BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Diễm Thúy
TIẾN TRÌNH VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC
KHMER, CHĂM, HOA Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
TỪ NĂM 1802 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Diễm Thúy
TIẾN TRÌNH VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC
KHMER, CHĂM, HOA Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
TỪ NĂM 1802 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam.
Mã số: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHÚ VĂN HẲN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Lê Thị Diễm Thúy
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu. .............................................. 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 2
3. Phương pháp nghiên cứu. ......................................................................... 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. ................................................. 4
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. ....................................................................... 6
6. Bố cục đề tài. ........................................................................................... 10
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................ 11
1.1. Một số khái niệm về văn hoá và lịch sử ........................................... 11
1.1.1. Về văn hóa. ..................................................................................... 11
1.1.2. Về lịch sử. ....................................................................................... 16
1.1.3. Quan hệ giữa lịch sử và văn hóa. .................................................... 17
1.2. Quá trình phát triển cộng đồng các dân tộc ở Tây Nam Bộ. .......... 19
1.2.1. Cộng đồng người Việt (Kinh). ........................................................ 19
1.2.2. Cộng đồng người Khmer. ............................................................... 22
1.2.3. Cộng đồng người Chăm. ................................................................. 25
1.2.4. Cộng đồng người Hoa. .................................................................... 30
Chương 2. VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC KHMER, CHĂM, HOA Ở TÂY
NAM BỘ TỪ NĂM 1802 ĐẾN 1975. .......................................................... 35
2.1. Văn hóa dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ (1802 – 1975). ................... 35
2.1.1. Về chùa của người Khmer. ............................................................. 35
2.1.2. Về ăn mặc ở của người Khmer. ...................................................... 39
1
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu.
Văn hóa là thước đo trình độ phát triển và thể hiện những đặc tính riêng
của mỗi dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo đó tức là văn hóa”. Vì vậy, nghiên cứu văn hóa của các dân
tộc để tìm ra được những đặc sắc, tinh túy trong hệ thống giá trị truyền thống
văn hóa của dân tộc để tôn vinh, phát huy văn hóa của các dân tộc lên tầm cao
mới, phục vụ tốt hơn cho cuộc sống các thế hệ hôm nay và mai sau.
Ngày nay, trong phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu
hóa, các quốc gia dân tộc có xu hướng xích lại gần nhau để học tập, trao đổi,
giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây vừa là thời cơ vừa là thách thức
trong phát triển kinh tế cũng như trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền
thống của dân tộc. Bởi vì, đứng trước sự tiếp xúc, giao lưu với các nền văn
hóa của bạn bè trên thế giới ta vừa có cơ hội học tập, giao lưu làm cho bức
tranh văn hóa của dân tộc ta thêm sinh động, nhiều màu sắc đồng thời cũng
đặt dân tộc ta trước nguy cơ đánh mất dần bản sắc văn hóa truyền thống. Do
vậy, việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc góp phần thiết thực vào việc giáo
dục cho học sinh ý thức trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân
tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Tây Nam Bộ có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng ở Việt Nam, là cửa ngõ
Văn hóa là một phạm trù có nội dung rộng lớn. Trong điều kiện và khả
năng hạn chế, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu văn hóa gồm hai mảng
chính là văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất trong lịch sử phát triển tộc
người. Văn hóa tinh thần với các dạng thức cơ bản là yếu tố tâm linh, tín
ngưỡng và phong tục tập quán,…Văn hóa vật chất với các công trình văn hóa
3
vật chất cụ thể như chùa chiền, miếu mạo, thánh đường, nhà ở, trang phục, ăn
uống,… Trên cơ sở những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc rút ra
được những nét biến đổi trong một số lĩnh vực của văn hóa của các dân tộc
trong thời đại mới.
Phạm vi nghiên cứu.
- Về mặt thời gian nghiên cứu được xác định là những giá trị trong văn
hóa từ năm 1802 đến nay. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, hiệu
Gia Long, vương triều Nguyễn chính thức được xác lập, cai quản lãnh thổ Đại
Việt được mở rộng đến mũi Cà Mau. Dưới triều Nguyễn, đặc biệt là triều vua
Minh Mạng đã cho thực hiện cuộc cải cách hành chính quy mô và toàn diện.
