2. Các phong trào đấu tranh cách mạng .............................................. 22

thực dân Pháp nhảy vào miền Nam, gạt thực dân Pháp và mọi thế lực thân
Pháp, lập chính quyền tay sai, thực hiện mưu đồ biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến để ngăn
chặn ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam Á, bao
vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ
và chính quyền tay sai dùng biện pháp chủ yếu: “tố cộng, diệt cộng”, ra sức
tiêu diệt lực lượng cách mạng và những người yêu nước, xóa mọi ảnh hưởng
của Đảng Cộng sản trong nhân dân.
Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là một tỉnh có phong trào
kháng chiến mạnh của vùng tự do Liên Khu V, nên ngay từ những ngày đầu
tiếp quản, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã ráo riết đánh phá phong trào
cách mạng. Trong những năm đầu sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết,
chính sách độc tài phát xít, hiếu chiến của Mỹ và chính quyền tay sai đã làm
cho đời sống của nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Phú Yên nói
riêng vô cùng đau khổ và căng thẳng. Cho đến năm 1959, trải qua 4 năm thi
hành các thủ đoạn quân sự, chính trị, bè lũ tay sai của Mỹ không tiêu diệt
được phong trào yêu nước, phong trào cách mạng miền Nam. Ở Phú Yên
chúng dùng đủ loại thủ đoạn lừa bịp, mị dân chuyển sang thủ đoạn đàn áp,
khủng bố man rợ. Chúng tiến hành các vụ thảm sát, các đợt “tố cộng”, “lập ấp
chiến lược”, càn quét, đốt phá, bắn giết, cưỡng bức đồng bào. Luật 10/59 ra
đời, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, mở các phiên tòa lưu động xét xử và
đưa lên máy chém những người yêu nước tham gia cách mạng. Chính điều đó
đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ Mỹ - Diệm ngày càng sâu sắc
hơn. Nhiều người trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền trong các tầng lớp

1


trên cũng bất bình. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc bùng nổ các phong
trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân.

Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào
đấu tranh cách mạng trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1960, đặc biệt là
lãnh đạo phong trào đồng khởi năm 1960 là tiếp tục làm sáng rõ nội dung,
diễn biến, và ý nghĩa của phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân
Phú Yên. Đặc biệt là làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối
với phong trào đấu tranh cách mạng đó. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm lịch
sử quý báu của Đảng trong việc lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của
nhân dân.
Xuất phát từ những lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh
Phú Yên lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm
1960 làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam sau năm 1954
vô cùng khó khăn, ác liệt. Ở Phú Yên, Đảng bộ tỉnh Phú Yên đã từng bước
lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng trong giai đoạn 19541959, tiến tới lãnh đạo phong trào đồng khởi năm 1960. Đồng khởi Hòa
Thịnh (Phú Yên) là cuộc khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa cục bộ lớn, đầu
tiên ở một xã nông thôn đồng bằng Phú Yên và Khu V. Là ngọn cờ tiêu biểu
mở đầu cho phong trào Đồng khởi ở đồng bằng Khu V. Cho đến nay vẫn chưa
có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm
1960, đặc biệt là đối với Đồng khởi Hòa Thịnh (Tuy Hòa - Phú Yên). Có thể
khái quát một số công trình nghiên cứu đã xuất bản như:
- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Yên: Lịch sử Phú Yên kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xuất bản 1996.
- Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên: Đồng khởi Hòa Thịnh, Sở Khoa học
và Công nghệ xuất bản 2007.

3



4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Những chủ trương và biện pháp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối
với phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm 1960 và quá trình
tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp đó.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu những yếu tố có ảnh hưởng đến việc
xác định chủ trương và biện pháp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với
phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm 1960.
- Về thời gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu chủ yếu từ năm 1954 đến
năm 1960.
- Về không gian: Nghiên cứu chủ yếu trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Ngoài
ra còn nghiên cứu tới phong trào đấu tranh cách mạng ở khu vực Nam Trung
Bộ và Nam Bộ để có sự so sánh, đánh giá đầy đủ hơn.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
- Những tư liệu thể hiện quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí
Minh về chiến tranh nhân dân.
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Các văn kiện của Khu ủy Khu V trong thời kỳ kháng chiến cống Mỹ,
cứu nước.
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Phú Yên, huyện ủy Tuy Hòa I trong
thời kỳ kháng chiến cống Mỹ, cứu nước.
- Nguồn tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên; viện Lịch sử
Đảng.
- Nguồn tài liệu về lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Viện
lịch sử quân sự Việt Nam.
- Một số công trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá có liên quan.



Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH
GIỮ GÌN LỰC LƢỢNG CÁCH MẠNG TRONG NHỮNG NĂM 1954-1959

1.1. Tình hình tỉnh Phú Yên sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Phú Yên
Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng ven biển Nam Trung Bộ. Phía Bắc giáp
tỉnh Bình Định. Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hoà. Phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc
và tỉnh Gia Lai. Phía Đông giáp Biển Đông. Toàn tỉnh có diện tích 5223km2.
Chiều dài nhất là 116km, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 78km, chỗ hẹp
nhất khoảng 46km.
Phú Yên nằm dọc theo dãy Trường Sơn, địa hình phức tạp, có những
nhánh núi tách ra chạy theo hướng đông đến sát biển tạo thành những đèo
tương đối cao và hiểm trở như: Đèo Cù Mông, Dốc Găng, Đèo Quán Cau, Đèo
Cả; đồng thời chia cắt Phú Yên thành những đồng bằng hẹp. Phần lớn đất đai
Phú Yên là rừng núi hiểm trở kín đáo, là địa bàn quân sự có tầm chiến lược.
Địa hình Phú Yên có thể chia làm 3 khu vực lớn, đó là vùng núi, bán
sơn địa và đồng bằng.
Miền núi của tỉnh là địa bàn hiểm trở, lại liên kết với vùng núi non
trùng điệp Tây Nguyên nên có một thế đứng chiến lược về quân sự. Dân cư
miền núi thưa thớt, trình độ kinh tế-xã hội chưa phát triển, nhưng đồng bào
các dân tộc Phú Yên có truyền thống đấu tranh cách mạng chống ngoại xâm,
một lòng theo Đảng, theo cách mạng. Suốt 30 năm kháng chiến, miền núi là
căn cứ địa vững chắc của chiến tranh nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Tiếp giáp với vùng núi là vùng bán sơn địa (hay còn gọi là vùng Trung
Du) tương đối bằng phẳng chạy dọc theo các con sông lớn của tỉnh. Ở đây có
nhiều đồng cỏ tự nhiên, bãi bồi rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đàn

7


8


Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cùng với nhân dân cả nước,
nhân dân Phú Yên đã liên tục đứng lên đấu tranh chống xâm lược. Tiêu biểu
là phong trào Cần Vương do các ông Lê Thành Phương, Nguyễn Hào Sự, Võ
Trứ, Trần Cao Vân… lãnh đạo.
Do những hạn chế về lịch sử, chưa có đường lối và phương pháp đấu
tranh đúng đắn nên tất cả các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy theo đường lối của
phong kiến và tư sản đều lần lượt thất bại. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời (1930) đánh dấu bước phát triển vượt bậc của cách mạng Việt Nam. Từ
đó, nhân dân Phú Yên cũng như nhân dân cả nước đã thoát khỏi sự bế tắc về
đường lối đấu tranh, tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, tạo nên thắng lợi hết sức vẻ vang
trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập cho dân tộc, thoát khỏi
ách thống trị của thực dân và phong kiến.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Phú Yên nằm trong
vùng tự do Khu V, phát triển vững mạnh về mọi mặt, là hậu phương trực tiếp
của các chiến trường Khánh Hoà, Nam Tây Nguyên. Các chính sách về cải
cách dân chủ được thi hành rộng rãi, nhân dân có trình độ giác ngộ chính trị
cao, xây dựng thành công nền kinh tế tự chủ, có lực lượng cán bộ đông đảo,
trung thành với cách mạng. Bởi vậy, ngay sau khi hiệp định Giơnevơ được ký
kết và co hiệu lực bè lũ Mỹ và tay sai của chúng đã đàn áp phong trào cách
mạng Phú Yên một cách tàn khốc. Từ đây lịch sử Đảng bộ và nhân dân Phú
Yên bước sang một giai đoạn mới hết sức gian khổ, nhưng cũng rất hào hùng
và oanh liệt, viết nên những trang sử vẻ vang trong 21 năm kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước.
1.1.2. Sự thay đổi so sánh lực lượng sau Hiệp định Giơnevơ
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam kết

Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là tỉnh tự do với gần 30 vạn
dân, nhiều căn cứ du kích, là địa bàn đứng chân của các lực lượng vũ trang và
bán vũ trang, có gần hai vạn đảng viên hoạt động công khai trong quần chúng.
Nhân dân vùng tự do và căn cứ, được Đảng giáo dục, giác ngộ đã chiến đấu

10


kiên cường, đóng góp nhiều sức người, sức của cho kháng chiến, đồng thời
được hưởng những quyền lợi về ruộng đất và văn hoá, xã hội dưới chính
quyền cách mạng. Trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, đảng viên và nhân
dân Phú Yên là một lực lượng chính trị to lớn, đồng thời cũng là đối tượng mà
Mỹ và tay sai tập trung khủng bố, trả thù hết sức dã man. Do việc phải tập kết
chuyển quân ra miền Bắc, vùng tự do và cả căn cứ du kích, căn cứ miền Tây
của tỉnh trở thành vùng đối phương kiểm soát, nhân dân phải sống dưới ách
thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai. Tuy vậy, cán bộ và
nhân dân Phú Yên vẫn tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tin tưởng ở
thắng lợi cuối cùng của cách mạng nên đều nghiêm chỉnh chấp hành chủ
trương của Đảng, sẵn sàng tiếp tục cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới.
1.1.3. Âm mưu và thủ đoạn của địch
Thực hiện ý đồ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã khước từ hiệp
thương tổng tuyển cử với miền Bắc để thống nhất đất nước. Chúng tổ chức
“trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng
thống, tổ chức bầu cử riêng ở miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu
mới của Mỹ. Chúng ráo riết thi hành chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” nhằm
đánh vào cơ sở của Đảng Cộng sản, trả thù những người yêu nước, nhất là
những người kháng chiến cũ và những gia đình có người thân đi tập kết ở
miền Bắc; thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định
Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân. Chúng đã gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm
máu ở miền Nam nói chung và Phú Yên nói riêng như: Mỏ Cày, Bình Đại

suốt đời. Địch tiến hành khủng bố trắng các cuộc đấu tranh của nhân dân.
Điển hình như, ngày 7-9-1954, đế quốc Mỹ và tay sai đã gây nên vụ thảm sát
đẫm máu tại Ngân Sơn-Chí Thạnh (Tuy An-Phú Yên) làm 64 người chết và
76 người bị thương. Sau vụ Ngân Sơn-Chí Thạnh, chúng còn thực hiện nhiều
đợt khủng bố khác. Có nhiều trường hợp chúng bắn giết cán bộ, đảng viên
một cách trắng trợn. “Từng đoàn, từng toán công an, cảnh sát, hội đồng
hương chính lùng sục trong nhà, ngoài vườn, đón đường, đón chợ, bắt được

