vấn đề mâu thuẫn dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng tây nam bộ - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG PHÚ THÂU
VẤN ĐỀ MÂU THUẪN DÂN TỘC
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Vũ Văn Gầu
2. TS. Phạm Ngọc Đỉnh
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng; những
phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đặng Phú Thâu
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
Lời cam đoan
Mục lục
1
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
3
Danh mục các bảng
4
MỞ ĐẦU

2.2. Vấn đề dân tộc và mâu thuẫn dân tộc ở Việt Nam hiện nay 61
2.3. Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến mâu thuẫn dân
tộc ở Việt Nam hiện nay
74
1
Chương 3: THỰC TRẠNG MÂU THUẪN DÂN TỘC TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
88
3.1. Một số nét đặc thù của vùng Tây Nam Bộ 88
3.2. Một số mâu thuẫn chủ yếu ở vùng Tây Nam Bộ thời kỳ CNH, HĐH 99
Chương 4: GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÂU
THUẪN DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
120
4.1. Giải quyết các vấn đề về kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc
Khmer ở vùng Tây Tây Nam Bộ
120
4.2. Khắc phục một số bất cập về cơ chế, chính sách đối với đồng bào dân
tộc Khmer ở vùng Tây Tây Nam Bộ
135
4.3. Khắc phục một số bất cập về phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị, năng lực của đội ngũ cán bộ ở vùng Tây Nam Bộ
140
KẾT LUẬN
152
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
154
TÀI LIỆU THAM KHẢO
155

90
Bảng 3.5
Tỷ lệ đường ô tô và đường thủy tới xã và thôn/ấp,
tiếp cận các phương tiện giao thông ở đồng bằng sông
Cửu Long qua các năm (%)
90
Bảng 3.6
Dân số chung và dân số dân tộc Khmer tại 9 tỉnh,
thành vùng Tây Nam Bộ năm 2011
93
Bảng 3.7
Số xã đặc biệt khó khăn ở 9 tỉnh vùng đồng bằng
sông Cửu Long năm 2007
93
Bảng 3.8
Số liệu hộ nghèo dân tộc thiểu số năm 2011
94
Bảng 3.9
Bảng tổng hợp về Chùa và Phật tử ở 9 tỉnh, thành
vùng đồng bằng sông Cửu Long
94
Bảng 3.10
Số hộ nghèo dân tộc thiểu số và hộ nghèo dân tộc
Chăm tỉnh An Giang năm 2011
95
4
MỞ ĐẦU
Trong vài thập kỷ gần đây, vấn đề mâu thuẫn dân tộc ở nhiều quốc gia,
khu vực và thế giới ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và được biểu hiện
trên nhiều lĩnh vực như: lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo, lợi ích, kinh tế. Chẳng