Theo đó, các đơn vị hành chính như tỉnh, thành được xác lập ở triều Nguyễn
gần như tương ứng với các tỉnh, thành ngày nay. Và cho đến nay, cộng đồng
các dân tộc Khmer, Hoa, Chăm đã hòa nhập và phát triển hòa hợp trên vùng
đất đồng bằng sông Cửu Long tạo nên bản sắc văn hóa rất riêng của vùng.
- Về chủ thể nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu, trình bày những
giá trị văn hóa của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở vùng Tây Nam Bộ trong
quá trình phát triển bên cạnh người Việt cùng sinh sống trong vùng.
- Về không gian nghiên cứu của đề tài được xác định là vùng đất Tây
Nam Bộ hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long.
Về không gian ngoài vùng Tây Nam Bộ (vùng Đông Nam Bộ, miền
Trung); chủ thể ngoài các tộc người Khmer, Chăm, Hoa (tộc người Việt); thời
những giá trị văn hóa các tộc người Khmer, Chăm, Hoa trong phát triển ở Tây
Nam Bộ
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Về mặt khoa học:
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ quá trình phát triển văn
hóa của các dân tộc Khmer, Hoa, Chăm trong dòng chảy của lịch sử dân tộc
Việt Nam, làm cơ sở tư liệu cho nghiên cứu tiến trình văn hóa của các dân tộc
5
ở vùng Nam Bộ, tạo cơ sở để hiểu về dân tộc đầy đủ hơn, phong phú hơn. Từ
đó, khắc phục cách nhìn có phần phiến diện đối với truyền thống, bổ sung
thêm cách nhìn khoa học, khách quan về dân tộc, về văn hóa dân tộc tuy đa
dạng nhưng thống nhất trong văn hóa vùng Tây Nam Bộ.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp học sinh ở các
trường phổ thông các tỉnh vùng Tây Nam Bộ tìm hiểu văn hóa vùng Tây Nam
Bộ trong nền văn hóa Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn:
Nghiên cứu “Tiến trình văn hóa các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở vùng
Tây Nam Bộ từ 1802 đến nay” tức là nghiên cứu mảng lịch sử văn hóa của
các tộc người Khmer, Chăm, Hoa. Kết quả này góp phần hiểu thêm lịch sử
kinh tế, xã hội của vùng đất Tây Nam Bộ, hiểu thêm đặc điểm, tâm lý, tính
cách của các tộc người ở đây. Đặc biệt, qua sự tiếp xúc, tiếp thu của những
yếu tố văn hóa khác nhau đã hình thành nên khối đoàn kết các tộc người cùng
lao động xây dựng đất nước Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó, các dân tộc xét về địa
vựa cư trú có tầm quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, tinh
thần cách mạng và tiềm lực của các dân tộc rất lớn. Ngay từ khi thành lập cho
đến nay, Đảng ta đã rất chú trọng đến công tác dân tộc nhằm phục vụ cho
như: “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” (Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2009), “Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa (Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh, 1981), “Đất Gia Định xưa” (Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 1984) cung cấp những tư liệu quý về sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng,
nhà ở, trang phục, ăn uống của cư dân đồng bằng sông Cửu Long; sự giao tiếp
văn hóa các cư dân trong đó có ăn uống; ngoài ra có văn học dân gian như ca
dao, giai thoại-sự sáng tạo của cư dân trong buổi đầu khai phá.
Tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ của Huỳnh Lứa
(Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987) trình bày tiến trình nhân
7
dân ta khai khẩn và mở mang vùng đất Nam Bộ từ đầu thế kỉ XVII đến
giữa thế kỉ XX.
Đồng thời với các công trình nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ nói
chung và Tây Nam Bộ nói riêng là các công trình chuyên khảo về đặc trưng
văn hóa của các tộc người ở vùng Tây Nam Bộ
Tác phẩm “ Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam” (Bộ
Văn hóa-giáo dục và Thanh niên, 1974) của Nguyễn Văn Luận, tác phẩm
nghiên cứu một cách hệ thống về tộc người Chăm ở miền Tây Nam Bộ từ lịch
sử tộc người, quá trình di cư của tộc người Chăm tới vùng đất miền Tây Nam
Bộ đến đời sống văn hóa, tôn giáo, các tập tục gia đình, hôn nhân đã cung cấp
cho người đọc những hiểu biết giá trị về tộc người Chăm cũng như văn hóa
của tộc người này trong tiến trình phát triển văn hóa ở miền Tây Nam bộ.