12


cán bộ là bắn tại chỗ, cho vào bao tải thả trôi sông, chôn sống một hầm bốn,
năm người” [11, tr.17-18]. Trong hai tháng 9 và 10 năm 1954, số cán bộ,
đảng viên và dân thường bị bắt, bị giết ở Phú Yên lên đến 721 người. Riêng
tại nhà lao tỉnh, địch giam giữ đến 1000 người, “không giường, không chiếu,
nằm chồng lên nhau, dơ bẩn, dịch bệnh, ngày đêm đều có người bị tra tấn kêu
la thảm thiết” [11, tr.18].
Kẻ thù ra sức đánh phá ác liệt, bọn ác ôn ở các nơi trong tỉnh Phú Yên
ngày càng lên mặt hống hách, điên cuồng giết hại cán bộ đảng viên, bắt bớ,
tra tấn, hãm hiếp, quản thúc, tịch thu tài sản của những gia đình có chồng, con
đi tập kết hoặc thoát ly. Chúng bắt những người vợ của cán bộ đi tập kết phải
ly dị chồng, người thân có con em đi tập kết phải làm giấy ly khai, nói xấu
cộng sản.
Ở trong tỉnh, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã tổ chức xây
dựng các “pháo đài chống cộng” bằng cách thành lập các đơn vị vũ trang do
linh mục trực tiếp chỉ huy. Chúng gây chia rẽ giữa Thiên Chúa giáo và Phật
giáo, giữa giáo và lương, nhất là giữa Thiên Chúa giáo với cộng sản. Trong
khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chủ trương “tố cộng”, “diệt
cộng”. Chúng chọn những xã có phong trào kháng chiến chống Pháp mạnh để
làm nơi “tố cộng điển hình”. Cụ thể, ở Tuy Hoà chúng chọn 3 xã: Hoà Trị,

nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc bùng nổ các phong trào đấu tranh cách
mạng của quần chúng nhân dân tỉnh Phú Yên.
1.2. Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị nhằm
thi hành Hiệp định Giơnevơ
1.2.1. Chủ trương của Đảng chuyển hướng đấu tranh ở miền Nam
Đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước sau tháng 7-1954 đòi hỏi Đảng
phải có một đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến
lên. Trải qua nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị,
chủ trương chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng đã
từng bước được hình thành.

14


Do nắm vững âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nên trước ngày ký
Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ
15 đến 17-7-1954) đã chỉ rõ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân
dân thế giới, và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông
Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ” [26, tr.319].
Đảng quyết định thay đổi phương thức đấu tranh quân sự sang đấu
tranh chính trị, đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải thi hành Hiệp định, phải
tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và đòi thực hiện các
quyền dân sinh, dân chủ, chống mọi hành động khủng bố, đàn áp.
Chỉ ít ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trong chỉ thị của
Ban Bí thư, Trung ương Đảng xác định: Đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và bọn
tay sai của chúng vẫn chưa chịu bỏ âm mưu phá hoại việc lập lại hoà bình ở
Đông Dương. Cho nên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cần phải tiếp tục đấu
tranh gian khổ, lâu dài để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành
độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Nhân dân Đông Dương cần luôn luôn đề
cao cảnh giác, đập tan mọi âm mưu phá hoại hoà bình, xâm phạm những hiệp

tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Đồng thời, Bộ Chính trị nêu lên ba
nhiệm vụ cụ thể trước mắt của cách mạng miền Nam là: đấu tranh đòi thi
hành Hiệp định; chuyển hướng công tác cho phù hợp điều kiện mới; tập hợp
mọi lực lượng dân tộc, dân chủ, hoà bình, thống nhất, độc lập, đấu tranh nhằm
lật đổ chính quyền bù nhìn thân Mỹ, hoàn thành thống nhất Tổ quốc.
Thực hiện chủ trương chuyển hướng của Đảng, các đảng bộ và quân
dân miền Nam nói chung và Đảng bộ, nhân dân Phú Yên nói riêng đã nhanh
chóng chuyển hướng đấu tranh từ vũ trang sang chính trị, nghiêm chỉnh chấp
hành Hiệp định Giơnevơ. Hàng trăm tổ chức quần chúng công khai, trong đó
có các uỷ ban đấu tranh đòi hoà bình được thành lập ở miền Nam. Phong trào
đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống bầu cử lừa bịp, chống cướp
đất, đuổi nhà, dồn dân, đòi công ăn việc làm, chống khủng bố, chống sa thải,
chống bắt lính v.v... được phát triển mạnh mẽ cả ở nông thôn và thành thị với
hàng triệu lượt người tham gia.