Chăm thường không ổn định. Trong các tỉnh ở vùng Tây Nam Bộ, tình trạng
số hộ nghèo là người dân tộc Khmer, Chăm do không có đất và thiếu đất,
không có vốn và thiếu vốn sản xuất là khá phổ biến. Mặt khác, trình độ dân trí
và tay nghề thấp, chủ yếu là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo, chưa đáp
ứng được yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Điều này
khiến cho tỷ lệ hộ nghèo của đồng bào hai dân tộc này còn cao. Theo số liệu
Báo cáo của Vụ Tôn giáo - Dân tộc thuộc Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, tính đến
02/2011: số hộ nghèo là người Khmer là 72.084 chiếm 18,39% và số hộ
nghèo người Chăm là 251 chiếm 0,77% tổng số hộ nghèo toàn vùng [2, 12].
Ở khu vực Tây Nam Bộ, nghèo đói vẫn là vấn đề nghiêm trọng và thách thức
lớn. Mặc dù, từ năm 1998 đến nay, số người nghèo đã giảm đáng kể, nhưng
còn khoảng 4 triệu người, đây là vùng có số lượng người nghèo cao nhất của
cả nước. Bên cạnh đó, Tây Nam Bộ cũng là vùng có tỉ lệ cao nhất về số lượng
người dễ lâm vào tình trạng tái nghèo khi có những biến động bất lợi về
kinh tế hay thiên tai xảy ra.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ
trương, chính sách, giải pháp xóa đói, giảm nghèo đối với vùng Tây Nam Bộ
nói chung, và đồng bào dân tộc Khmer, Chăm nói riêng. Công tác xóa đói,
giảm nghèo đã thu được những kết quả quan trọng, tạo được sự chuyển biến
tích cực về nhiều mặt, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết
những vấn đề xã hội bức xúc. Các chương trình mục tiêu, chính sách hỗ trợ
người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo đạt được những thành tựu đáng kể. Về kết
cấu hạ tầng giao thông nông thôn, y tế, giáo dục, dạy nghề, giải quyết việc
làm, chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vốn được các cấp
6
ủy Đảng và chính quyền, các ban ngành, đoàn thể quan tâm, tích cực triển
khai tổ chức thực hiện. Các cơ chế, chính sách, dự án được phối hợp lồng
ghép tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo
đạt kết quả đáng kể; từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của
đồng bào Chăm, Khmer, giảm tỷ lệ hộ nghèo, củng cố niềm tin của đồng bào

và giải quyết mâu thuẫn dân tộc trong quá trình CNH, HĐH ở vùng đất giàu
tiềm năng và lắm phức tạp này đã trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong
chiến lược phát triển đất nước trước xu thế hội nhập hiện nay.
Ổn định là điều kiện của sự phát triển và phát triển để đảm bảo cho sự
ổn định bền vững. Để ổn định và phát triển cần phải có sự đồng thuận trong
đời sống xã hội; phải giải quyết những mâu thuẫn xã hội, đặc biệt là những
mâu thuẫn mang tính dân tộc trên tinh thần phù hợp với yêu cầu của quy luật
khách quan; đảm bảo đầy đủ bản chất nhân văn và tiến bộ của một nền chính trị
trọng pháp, trọng dân; được chỉ đạo và thực thi bằng những giải pháp chính trị
thực sự khoa học
Việc đi sâu nghiên cứu vấn đề mâu thuẫn dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ
chủ yếu dưới góc độ triết học vẫn còn mang tính cấp thiết và lâu dài nhằm
góp phần vừa thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tạo
tiền đề chính trị, xã hội bền vững cho hội nhập và phát triển, trên cơ sở giải
quyết một cách đúng đắn và có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc nảy
sinh từ quá trình CNH, HĐH, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với
tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển bền vững và giữ vững sự ổn định chính
trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là góp phần tìm ra lời giải cho bài toán hóc
búa hiện nay: giải quyết mâu thuẫn dân tộc hoặc những yếu tố tạo nên mâu
thuẫn dân tộc dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ hiện nay. Do vậy, chúng tôi chọn:
Vấn đề mâu thuẫn dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
vùng Tây Nam Bộ làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ. Từ đó, chúng tôi có
hướng nghiên cứu tiếp theo là nhận diện tính chất và nguyên nhân; đề xuất
8
những quan điểm, phương thức giải quyết và rút ra những vấn đề lý luận từ
thực tiễn mâu thuẫn dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ trong giai đoạn phát triển
đất nước hiện nay.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Thông qua phân tích, nghiên cứu thực tiễn mâu thuẫn dân tộc ở vùng Tây

giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH từ Đại hội VIII của Đảng đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương
pháp luận duy vật biện chúng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh cùng với các lý thuyết về mâu thuẫn dân tộc; các kết quả
của các công trình nghiên cứu khoa học đã được các nhà khoa học công bố trong
thời gian gần đây về dân tộc, mâu thuẫn dân tộc… làm cơ sở lý luận.
4.2. Các phương pháp thử nghiệm cho từng phần của luận án
Trên cơ sở thực tiễn văn hóa - lịch sử đặc thù của vùng Tây Nam Bộ, luận
án sử dụng phương pháp thống nhất logíc - lịch sử bên cạnh một số phương pháp
nghiên cứu phổ biến khác như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương
pháp khảo sát, điều tra, phương pháp phân tích - tổng hợp… để khái quát những
vấn đề mâu thuẫn dân tộc trên cơ sở thực tiễn chính trị - xã hội phong phú, đa
dạng, sinh động và phức tạp của vùng Tây Nam Bộ.
Tóm lại, với các nhóm phương pháp cơ bản mang tính chủ đạo trên, luận
án có thể tiếp cận thực tiễn các hình thái mâu thuẫn dân tộc đặc thù của vùng
Tây Nam Bộ trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH và xây dựng nông thôn mới
hiện nay để làm cơ sở cho những kết luận có giá trị khoa học (dù ở mực độ
khiêm nhường); tạo cho luận án đạt được mục tiêu cần thiết.
10
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án góp phần làm rõ về cả lý luận và thực tiễn mâu thuẫn dân tộc
trong quá trình thực hiện CNH, HĐH vùng Tây Nam Bộ nhằm đề xuất một số
giải pháp chủ yếu giải quyết mâu thuẫn dân tộc ở vùng này trong xu thế hội
nhập hiện nay.
Trên cơ sở thực tiễn kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ trong quá trình
thực hiện CNH, HĐH và lý luận về mâu thuẫn dân tộc, luận án chỉ ra được tính
chất, đặc điểm, nguyên nhân của mâu thuẫn dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ:
- Mâu thuẫn dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ trong quá trình thực hiện

VẤN ĐỀ MÂU THUẪN DÂN TỘC Ở VÙNG TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
Mâu thuẫn dân tộc là một tất yếu khách quan của quá trình vận động và
phát triển của các dân tộc. Do vậy, điều tiết và giải quyết các tình huống mâu
thuẫn mang tính dân tộc hoặc chứa đựng những yếu tố dân tộc là vấn đề đã và
đang được giới khoa học xã hội rất quan tâm.
Những thành tựu nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn dân tộc trong thời
gian gần đây đã và đang được ứng dụng khá rộng rãi. Có lẽ bởi nó đề cập đến
những lợi ích thực tế, những nhu cầu trực tiếp của cộng đồng, dân tộc hơn là
những lý luận trừu tượng chung chung. Nói cách khác, Triết học ngày nay
chuyển trọng tâm chú ý vào nghiên cứu điều tiết, giải quyết các tình huống
mâu thuẫn cụ thể bằng những giải pháp thiết thực và hiệu quả.
Thực tiễn những năm gần đây, vấn đề mâu thuẫn và xung đột xã hội, mâu
thuẫn dân tộc và giải quyết những xung đột, mâu thuẫn dân tộc đã được nhiều
nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu khoa học có giá trị, được công bố rộng rãi dưới dạng sách tham khảo, luận
án, bài báo khoa học Để đảm bảo tính kế thừa và khẳng định những đóng góp
của luận án, tác giả tạm chia các công trình nghiên cứu khoa học theo 3 nhóm
vấn đề: (1) các công trình nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn, xung đột xã hội và
về CNH, HĐH; (2) các công trình nghiên cứu về thực trạng kinh tế - xã hội, mâu
thuẫn và xung đột xã hội ở Tây Nam bộ và ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; (3) và
các công trình nghiên cứu về phương thức giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam
và ở vùng Tây Nam Bộ trong thời kỳ CNH, HĐH.
Trên cơ sở sự phân định đó, luận án tiến hành chọn lọc và thực hiện tổng
quan những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài của luận
án như sau:
13
1.1. Một số công trình nghiên cứu về mâu thuẫn, xung đột xã hội
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về mâu thuẫn, xung đột xã hội
của các nhà khoa học nước ngoài
Vấn đề mâu thuẫn, xung đột đã được con người biết đến từ rất sớm.