Lê Anh Trà với “Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long”
(Viện văn hóa xuất bản 1984) đã tập hợp các bài nghiên cứu về: phương ngôn
Nam bộ, về dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, về văn hóa vật
chất của cư dân đi khẩn hoang, sự hình thành nếp sống và tập quán của người
nông dân Nam bộ, tín ngưỡng cộng đồng của người Hoa vùng đồng bằng
các giá trị văn hóa của người Hoa ở Nam Bộ.
Nguyễn Cẩm Thúy, “Định cư của người Hoa trên vùng đất Nam bộ từ
thế kỉ XVII đến 1945”, ( Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2000), tác phẩm đã
dựng lại quá trình di cư của từng lớp cư dân người Hoa đến vùng đất Nam bộ
từ thế kỉ XVII đến 1945, đồng thời với quá trình di cư là quá trình phát triển
văn hóa của tộc người Hoa trên vùng đất Nam bộ với các giá trị văn hóa tinh
thần đặc săc như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán.
Nguyễn Đăng Duy có “Văn hóa tâm linh Nam Bộ” (Nhà xuất bản Hà
Nội, 1997), trình bày khái quát quá trình khai phá của các cư dân trên vùng
đất Nam bộ thế kỉ XVI-XVIII; đề cập đến các hình thức tín ngưỡng của cư
dân Việt, Hoa, Khmer như thờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu.
9
Nguyễn Phương Thảo, “ Văn hóa dân gian Nam bộ-những phác thảo”
(Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2008), đề cập đến lễ hội của người Khmer,
văn học dân gian của người Việt, người Khmer, qua đó thấy được sự giao lưu
tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc ở Nam bộ.
Vũ Văn Ngọc, “Nam bộ nhìn từ văn hóa, văn học, ngôn ngữ” (Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, 1998) tập hợp những bài viết đề cập chi tiết các lĩnh vực
văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của tộc người Hoa, người Khmer cũng
như sự có mặt của họ trên vùng đất Nam bộ.
Li tana, “Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỉ XVIIXVIII” (Nhà xuất bản Trẻ, 1999), đây là công trình nghiên cứu có giá trị, khái
quát quá trình nam tiến của cư dân Việt từ thế kỉ X đến XVIII; cuộc sống hội
nhập, sáng tạo của các tộc người cùng sinh sống ở Đàng Trong thể hiện qua
việc giao lưu văn hóa giữa các tộc người trong cách ăn, mặc, phong tục, tôn
giáo,…
Trần Văn Bính, “Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ thực trạng và những
vấn đề đặt ra”, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004), trình bày một
năm 1802 đến năm 1975.
Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa,
cũng như các khía cạnh giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc ở Tây
Nam Bộ mà trong đó chủ thể là người Việt sẽ là nội dung chương hai tập
trung làm rõ.
Chương 3. Văn hóa các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở Tây Nam Bộ từ
năm 1975 đến nay.
Trên cơ sở những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Khmer,
Chăm, Hoa trong giai đoạn 1802 đến 1975 chương ba nêu lên những biến đổi
văn hóa của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở Tây Nam Bộ từ sau năm 1975
đến nay.
11
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm về văn hoá và lịch sử
1.1.1. Về văn hóa.
Ở phương Tây, từ “văn hóa” bắt nguồn từ tiếng La tinh “Cultura” bao
gồm ý nghĩa trồng trọt, nuôi dưỡng, cư trú, luyện tập…Từ đó mà có từ
“Culture” (tiếng Anh, Pháp), “Kultur” (tiếng Đức), “Kultura” (tiếng
Nga)…Thuật ngữ “Văn hóa” được dùng khá sớm, nhưng đến thế kỉ XIX khái
niệm “văn hóa” mới xuất hiện. Tùy từng đối tượng của ngành khoa học, từ
văn hóa được hiểu và có nhiều định nghĩa khác nhau. Edward B. Tylor được
cho là người tiên phong đã đưa ra định nghĩa về văn hóa trong sách “Văn hóa
nguyên thủy” xuất bản tại Luân Đôn năm 1871. Theo bản dịch tiếng Việt
(năm 2000), định nghĩa về văn hóa của tác giả này được dịch là “Văn hóa hay
văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, và một số năng lực, thói quen
khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [34, 11].
là sinh hoạt” [10, 13].
