SKKN một số giải pháp về thực hiện tốt trách nhiệm và nhiệm vụ của GV nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn toán cho học sinh trung bình – yếu - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LÊ HỒNG PHONG

Mã số :………..

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ:
“THỰC HIỆN TỐT TRÁCH NHIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA
GIÁO VIÊN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
MÔN TOÁN CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH-YẾU”

NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN THÚY HẰNG
NĂM SINH: 1979
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU:
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN

NĂM HỌC: 2011 – 2012

-1-


SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1.
2.
3.
4.
5.

Họ và tên: Nguyễn Thúy Hằng


+ Năm học 2010 – 2011:
“ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỈ
LUẬT TÍCH CỰC”

-2-


MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ:
“THỰC HIỆN TỐT TRÁCH NHIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIÁO VIÊN
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC
SINH TRUNG BÌNH-YẾU”

Phần một
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
ngành Giáo dục và Đào tạo, được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi năm
học đối với các Trường phổ thông nói chung và đối với mỗi người thầy nói riêng.
Vì vậy, việc dạy học phù hợp với đối tượng học sinh luôn là vấn đề quan trọng
được đặt ra đối với mỗi giáo viên khi đứng lớp. Song làm thế nào để học sinh
Trung bình – Yếu lĩnh hội được hết kiến thức, vận dụng vào việc luyện tập, thực
hành là một vấn đề khó, đòi hỏi GV phải có nhiều giải pháp.
Đối với các trường THPT có chất lượng đầu vào thấp thì hầu như các em đều
bị mất căn bản và không có hứng thú với việc học. Có nhiều em đến trường chỉ là
ngồi cho có lớp, cho vừa lòng cha mẹ chứ không có mục tiêu học tập. Bên cạnh
đó, cũng có những em đến trường là để thực hiện ước mơ nghề nghiệp của mình
sau này nhưng do kiến thức càng học lên cao càng khó, hơn nữa để học tốt môn
toán thì các em phải nắm vững kiến thức cơ bản ở những lớp dưới nhưng các em
lại bị hổng kiến thức cơ bản,do đó khi học lên cấp ba các em được nghe thầy cô
giảng thấy khá hay nhưng vẫn không hiểu gì. Cứ như vậy, các em sinh ra chán

a. Năng lực học tập của học sinh không đồng đều, có sự phân hoá cao.
Chất lượng đầu vào của học sinh thấp, khả năng tiếp thu bài hạn chế, hầu hết
các em đều bị mất căn bản; ý thức tự học, trao đổi còn yếu, thiếu tự tin. Ở mỗi
lớp chỉ có một số ít học sinh có lực học khá, còn lại là HS có lực hoc TB-Y. Sự
không đồng đều này là một trong những khó khăn lớn trong việc nâng cao chất
lượng giờ dạy.
b. Đa số học sinh thiếu phương pháp học tập.
Phần lớn vẫn thiên về học vẹt, học thuộc lòng bài giảng. Không có thói quen
phát biểu, trao đổi cùng GV những vấn đề chưa hiểu. Chưa hình thành các kĩ
năng vận dụng kiến thức được học vào việc giải quyết các vấn đề mới. Vì vậy
thường lúng túng khi gặp phải đề thi không quen thuộc. Rất ít học sinh có khả
năng học theo phương pháp hệ thống hoá, sơ đồ hoá. Thực hiện thiếu hiệu quả
việc học tập, trao đổi theo nhóm.
c. Một bộ phận phụ huynh chưa sâu sát với việc học tập của học sinh,
chưa xây dựng cho con em ý thức vượt khó trong học tập và thường khoán
trắng việc giáo dục con em họ cho thầy cô và nhà trường
Thực trạng này khiến việc tác động, phối hợp giữa GV, nhà trường và gia
đình HS còn gặp khó khăn. Đây là một trong những trở ngại lớn cho giáo viên
-4-


trong việc nâng cao chất lượng dạy học, vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải tận
tâm và có lòng kiên trì.
Trong 3 nguyên nhân trên, thì nguyên nhân thứ 2 được xác định là nguyên
nhân chính đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả việc học môn toán của học sinh.