+ Tác phẩm Lý luận chung về xung đột của Kenneth Boulding (Mỹ) đã
tổng hợp thực tiễn để đưa ra lý luận chung về xung đột. Ông cho rằng xung đột
và sự leo thang của bạo lực bắt nguồn từ bản chất xã hội của con người.
+ Georg Simmel là một trong những nhà xã hội học thuộc thế hệ đầu tiên
của nước Đức. Ông cho rằng, về nguyên tắc, ý nghĩa xã hội học của xung đột là
vấn đề hiển nhiên, không cần bàn cãi [114, 13-17]. Theo ông, xung đột là những
quan hệ, hành vi biểu hiện các mâu thuẫn, vừa thông qua đó để giải quyết các
mâu thuẫn khác nhau. Nhờ đó mà quá trình tương tác đạt được một số kiểu
thống nhất, thậm chí có thể đạt được thống nhất thông qua sự biến đổi hoặc phá
hủy một trong các bên xung đột.
+ Các nhà khoa học mácxit khi nghiên cứu xung đột, đặc biệt nhấn mạnh
bản chất kinh tế khách quan và bản chất giai cấp của xung đột, nguyên nhân của
xung đột, suy cho cùng là vị trí của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất
xã hội, là lợi ích kinh tế. Chính chúng quy định những hoạt động chính trị - xã
hội của con người của các nhóm xã hội. Đây là nguyên nhân gốc rễ của xung
đột, của những đối kháng xã hội.
Có thể tìm thấy cơ sở lý luận rất căn bản và rõ ràng về xung đột xã hội
trong các tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin… Quan điểm
mácxit về xung đột nằm trong hệ thống các quan điểm về phát triển xã hội nói
chung và thực sự đặt cơ sở lý luận cho các luận điểm về chiến lược, sách lược
về đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, về giải quyết các mâu thuẫn
trong đời sống xã hội.
- Ngoài ra, từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, ở phương Tây cũng có những
công trình nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn và xung đột xã hội:
+ Trước nhất xin kể đến công trình Conflict: Resolution and provention
15
(1990) của nhóm tác giả Burton, John, and Dukes, Frank. Trong tác phẩm này
các tác giả đã phân tích khá sâu sắc và đưa ra những phương sách dung giải,
ngăn ngừa sự mâu thuẫn và xung đột xã hội nói chung, trên cơ sở những
nguyên tắc giải quyết, giải tỏa những mâu thuẫn một cách căn cơ, bền vững.

hướng hướng tới sự thay đổi tiến bộ, có thể đem lại những kết quả có lợi cho xã
hội (Ralph Gustav Dahrendrof). (4) về sự cần thiết phải quản lý, giải tỏa xung
đột xã hội: xung đột bị nén lại không giải tỏa là khối u ác tính nguy hiểm trong
cơ thể xã hội (Ralph Gustav Dahrendrof)…
Tuy nhiên, các công trình này chưa đề cập sâu đến vấn đề mâu thuẫn xã
hội và mâu thuẫn dân tộc nẩy sinh hoặc biến đổi ở một số quốc gia cụ thể
hoặc có những điều kiện đặc thù như Việt Nam.
1.1.2. Một số công trình nghiên cứu mâu thuẫn, xung đột xã hội của
các nhà khoa học trong nước
Nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới,
trước tiên có thể kể đến công trình nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Tấn
Hùng (1995), Mấy suy nghĩ về hai cấp độ của mâu thuẫn: mâu thuẫn bản
chất và mâu thuẫn hiện tượng, Tạp chí Triết học số 3 (9-1995). Ở công trình
này, tác giả đã đề cập đến cơ sở phương pháp luận của việc phân biệt hai cấp
độ của mâu thuẫn biện chứng: mâu thuẫn bản chất và mâu thuẫn hiện tượng;
nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc phân tích mâu thuẫn ở hai cấp độ - bản chất
và hiện tượng, đặc biệt lưu ý đến sự khác nhau giữa khái niệm mâu thuẫn với
tính chất là phạm trù triết học với khái niệm thông thường thường về mâu
thuẫn. Theo tác giả, việc phân biệt hai cấp độ của mâu thuẫn biện chứng là cơ
sở vô cùng quan trọng giúp ta nhận thức và giải quyết những mâu thuẫn của
đời sống hiện thực trước yêu cầu đổi mới của đất nước.
+ Nghiên cứu lý luận về xung đột sắc tộc và tôn giáo có quyển sách:
Một số vấn đề về xung đột sắc tộc và tôn giáo ở Đông Nam Á, do Phạm Thị
Vinh (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 2007. Các tác giả của công trình này
đã chỉ ra những bài học lịch sử về cách giải quyết mâu thuẫn, xung đột sắc tộc
17
và tôn giáo bằng con đường hòa bình với giải pháp: muốn xây dựng một xã
hội ổn định và phát triển trước hết các nước phải thực hiện các biện pháp để
phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, thừa nhận
sự đa dạng văn hóa, tôn giáo và tôn trọng bản sắc của mỗi tộc người trong