16


1.2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ Phú Yên trong cuộc đấu tranh giữ gìn
lực lượng cách mạng
Do việc tập kết chuyển quân ra Bắc, tương quan lực lượng ở miền Nam
có sự thay đổi lớn, không có lợi cho phong trào cách mạng. Trong tương quan
lực lượng đó, cần phải thay đổi phương thức đấu tranh ở miền Nam: từ đấu
tranh quân sự sang đấu tranh chính trị.
Để giữ gìn lực lượng và duy trì hoạt động trong điều kiện quân thù
khủng bố dã man, các đảng bộ ở miền Nam đã sắp xếp lại tổ chức và rút vào
hoạt động bí mật. Nhiều địa phương đã chủ trương “điều” (cán bộ đã bị lộ đi
hoạt động ở địa phương khác) và “lắng” (cán bộ tạm thời rút vào hoạt động bí
mật), kiên trì bám dân, bám đất, lãnh đạo phong trào. Cán bộ và nhân dân
miền Nam đã chiến đấu kiên cường và hy sinh vô cùng anh dũng. Sôi nổi,

làng, các vùng trọng yếu, giao quyền cho tay sai thẳng tay đàn áp bất cứ cuộc
đấu tranh nào của nhân dân.
Trước tình hình khó khăn, Liên Khu uỷ V đã tăng cường cán bộ cho
tỉnh. Giữa tháng 5-1956, Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng được triệu tập. Hội nghị
vạch rõ công tác tư tưởng lớn nhất lúc này là không ngừng giữ vững lòng tin
ở cách mạng nhất định thắng lợi, giữ vững phẩm chất đạo đức người cán bộ
cách mạng, đề cao khí tiết cộng sản, chống ảnh hưởng xấu của một số phần tử
khai báo, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của địch nhằm sử dụng
số đảng viên đã thoái hoá để đánh vào Đảng và cơ sở cách mạng. Về tổ chức,
Tỉnh uỷ chủ trương ra sức bảo đảm sự liên lạc giữa Tỉnh uỷ với cấp trên và
các cấp huyện, xã. Tích cực xây dựng cơ sở, thực hiện phương châm “khéo
công tác, khéo che giấu”, giữ đúng nguyên tắc bí mật. Bổ sung một số đồng
chí đã được rèn luyện, thử thách vào Tỉnh uỷ. Xây dựng miền Tây thành vùng
căn cứ của tỉnh [11, tr.24].
Trong những năm đầu, cán bộ và quần chúng chưa lường hết sự tàn ác
dã man của địch, còn lúng túng trong việc sử dụng các phương thức hoạt động
ở vùng tạm bị chiếm. “Nhưng thực tế sáng dần, các huyện đã xây dựng được
chỗ đứng chân ở vùng ven biển, ven núi” [11, tr.25].

18


Vào giữa năm 1956, khi đã thiết lập được bộ máy cai trị đến thôn, xã ở
đồng bằng, đế quốc Mỹ và tay sai tiến lên đánh phá miền núi, thực hiện dồn
dân, vì chúng cho rằng có dồn dân mới thi hành được các chính sách của
chúng và mới tiêu diệt được cơ sở cách mạng. Chúng ra sức tuyên truyền luận
điệu bịp bợm “dồn dân là để cải thiện đời sống”.
Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ chỉ đạo các huyện miền tây của tỉnh vận
động nhân dân chống lại kế hoạch dồn dân của địch bằng những hình thức
đấu tranh hợp pháp dựa vào phong tục tập quán và luận điệu tuyên truyền dân