Phần ba
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
A. Cơ sở lý luận
Xuất phát từ Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ VI: “ Nâng cao chất lượng

C. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Do đặc điểm của học sinh trung bình – yếu môn toán là khả năng tiếp thu
bài hạn chế; ý thức tự học, trao đổi còn yếu, thiếu tự tin trong học tập; bị hổng
kiến thức căn bản ở những lớp dưới và chưa tìm được phương pháp học tập có
hiệu quả nên từ thực tế giảng dạy đối tượng học sinh trên , tôi thấy: Để nâng cao
chất lượng cho học sinh trung bình – yếu môn toán ,đòi hỏi phải nâng cao vai trò
trách nhiệm của người GV, mà cụ thể ở đây đó là ý thức trách nhiệm, sự tận tâm
và lòng kiên trì của người thầy. Nếu chúng ta chỉ đưa ra giải pháp mà thiếu ý
thức trách nhiệm, sự tận tâm và lòng kiên trì nhẫn nại của người thầy thì sẽ không
thể thành công trong việc nâng cao chất lượng cho học sinh Trung bình- yếu và
ngược lại.
Tóm lại, để nâng cao chất lượng giảng dạy môn toán cho học sinh, đặc biệt
là học sinh trung bình - yếu trong trường THPT, tôi đã đưa ra “ Một số giải pháp
về thực hiện tốt trách nhiệm và nhiệm vụ của Giáo viên nhằm nâng cao chất
lượng dạy học môn Toán cho học sinh Trung bình –Yếu”, cụ thể là:
• Ý thức trách nhiệm, sự tận tâm và lòng kiên trì của người thầy
• GV phải chú trọng việc chuẩn bị nội dung cho phù hợp với đối tượng
học sinh
• Chú trọng phương pháp truyền đạt kiến thức
• Phát hiện và chỉnh sửa triệt để những sai sót trong kỹ năng giải toán
của học sinh
• GV phải hiểu rõ năng lực học tập của từng học sinh
• Luôn có tinh thần cầu tiến để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
• Xây dựng chuẩn đánh giá trình độ học sinh
• Thường xuyên dùng các giải pháp tâm lý
1. Ý thức trách nhiệm, sự tận tâm và lòng kiên trì của người thầy
Với đối tượng học sinh có lực học Trung bình- Yếu môn toán, giáo viên cần
tìm hiểu từng hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến tình trạng học yếu của các em để
có phương pháp giảng dạy phù hợp. Tạo điều kiện để các em trình bày những suy
nghĩ của mình, giúp các em giãi bày tâm sự. Chính sự thân thiện, gần gũi, thái độ

II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1.Chuẩn bị của giáo viên: Giáo án, phấn, phiếu học tập, phương tiện khác.
2. Chuẩn bị của học sinh: Ôn lại kiến thức về: bảng nguyên hàm , tính tích
phân bằng phương pháp đổi biến số và làm các bài tập về nhà.
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Gợi mở vấn đáp.
IV. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Ghi bảng – Trình chiếu
GV ghi bài tập lên
HS theo dõi bài tập
Tính:
0
1
bảng.
và suy nghĩ cách làm.
2
a) ∫ ( x + 1) dx ; b) ∫ ( x − 2 ) x 7 dx
−1

0

Giải
0

GV gọi 2 HS lên
bảng, yêu cầu các HS

lại( nếu cần)

HS nhận xét bài của
bạn.

 x3

1
=  + x2 + x ÷ =
 3
÷

 −1 3
1

1

b) ∫ ( x − 2 ) x dx = ∫ ( x8 − 2 x 7 ) dx
7

0

0

1

 x 9 x8 
= − ÷
 9 4 0
GV chốt lại nội dung

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

GV ghi bài 1 lên bảng

HS theo dõi và suy
nghĩ cách làm.