Trên thế giới khái niệm về văn hóa rất rộng và có hàng trăm định nghĩa
khác nhau về lĩnh vực này. Tuy nhiên, một khái niệm được cho là chung nhất
về văn hóa là định nghĩa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên Hiệp Quốc-UNESCO đưa ra vào năm 1982 và điều chỉnh vào đầu năm
2000. Theo đó văn hóa là “tổng hợp các đặc điểm tinh thần, thể chất, tri thức,
tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm xã hội. Những đặc trưng
này giúp ta phân biệt được xã hội này với xã hội khác” [38, 16].
Gần đây nhất, nhân dịp kỷ niệm thập kỷ thế giới phát triển văn hóa
(1988-1997) UNESCO đã công bố một định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là
13
tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh
thần của xã hội. Nó không đơn thuần bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà
bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống
tín ngưỡng” [50, 15].
Trong các định nghĩa khác nhau về văn hóa, các nhà khoa học gặp nhau
ở những điểm chung như xem văn hóa là sản phẩm của con người, do con
người sáng tạo trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
Văn hóa là những hệ thống giá trị về vật chất, về tinh thần được hình thành,
đúc kết trong quá trình sinh sống của con người. Văn hóa tạo nên nét đặc
trưng, bản sắc riêng của từng dân tộc, từng cộng đồng, từng quốc gia. Trên
cơ sở đó chúng ta có thể hiểu rằng, trong quá trình hình thành và phát triển,
các cộng đồng người Khmer, Chăm, Hoa đã tồn tại, lao động ứng xử với
môi trường tự nhiên và xã hội, đã sáng tạo những giá trị vật chất và tinh
thần, đã trao truyền và tạo nên những đặc trưng riêng trong văn hóa vùng
Tây Nam Bộ.
Văn hóa tộc người
định hình văn hóa.
Các công trình nghiên cứu về văn hóa tộc người đã khẳng định một định
hướng nghiên cứu khoa học, nổi bật nhất là sự khẳng định quá trình tộc người ở
Việt Nam cùng với tính đa dạng và phong phú của văn hóa tộc người đã trở
thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa Việt Nam, nền văn hóa thống nhất
trong đa dạng.
Về giao lưu văn hóa
Giao lưu văn hóa là hiện tượng phổ biến của xã hội loài người. Nhờ
giao lưu văn hóa đúng hướng mà các nước chậm phát triển có cơ hội trở thành
nước phát triển. Trong mọi hoạt động văn hóa, Đảng và Nhà nước ta luôn xác
15
định: kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại.
“Giao lưu văn hóa là sự đối thoại giữa các nền văn hóa. Nó nhiều khi
đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định những cuộc đàm phán về biên
giới, lãnh thổ, xung đột sắc tộc giữa các quốc gia, dân tộc” [38, 34].
Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến giá trị chung, giá trị nhân loại,
đồng thời thừa nhận cái khác biệt của các dân tộc khác. Vấn đề còn lại là bản
sắc, bản lĩnh, đạo lý dân tộc. Điều đó chúng ta có thể chiêm nghiệm được qua
câu của Thomas L.Friedman viết trong cuốn sách Chiếc Lexus và cây ô liu:
“Một đất nước không có rặng cây ô liu khỏe khoắn (biểu trưng gốc rễ dân tộc)
sẽ không bao giờ có được cảm giác nguồn gốc được duy trì hay an tâm để hội
nhập với thế giới. Nhưng một đất nước chỉ có rặng cây ô liu không thôi, chỉ lo
cội rễ mà không có xe Lexus (biểu trưng tính hiện đại) thì sẽ không bao giờ
tiến xa được. Giữ cân bằng hai yếu tố trên là cuộc vật lộn triền miên” [38, 34].
Ở phương Tây, các quốc gia khác nhau dùng thuật ngữ khác nhau để
chỉ sự giao lưu văn hóa. Người Anh dùng từ Culturtal exchanges. Người Tây
người. Nó là thời sự quá khứ của thế giới nhân văn và của thế giới thiên nhiên
trong những gì có liên quan đến con người [52, 22].
Theo nghĩa này thì “lịch sử” là những gì đã qua nên cố nhiên nó đã có
một hình thức nhất định, nó diễn ra và kết thúc trong một thời gian và một
hoàn cảnh nhất định. Vì lẽ đó, “lịch sử” có tính cách tuyệt đối và khách quan.
