Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một trong cách tạo vốn có hiệu quả
đối với các nước đang phát triển. FDI được coi như là một trong các “cú hích” quan
trọng đặc biệt khi các nước này gặp phải những khó khăn trong quá trình phát triển
về vốn, công nghệ, các kinh nghiệm và những kiến thức trong quản lý. Chính vì vậy,
trong các chính sách phát triển của mình, các nước đang phát triển đều tạo ra môi
trường thu hút thuận lợi. Việt Nam cũng là một trong những nước như thế. Trong
những năm vừa qua chúng ta đã lien tục ban hành những chính sách nhằm thu hút
FDI và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên trong thời gian qua, FDI mới
chỉ tập trung chủ yếu đối với một số ngành công nghiệp, dịch vụ, còn đối với nông
nghiệp, vốn FDI có tăng trong những năm gần đây nhưng còn chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng số vốn FDI vào nền kinh tế, chưa xứng với tiềm năng phát triển của
ngành trong nền kinh tế. Trong khi đó, GDP do nông nghiệp tạo ra vẫn giữ vị trí hàng
đầu, trên 50% giá trị xuất khẩu là nông sản, 80% dân số sống ở nông thôn, nguồn
sống chính dựa vào nông nghiệp. Vậy thực trạng của tình hình thu hút FDI vào ngành
nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Nguyên nhân chính của vấn
đề này là gì? Và chúng ta cần làm thế nào để thu hút một cách có hiệu quả vốn FDI
trong Nông nghiệp? Điều này đã và đang trở thành một vấn đề hết sức quan trọng và
đang được rất nhiều người quan tâm. Xuất phát từ thực trạng của FDI trong nông
nghiệp và tính cấp thiết của vấn đề này, trong bài viết này em xin trình bày những
hiểu biết của mình về em “Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
ngành Nông nghiệp Việt Nam”. Do sự hiểu biết còn hạn chế nên bài nghiên cứu
của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp
của quý thầy cô để bài nghiên cứu của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
SVTH : Ngô Thanh Phương Kinh tế Đầu tư 48
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học
đầu tư nước ngoài đi liền với dự án đầu tư, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tư. Do đó, nhà đầu tư phải
tìm hiểu các điều kiện môi trường và dự kiến lỗ lãi trước khi tiến hành đầu tư, chỉ khi
chắc chắn hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư sẽ cho kết quả tốt nhà đầu tư
nước ngoài mới thực hiện đầu tư. Vì vậy, FDI thường mang tính khả thi và hiệu quả
kinh tế cao. Tuy nhiên, tính khả thi và hiệu quả kinh tế nghiêng về bên nào hơn, nhà
đầu tư hay nước nhận đầu tư, phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư.
- Tùy vào hình thức chủ thể được thành lập theo giấy phép đầu tư, nhà đầu tư
phía nước ngoài có thể trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành các hoạt động của doanh
nghiệp FDI tùy theo tỷ lệ góp vốn trong doanh nghiệp liên doanh. Quy định về tỷ lệ
góp vốn ở mỗi nước là khác nhau. (Tại Việt Nam, khi liên doanh, số vốn góp của bên
nước ngoài phải lớn hơn hoặc bằng 30% vốn pháp định).
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được
công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, bí quyết kinh doanh, trình độ quản lý, học hỏi được
kinh nghiệm từ những nhà đầu tư nước ngoài,… là những mục tiêu mà các hình thức
đầu tư khác khó có thể giải quyết được. Đây chính là yếu tố thúc đẩy kinh tế quốc gia
tăng trưởng trong thời đại khoa học công nghệ không ngừng phát triển như hiện nay.
Đây cũng là vấn đề mà các nước tiếp nhận vốn đầu tư, đặc biệt là các nước đang và
kém phát triển, rất quan tâm.
- Nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát hoạt động đầu tư. Nó thể hiện
quyền sở hữu đối tượng đầu tư và quyền ra các quyết định quan trọng. Cho nên, kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của
nhà đầu tư. Sau khi trừ đi các khoản đóng góp theo quy định của nước chủ nhà, nhà
đầu tư nước ngoài nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.