đề nội bộ quốc gia (thường gọi là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân) như quản
lý yếu kém, tranh giành quyền lực, đời sống khó khăn, nghèo đói, bất công xã
hội, quan liêu, tham nhũng… thì cần quản lý, giải tỏa, điều tiết để xung đột
không trầm trọng thêm” [79, 510]. Tuy nhiên, ở công trình này, tác giả chưa
đề cấp nhiều đến vấn đề xung đột, mâu thuẫn xã hội trong điều kiện kinh tế -
xã hội của Việt Nam nhất là thời kỳ đổi mới.
+ Đề cập đến vai trò của các chủ thể trong mâu thuẫn giữa người với
người đối với sự phát triển xã hội, có công trình nghiên cứu của PGS, TS.
Nguyễn Ngọc Hà: Mâu thuẫn giữa người với người: Một số nội dung cơ bản,
Tạp chí Triết học, số , 2010. Theo tác giả, mặc dù mâu thuẫn giữa người với
người là hiện tượng bình thường trong xã hội, song đó là một hiện tượng cần
được quan tâm nghiên cứu, bởi nó không chỉ giúp chúng ta xác định đúng
mâu thuẫn, mà còn giúp chúng ta nhận thức đúng nhiều hiện tượng xã hội
khác; lựa chọn đúng đắn phương thức giải quyết mâu thuẫn vì lợi ích con
người và xã hội.
1.1.3. Một số công trình nghiên cứu sự tác động của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đến mâu thuẫn, xung đột xã hội ở Việt Nam hiện nay
+ Đề cập đến thực trạng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ CNH,
HĐH ở Việt Nam hiện nay, PGS, TS Vũ Văn Phúc có bài viết: Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Tạp chí Lý luận chính
trị, số 10-2011. Từ những những tác động tích cực của quá trình CNH, HĐH
hơn hai mươi lăm năm đổi mới ở nước ta, sự nghiệp xây dựng, phát triển
nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào.
Tuy nhiên, bên cạnh những phát triển tiến bộ đó, nông nghiệp, nông thôn
19
nước ta vẫn là khu vực chậm phát triển, đang còn không ít khó khăn như sức
ép về việc làm ở nông thôn vẫn rất lớn, nông nghiệp, nông thôn có nguy cơ
tụt hậu xa hơn so với thành thị… Vì vậy, Theo PGS, TS Vũ Văn Phúc, CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn cần có những tác động tích cực hơn nữa để đưa