Ghi bảng – Trình chiếu
Bài 1. Tính các tích phân sau:
π
2

a) A = ∫ sin 4 x cos xdx
0
ln 2

b) B =


0

0

c)C =

ex
dx
ex + 1

π
x = ⇒ u =1
2
Do đó:
1

1

u5
1
A = ∫ u du =
=
5 0 5
0
4

ln 2



b) B =

0

ex
dx
ex + 1

Đặt u = e x + 1 ⇒ du = e x dx
Đổi cận:

GV chốt lại nội
dung bài 1

HS nhận xét bài làm
của bạn.
HS ghi nhớ cách
làm bài 1

−1

Đặt u = x + 1 ⇒ du = dx
Đổi cận:

x = −1 ⇒ u = 0
x=0⇒u=1

Do đó:
1

u2013
C = ∫ u2012 du =
2013
0

Từ cách giải của bài
HS suy nghĩ tìm lời
1. GV yêu cầu HS suy giải.
nghĩ cách giải bài 2.

π


1

e2 x
dx
ex + 1


π
2

làm.

a) A= ∫ sin3 x.sin 2 xdx
0

Ta có:
π
2

A= ∫ sin3 x.2 sin x cos xdx
0

π
2

1 2
= 2 ∫ sin 4 x cos xdx = 2. =
5 5
0

π
2

=

sin x
5

0

=

x = ln 2 ⇒ u = 3

Do đó:
3

3


u −1
1
du
=
1


∫ u
∫  u ÷du .
2

1
5

4. Củng cố - dặn dò
a) GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Khi tính tích phân bằng phương pháp đổi biến
số ta cần lưu ý ?
b) Phiếu học tập( Bài tập về nhà)
( GV yêu cầu HS suy nghĩ để đưa ra phương pháp giải của từng câu, sau đó về
nhà làm)
- 10 -


Tính các tích phân sau:
1)

5



π
2

x 4 + x2 dx

4) ∫ (1 + sin x)8 cos xdx

0

0
π

tương tự để HS giải quyết, tránh trường hợp dạy vòng vo, trình bày lý thuyết
nhiều... làm cho HS khó tiếp thu; kiến thức truyền thụ cần ngắn gọn, tinh giản
nhưng phải đảm bảo đầy đủ, chính xác; cần cô động lại kiến thức trọng tâm từng
bài, để giúp HS ôn tập được dễ dàng.
Không được chủ quan đối với những kiến thức đã dạy xem như HS đã biết
rồi mà phải tranh thủ thời gian để ôn tập lại kiến thức cũ khi giảng bài mới và
luyện tập.
Ví dụ:
Trước khi cho học sinh giải bất phương trình: log 2 ( x − 2 ) − log 2 ( x − 5 ) < 1 ,
GV cần cho học sinh ôn lại kiến thức có liê quan đến việc giải bất phương trình
trên như sau:
a) Tập xác định của hàm số: y = log a x (0 < a ≠ 1) ?
b) log a f ( x) − log a g ( x) = ?
c) Nếu a > 1 thì log a f ( x ) > log a g ( x ) ⇔ ?
d) Nếu 0 < a < 1 thì log a f ( x ) > log a g ( x ) ⇔ ?
x−2

= ln 2 + 2 − ln1 + =
x
2
2 2

1
1
Qua ví dụ trên, GV phải hướng dẫn để học sinh phát hiên ra được các lỗi sai,
đó là:
2