SVTH : Ngô Thanh Phương Kinh tế Đầu tư 48
3
nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng, nâng cấp, khai thác công trình kết cấu hạ
SVTH : Ngô Thanh Phương Kinh tế Đầu tư 48
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học
tầng trong một thời gian nhất định (thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý) sau đó chuyển
giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Đặc trưng của hình thức này :
- Cơ sở pháp lý là hợp đồng.
- Vốn đầu tư của nước ngoài.
- Họat động theo dạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc theo liên doanh.
- Đối tượng hợp đồng thường là các công trình cơ sở hạ tầng.
1.1.2.5. Đầu tư mới, mua lại và sát nhập
Đầu tư mới: là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây
dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là
kênh chủ yếu để các nhà đầu tư của các nước phát triển đầu tư vào các nước đang
phát triển.
Mua lại và sát nhập: là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát
nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển
NICs (các nước công nghiệp mới).
1.1.2.5. Theo quy định của luật pháp Việt Nam
Tại Việt Nam, FDI chủ yếu vẫn được thực hiện dưới các hình thức đầu tư mới.
Luật Đầu tư được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã công nhận hình thức mua lại và sáp nhập là một hình
thức FDI mới, là một điểm bổ sung cho Luật Đầu tư năm 1996. Cụ thể, các hình thức
đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp được đầu tư bằng 100%
vốn của nhà đầu tư nước ngoài, thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do họ thành
lập tại nước nhận đầu tư và họ tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
BCC không thành lập nên các pháp nhân. Trong quá trình đầu tư, các bên hợp doanh
có thể thoả thuận lập ban điều hành để thực hiện hợp đồng.
Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) là văn bản ký kết giữa
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước nhận đầu tư với các tổ chức, cá nhân
nước ngoài để xây dựng, khai thác kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng trong
một thời gian nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi
hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
SVTH : Ngô Thanh Phương Kinh tế Đầu tư 48
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO) là văn bản ký kết giữa
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với các nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng, khi xây dựng xong sẽ chuyển giao công trình đó cho Nhà nước
Việt Nam. Sau đó nhà đầu tư sẽ được Chính phủ Việt Nam dành cho quyền kinh
doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và lợi nhuận.
Đối với hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), sau khi xây dựng và
chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được thanh toán theo
thoả thuận trong hợp đồng hoặc được tạo điều kiện thực hiện dự án đầu tư khác để
thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
Thứ tư là các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Cho đến nay, các hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp
liên doanh và đầu tư theo hợp đồng như hợp đồng BCC, BOT vẫn là những hình thức
phổ biển, được các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ưa chuộng. Ngoài ra, theo
Luật đầu tư của Việt Nam năm 2005 cũng quy định một số hình thức đầu tư trực tiếp
khác.
Đầu tư phát triển kinh doanh: Những nhà đầu tư nước ngoài đang thực hiện đầu
tư tại Việt Nam được phép đầu tư để phát triển hoạt động kinh doanh đó như mở
rộng quy mô, nâng cao năng suất, năng lực kinh doanh hoặc đầu tư để đổi mới công
nghệ, nâng cao chất lượng và giảm ô nhiễm môi trường.
của nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt
xích của “vòng luẩn quẩn”này. Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các
nước đang phát triển đó là vốn đầu tư và kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công
ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động…Từ
đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để
tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn trong nước thì hậy quả khó
tránh khỏi tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó, vốn nước ngoài sẽ là
một “ cú hích” để góp phần phá vỡ vòng luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một nguồn
quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước nhận đầu tư.
Hơn nữa, FDI còn là một nguồn quan trọng không chỉ để bổ sung nguồn vốn nói
chung mà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ nói riêng bởi vì FDI góp phần nhằm tăng cạnh
tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận
từ các công ty nước ngoài, thu ngọai tệ từ các họat động dịch vụ phục vụ cho FDI.
1.1.3.2 ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
SVTH : Ngô Thanh Phương Kinh tế Đầu tư 48
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học
FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước
chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn
có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng
dụng của nước chủ nhà. Chuyển giao công nghệ thông qua FDI thường được thực
hiện chủ yếu bởi các TNCs, dưới hình thức: chuyển giao trong nội bộ giữa các chi
nhánh của một TNCs và chuyển giao giữa các chi nhánh TNCs. Phần lớn công nghệ
được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang nước đang phát triển ở hình
thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nước ngoài,
dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công
nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công
nghệ marketing.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các TNCs còn góp