đúng vào những khu vực “bờ xôi ruộng mật” của những vùng nông nghiệp trù
phú. Và cũng theo ông, “bất kỳ một lý do nào mà có sự khủng hoảng thiếu
lương thực ở đâu đó sẽ ảnh hưởng ngay đến uy tín, thậm chí là sinh mạng
chính trị của một chính phủ hay một đảng cầm quyền” [54, 16].
Nhìn chung những nghiên cứu của các tác giả trên đã cho thấy bức
tranh khá sinh động về ảnh hưởng, tác động của quá trình CNH, HĐH đến
thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trong đó, bên cạnh những
thành quả bước đầu là những tác động không mong muốn, nếu không tích cực
điều chỉnh, khắc phục thì những hệ quả của quá trình này sẽ rất có khả năng
tạo ra nguy cơ: nguồn gốc, nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội.
1.2. Một số công trình nghiên cứu thực trạng mâu thuẫn dân tộc ở
Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Một số công trình nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội Việt
Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Xóa đói, giảm nghèo là vấn đề mang tính cấp thiết đã và đang được
Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm; là một trong những giải pháp cơ bản để
giải quyết mâu thuẫn xã hội ở Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Trong những năm qua, thực trạng nghèo, đói ở nông thôn nước ta được giới
khoa học rất quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và
thực tiễn cao về thực trạng này. Chẳng hạn:
+ Quyển sách: Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay
của Nguyễn Thị Hằng (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
+ Công trình nghiên cứu của GS,TSKH Lê Du Phong (chủ biên): “Thu
nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu
21
công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công
cộng phục vụ lợi ích quốc gia”, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2007;
+ Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hồi: Tiếp tục thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội vùng đặc biệt khó khăn,
Tạp chí Cộng sản, số 61 (01/2012);

của PGS,TS Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên): Góp phần đẩy lùi nguy cơ, bảo đảm
ổn định và phát triển đất nước của, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005.
Các nghiên cứu trên đều cho thấy: (1) mâu thuẫn, xung đột xã hội
thường bộc phát khi môi trường chính trị nẩy sinh nạn quan liêu, tham nhũng
trầm trọng. Lúc đó, mâu thuẫn, xung đột xã hội rất dễ diễn biến thành điểm
nóng xã hội hoặc điểm nóng chính trị - xã hội, tạo nên những bất ổn chính trị
- xã hội; (2) nghiên cứu thận trọng tình hình, xác định rõ các loại nguyên nhân
của mâu thuẫn, xung đột xã hội là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các cấp
chính quyền trong việc xử lý, “rút ngòi nổ” điểm nóng xã hội hoặc điểm nóng
chính trị - xã hội; (3) giải tỏa mâu thuẫn, xung đột xã hội trên tinh thần trọng
pháp, trọng dân là giải pháp cơ bản để ổn định hoặc tái ổn định chính - xã hội;
(4) rút kinh nghiệm, dự báo tình hình và áp dụng những giải pháp để điểm
nóng xã hội không tái phát, trong đó, chính sách an dân được coi là giải pháp
cốt lõi, mang tính chiến lược, bền vững.
+ Đi sâu nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN, có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu của GS. TS Nguyễn Tấn Hùng:
quyển sách Mâu Thuẫn - Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn, Nxb Khoa
học - Xã hội, 2005. (chế bản điện tử, công bố trên mạng internet 9/2013, có
bổ sung những biện pháp giải quyết mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
và một số mâu thuẫn quan trọng ở nước ta hiện nay); bài viết: Giải quyết mâu
thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội ở nước ta, được đăng trên Tạp chí Triết học, số 2006. Theo GS, TS
Nguyễn Tấn Hùng, vấn đề phát triển đất nước hiện nay đòi hỏi không chỉ cần
23

Trích đoạn Một số công trình nghiên cứu thực trạng đời sống của đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Tây Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, Một số công trình nghiên cứu phương thức giải quyết mâu thuẫn dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện Khái niệm mâu thuẫn và mâu thuẫn biện chứng Dân tộc (Natio n quốc gia dân tộc) Dân tộc (Ethni c cộng đồng tộc người cụ thể)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status