Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, rác thải ngày càng phát
sinh một cách tự phát và càng tăng lên khi sản phẩm tiêu dùng tăng. Đứng trước
thực trạng đó cả nước nói chung, tỉnh An Giang nói riêng đã áp dụng nhiều
phương pháp xử lý như chôn lấp hoặc thu gom tái sử dụng, tái chế bằng những
công nghệ tiên tiến và phù hợp,… (UBND tỉnh An Giang, 2011), đặc biệt là công
nghệ ủ phân compost từ rác thải sinh hoạt đã được xây dựng và phát triển ở một
số huyện như các nhà máy xử lý rác thải theo công nghệ ủ yếm khí ở xã An Hảo
(huyện Tịnh Biên), xã Vĩnh Phú (huyện Thoại Sơn), xã Hòa Bình (huyện Chợ Mới),
xã Vĩnh Lộc (huyện An Phú) và nhà máy xử lý rác theo công nghệ ủ hiếu khí ở xã
Bình Thạnh (huyện Châu Thành).
Phân compost được sử dụng phổ biến cho rau màu đem lại hiệu quả cao cả
về chất lượng lẫn kinh tế, bên cạnh còn cải tạo môi trường đất thông qua tỷ lệ
cây chết thấp (Huỳnh Thị Trùng Dương, 2012). Ngoài ra, việc bón phân vô cơ làm
cây sinh trưởng kém, tỷ lệ cây chết cao, trọng lượng và năng suất thấp hơn so với
bón phân compost (Nguyễn Hà Duyên, 2012). Bên cạnh những lợi ích mà phân
compost mang lại thì việc sử dụng phân compost có nguồn gốc từ rác thải sinh
hoạt thường bị nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là chì. Chì cũng như các kim loại
nặng khác tích lũy trong rau được dùng làm thức ăn cho người thì rất nguy hiểm
dẫn đến nhiều hậu quả không mong muốn. Đây là một vấn đề cần được quan tâm
sâu sắc.
Vài năm gần đây, có một vài hộ sống ở gần nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt
ở xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã sử dụng phân compost
trong canh tác rau màu, các sản phẩm rau màu này được đưa ra thị trường cung
cấp trực tiếp cho người dân. Nhưng vấn đề cần quan tâm là việc tích lũy kim loại
nặng như Pb, Ni, As,… trong rau ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng như
thế nào vẫn chưa được nghiên cứu. Trước thực trạng đó, cần có “Nghiên cứu
Là quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ bởi các vi sinh vật khi không có
mặt oxy. Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là CH4, CO2, NH3, một vài loại khí
khác với số lượng rất nhỏ, các axit hữu cơ, nhiệt, các chất hữu cơ ổn định và vi
sinh vật ổn định (Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thị Thùy Dương, 2003).
Ưu, nhược điểm
Ưu điểm: Chi phí xây dựng và chi phí vận hành không cao.
Nhược điểm: Tạo ra các khí có mùi khó chịu hơn ủ hiếu khí và thời gian ủ
kéo dài.
(Nguồn: Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thị Thùy Dương, 2003)
Thuyết minh công nghệ
•
Giai đoạn xử lý sơ bộ
Rác thải thu gom được đưa về sân thao tác. Xé các túi nilon chứa rác.
Phun và rải, trộn đều rác với chế phẩm sinh học P.MET và phụ gia trước
khi đưa vào hầm ủ.
•
Giai đoạn ủ
Rác sau khi đã trộn đều cùng các chế phẩm sinh học P.MET và phụ gia,
được đưa vào trong hầm ủ theo từng lớp dày 20 cm.
Mỗi lớp dày 20 cm được phun P.MET và rải phụ gia bột, làm các lớp rác
như vậy cho đến khi đầy hầm ủ.
Thời gian ủ rác 28 - 30. Trong quá trình ủ rác, thực hiện phun P.MET để
bổ sung vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ nhanh.
•
Sàn phân loại
Mùn thô
Nghiền mùn
Mùn chưa hoai
Mùn tinh làm nguyên liệu phân bón và sản phẩm khác
Hình 2.1: Quy trình công nghệ ủ kị khí
(Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi trường An giang, 2011 trích dẫn của Trần Nguyễn Xuân
Trang, 2011)
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Các nhà máy sử dụng công nghệ ủ yếm khí tùy nghi trên địa bàn tỉnh An
Giang
Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt thành phân compost ở xã An Hảo, huyện
Tịnh Biên
Lân tổng số
1,73
12,37
-
Lân dễ tiêu
0,98
1,05
-
Kali tổng số
9,03‰
10,20‰
≥ 1,5
(Nguồn: Nguyễn Thị Ấm, 2010 và Nguyễn Thị Thu Thảo, 2011)
Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt thành phân compost ở xã Hòa Bình,
huyện Chợ Mới
Khu xử lý rác thải sinh hoạt xã Hòa Bình (Chợ Mới) khánh thành vào tháng
và sản xuất 240 kg phân hữu cơ phục vụ nông dân địa phương (Mỹ Hạnh, 2012
trích dẫn của Nguyễn Hà Duyên, 2012).