Hai là, khi nhấn mạnh ý nghĩa của từ lịch sử là những gì đã xảy ra và
được lưu lại cho đến ngày nay nhờ người xưa đã bỏ công ghi chép lại, “lịch
sử” bấy giờ đồng nghĩa với tiếng “sử ký” (ký là ghi chép) [52, 25].
Lịch sử không thể có được nếu không có kết quả của các công trình sử
ký. Nhưng kết quả của các công trình diễn đạt lại này lệ thuộc rất nhiều vào
17
những điều kiện riêng của người cầm viết như: sự sáng suốt của trí phán đoán,
trình độ kiến thức, ngôn ngữ diễn đạt,… Do vậy, bất cứ tài liệu sử ký nào do
người đời để lại đều trải qua một tiến trình hình thành đầy dấu vết chủ quan.
Ba là, khi nhấn mạnh vào việc tìm tòi thời sự quá khứ, bởi vì muốn biết
sự thật đã qua, người ta phải khó nhọc từ bỏ thế giới hiện tại để lùi về khoảng
thời gian không còn nữa với những điều kiện riêng của nó, nhiều khi rất khác
với các điều kiện hiện tại. Bấy giờ “lịch sử” có nghĩa là “sử học” [52, 21].
Chúng ta đã thấy “lịch sử” là thời sự quá khứ, nó tuyệt đối, nó khách
quan, nó duy nhất. Nhưng đồng thời “lịch sử” lại là “sử ký”, nghĩa là những
công trình kể lai quá khứ bởi đó nó tương đối, nó chủ quan. Để giải quyết
mâu thuẫn này, “lịch sử” còn có nghĩa là “sử học”, nghĩa là một công trình
nghiên cứu thời sự quá khứ, và ghi chép lại thời sự quá khứ theo một phương
pháp khoa học thường gọi là phương pháp sử học để gột rửa đi những dấu vết
tương đối, chủ quan tìm cho ra chân lý của thời sự quá khứ.
Như vậy, nói một cách ngắn gọn và đầy đủ: “Lịch sử” là những việc đã
xảy ra liên quan đến con người sống trong xã hội và được ghi chép lại đúng
Mỗi bước tiến lên của văn hóa đều đánh dấu một bước tăng tiến khả năng
con người tác động đến ngoại giới, cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội, cải
tạo bản thân; tăng tiến khả năng làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm
chủ bản thân của con người” [140, 50].
Đào Duy Anh cũng đã nói về quan hệ giữ lịch sử và văn hóa như sau:
“Các điều kiện địa lý có ảnh hưởng lớn đến cách sinh hoạt của người ta, song
người là giống hoạt động cho nên trở lai cũng có thể dùng sức mạnh mà xử trí
và biến chuyển những điều kiện ấy cho thích nghi với những điều cần thiết
của mình. Cách sinh hoạt vì thế mà cũng biến chuyển và khiến văn hóa cũng
biến chuyển theo. Nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương
tiện của một dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, tức là nghiên cứu văn hóa
sử của dân tộc ấy vậy” [10, 12].
19
Mỗi thời kỳ lịch sử đều mang đậm dấu tích văn hoá. Không am hiểu
lịch sử sẽ rất khó có thể am hiểu truyền thống văn hoá một dân tộc.
Một trong những con đường của Sử học trong nghiên cứu lịch sử là
phương pháp nghiên cứu biểu tượng, trong đó biểu tượng văn hoá đóng vai
trò quan trọng. Biểu tượng văn hoá không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
quá khứ mà còn giúp chúng ta nhận thức về quy luật phát triển của lịch sử
nhân loại. Chẳng hạn, qua trống đồng và các biểu tượng văn hoá trên trống
đồng, nhà nghiên cứu lịch sử có thêm cơ sở để khẳng định về nền "Văn minh
sông Hồng", về cơ sở lịch sử - xã hội của thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc; mặt
khác, nhà nghiên cứu lịch sử cũng có thể xuất phát từ những cơ sở lịch sử - xã
hội thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc để nhận diện những đặc điểm văn hoá - lịch sử
và giải thích những biểu tượng văn hoá biểu hiện trên trống đồng [11, 4].
Văn hoá có thể được nghiên cứu từ nhiều hướng. Với tính chất liên
ngành, Văn hoá học có thể nghiên cứu văn hoá từ cách tiếp cận của Sử học,