1

x2 
a) Thiếu dấu ngoặc:  ln x +
và ( ln 2 + 2 ) −  ln1 + ÷
÷

2
2 ÷


1
b) Sai lầm ở phép tính: ln2 – ln1 = ln1 = 0
Trong mỗi bài toán, GV không chỉ hướng dẫn cho các em tiếp thu được nội
dung kiến thức mà phải rèn cho các em kỹ năng trình bày một bài toán, dạng
toán. Để làm được điểu đó, GV cho HS làm nhiều lần một dạng toán bằng cách
cho bài trên lớp rồi lại cho bài tương tự về nhà và có sự kiểm tra khắt khe, nhất là
đối với các em có lực học yếu – kém . Sau mỗi chương GV cho HS luyện tập

mới và khó trong chương trình.
Soạn bài đầy đủ, kỹ lưỡng, bám sát trọng tâm, phù hợp với từng đối tượng,
không gây áp lực, quá tải cho học sinh.
Mỗi giáo viên luôn chú trọng việc tự học, tự bồi dưỡng.
Tích cực dự giờ của đồng nghiệp để đúc rút kinh nghiệm cho bản thân.
Chất lượng giờ dạy tốt, đảm bảo truyền thụ đầy đủ những kiến thức cơ bản
( riêng đối với các lớp khá hơn phải có thêm phần mở rông, nâng cao kiến thức)
7. Xây dựng chuẩn đánh giá trình độ học sinh
Xây dựng ngân hàng đề và chuẩn đánh giá
Tổ chuyên môn thống nhất chung về phương pháp đánh giá học sinh
GV sử dụng nhiều công cụ đánh giá khác nhau để có thể đánh giá đúng HS
một cách khách quan: Kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết
Trong các bài kiểm tra viết cần sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó và có đủ loại
bài đại diện cho các kiến thức kĩ năng cơ bản nhất.
GV vận dụng cách đánh giá theo nhiều chiều: GV đánh giá học sinh, học sinh
đánh giá lẫn nhau và nêu cao ý thức tự đánh giá ở mỗi học sinh.
8. Thường xuyên dùng các giải pháp tâm lý
Tìm hiểu kĩ lưỡng những vướng mắc mà học sinh gặp phải khi học toán để có
biện pháp thích hợp tháo gỡ cho học sinh.
Làm cho học sinh thấy được học toán tốt là phải thực hành nhiều chứ không
phải ngồi xem người khác làm.

- 13 -


Thường xuyên khen ngợi, cổ vũ khi học sinh có lời giải hay và động viên các
em có lời giải chưa chính xác để gây ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy tinh thần học
tập của học sinh.
Thái độ của giáo viên khi đứng lớp phải nhẹ nhàng, mềm mỏng và nghiêm
khắc tùy đối tượng. Biết kìm chế trước học sinh cá biệt.


Phần năm
- 14 -

Năm 2011
100%
100%
100%
100%


BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Đối với bản thân
Phải thường xuyên học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, luôn luôn trau
dồi phẩm chất đạo đức để xứng đáng là một tấm gương sáng cho học sinh noi
theo
Sự kiên nhẫn, tận tâm, yêu thương học trò nhiệt thành sẽ là phương pháp hay
nhất để giáo dục học sinh trung bình - yếu đạt hiệu quả.
Cần phải có ý chí và lòng nhẫn nại bởi giảng dạy cho đối tượng học sinh
trung bình – yếu dễ gây ra cho giáo viên tâm lí chán nản.
Trước khi giáo dục học sinh cần phải tìm hiểu đối tượng học sinh, sau đó sẽ
quan tâm, động viên, khuyến khích học sinh học tập.
2. Đối với tổ chuyên môn và nhà trường
Tổ chuyên môn: Cần áp dụng, nhân rộng các Sáng kiến của giáo viên trong tổ
để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng Chuyên môn.
Nhà trường: Lãnh đạo nhà trường nên bố trí Giáo viên phù hợp với đặc điểm
đối tượng học sinh; thường xuyên khuyến khích, động viên kịp thời những giáo
viên có thành tích trong công tác.
3. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường – phụ huynh và giáo viên
Phần sáu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status