dự lớp bồi dưỡng do đồng chí Võ Chí Công, đại diện Liên Khu uỷ triệu tập.
Qua những lớp bồi dưỡng và hội nghị học tập, Tỉnh uỷ chọn những đồng chí
vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao bố trí đưa về tỉnh hoạt động. Cơ quan
tỉnh, huyện được tổ chức gọn nhẹ, chỉ còn năm, sáu đồng chí để bảo đảm bí
mật lúc khó khăn, bám vào cơ sở. Tại xã chỉ để một hoặc hai đồng chí chuyên
trách lãnh đạo phong trào. Một mặt, Tỉnh uỷ liên lạc bắt mối với các đồng chí
còn bám lại địa phương. Mặt khác, tổ chức phổ biến tình thần Hiệp định
Giơnevơ và đường lối, chính sách của Đảng cho số quần chúng thường đi ra,
đi vào giữa Phú Yên và Bình Định, hàng ngày có đến vài trăm người.
Cuối tháng 11-1954, theo chỉ thị của Liên Khu uỷ V, Văn phòng Tỉnh
uỷ rút ra Diêu Trì - Bình Định. Tại đây một số cán bộ của tỉnh được dự cuộc
họp nghe đại diện Khu uỷ phổ biến tình hình, nhiệm vụ và phương trâm,
phương pháp hoạt động bí mật, đồng thời chỉnh đốn tổ chức. Nhiệm vụ của
Tỉnh uỷ lúc này là phát triển cơ sở, tổ chức các chi bộ đảng lãnh đạo nhân dân
đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do để thống
nhất đất nước. Thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, Tỉnh uỷ ra sức chỉ đạo
phục hồi phong trào, phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng. Đường dây liên lạc
từ căn cứ của tỉnh đến một số huyện và xã được tổ chức lại. Tháng 5-1955,
một số đồng chí được cử đi đường biển vào căn cứ Bãi Xếp (thuộc xã Hoà
Hiệp) hoạt động ở các huyện Tuy Hoà I, Tuy Hoà II. Một số đồng chí khác

20


được cử đi đường núi vào các huyện Đồng Xuân, Tuy An, Sơn Hoà để hoạt
động. Một số cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng nhanh chóng được phục hồi.
Trước sự khủng bố dã man và thủ đoạn thâm độc của Mỹ và tay sai,
một số cán bộ đảng viên nằm im không thể hoạt động, một số chạy vào Sài
Gòn, Nha Trang để tránh sự khủng bố của địch. Trong thời điểm này, Tỉnh uỷ
Phú Yên cho ra tờ báo “Đoàn kết” để thông báo chủ trương, nghị quyết của

thù của nhân dân đối với chúng lên đến tột đỉnh, mà còn làm cho họ thấy
được bản chất độc tài phát xít của chế độ do đế quốc Mỹ lập nên.
Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, lòng dân càng hướng về Đảng. Không ít
quần chúng đã giả đi buôn bán đến vùng căn cứ của ta bắt mối liên lạc với
Đảng, nhiều thanh niên tình nguyện gia nhập vào Đảng. Trong hoàn cảnh địch
thực hiện khủng bố trắng nhưng Đảng bộ Phú Yên vẫn lãnh đạo nhân dân
đứng lên chống cuộc “trưng cầu dân ý” tháng 10-1955 và cuộc bầu cử quốc
hội bù nhìn của đế quốc Mỹ và tay sai vào tháng 3-1956.
Cuộc đấu tranh chống bầu cử quốc hội của Mỹ và tay sai được tiến
hành dưới nhiều hình thức. Ở huyện Tuy Hoà, chỉ trong một đêm, truyền đơn
được tung ra khắp các xã, tẩy chay cuộc bầu cử và vạch trần âm mưu, thủ
đoạn của Ngô Đình Diệm nhằm chia cắt vĩnh viễn Việt Nam. Địch ra sức trả
thù, ở nhiều xã chúng bắt hàng trăm người, có cả một số đồng chí lãnh đạo
huyện, tỉnh.
Để chống âm mưu “tố cộng”, “diệt cộng” của địch, Tỉnh uỷ Phú Yên đề
ra chủ trương đối phó bằng nhiều cách: viện lý do đau yếu không đi “tố” và bắt
đi thì không tới, không hô khẩu hiệu, không xé cờ Đảng, làm ồn ào mất trật tự,
hoặc “tố” những tên đầu hàng phản bội làm tay sai cho giặc... Mặc dù bị địch
khủng bố dã man “nhưng quần chúng nhân dân vẫn kiên cường, bền bỉ đấu
tranh từng bước làm thất bại âm mưu “tố cộng, “diệt cộng” của địch” [1, tr.49].
Qua thực tiễn phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam đòi hiệp
thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước cho thấy những hạn chế của hình
thức này, nếu ta chỉ đấu tranh chính trị đơn thuần, trong khi kẻ địch ngay từ

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status