Sơ lược về nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt thành phân compost ở xã Vĩnh
Lộc, huyện An Phú
Nhà máy bắt đầu hoạt động vào tháng 6 năm 2011, với công suất 5
m /ngày (Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, 2011 trích dẫn của Nguyễn Hà
duyên, 2012). Ước tính lượng rác phát sinh hàng ngày tại khu vực xã Vĩnh Lộc
khoảng 4,5 tấn/ngày (Trung tâm Dịch vụ công huyện An Phú, 2011 trích dẫn của
Nguyễn Văn Sắc, 2011).
3
b. Ủ phân compost bằng phương pháp ủ hiếu khí
Định nghĩa
Là quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật khi có mặt của oxy.
Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là CO 2, NH3, nước, nhiệt, các chất hữu cơ
đã ổn định và sinh khối vi sinh vật (Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thị Thùy
Dương, 2003).
Ưu, nhược điểm
Ưu điểm: Quá trình phân giải nhanh, ta kiểm soát được mức độ ô nhiễm
nước, ô nhiễm không khí, sản phẩm phân ủ đồng đều.
Nhược điểm: Chi phí xây dựng nhất là chi phí điện cho suốt quá trình vận
hành vẫn cao. Từ đó, giá thành phân ủ rất cao.
(Nguồn: Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thị Thùy Dương, 2003)
Quy trình công nghệ
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
Rác vô cơ còn sót lại
Mùn hữu cơ
Chôn lấp
Tiêu thụ
Hình 2.2: Quy trình công nghệ ủ hiếu khí
(Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi trường An giang, 2011 trích dẫn của Trần Nguyễn Xuân
Trang, 2011)
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Thuyết minh công nghệ
Rác thu gom từ chợ, hộ gia đình (có thể được phân loại tại nguồn) đưa lên
xe thu gom rác, tại đây rác được người thu gom phân loại sơ bộ các loại rác có
kích thước lớn và rác có thể tái chế tái sử dụng cho vào bao đựng riêng.
Rác được vận chuyển về sân thao tác của khu phân loại, tại đây rác được
phân loại thành rác vô cơ, rác hữu cơ (tái chế hoặc không tái chế) và xé các túi
đựng rác bằng dao chuyên dụng thủ công. Ngoài ra băm nhỏ ra các chất hữu cơ
có kích thước lớn để nâng cao hiệu quả cho quá trình ủ.
Nhà máy áp dụng công nghệ ủ hiếu khí trong tỉnh An Giang
Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt thành phân compost ở xã Bình Thạnh,
huyện Châu Thành
Nhà máy thuộc ấp Thạnh Hưng, xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An
Giang chính thức đi vào hoạt động vào tháng 6 năm 2011. Khu xử lý có tổng diện
tích 3.172 m2, áp dụng công nghệ ủ hiếu khí kết hợp chế phẩm sinh học, công suất
xử lý là 5 m3/ngày (Lê Hải Nhi).
Chất lượng phân compost của nhà máy xử lý rác thải ở xã Bình Thạnh rất
tốt, có hàm lượng đạm, lân, kali trong phân comost luôn đạt tiêu chuẩn ngành
(Bảng 2.2).
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Bảng 2.2: Hàm lượng N, P, K trong phân compost ở nhà máy xử lý rác xã Bình
Thạnh, huyện Châu Thành
Thành phần
Hàm lượng (mg/g)
Tiêu chuẩn ngành (%)
Nitơ tổng số
Compost là sản phẩm cuối cùng của quá trình chế biến compost, đã được ổn
định như chất mùn, không chứa các mầm bệnh, không lôi kéo côn trùng, có thể
lưu trữ an toàn và có lợi cho sự phát triển của cây trồng. Bên cạnh đó, quá trình
ủ phân compost còn là quá trình phân hủy sinh học và ổn định chất hữ u cơ dưới
điều kiện nhiệt độ từ 50 - 60oC (Nguyễn Văn Phước, 2007).
b. Vai trò và tình hình sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất rau sạch
Vai trò của việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất rau sạch
Đối với đất trồng
Cải thiện tính chất vật lý của đất
Bón phân hữu cơ trước hết làm tăng hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất:
Các chất dinh dưỡng trong phân hữu cơ được phân giải và cây hấp thụ dần. Nên
sau nhiều lần bón làm chất dinh dưỡng trong đất ngày càng tăng, đất trở nên tốt
hơn (Phạm Anh Cường và Nguyễn Mạnh Chinh, 2010).
Làm tăng độ xốp của đất: Chất hữu cơ làm tăng độ xốp của đất bazan mất
sức sản xuất từ 59 - 63,4% (Trình Công Tư, 2006 trích dẫn của Nguyễn Hà
Duyên, 2012).
Làm tăng nhiệt độ của đất: Do có màu xám nên phân hữu cơ thường hấp
thu toàn bộ lượng bức xạ mặt trời nên làm nhiệt tăng cao nhanh (Ngô Ngọc
Hưng và Đỗ Thị Ren, 2004 trích dẫn của Lê Ngọc Nhẫn, 2009).
Cải tạo chế độ khí của đất: do cung cấp chất hữu cơ và mùn là những chất
có tác dụng cải tạo kết cấu và chế độ khí của đất. Các chất này làm cho đất có
thành phần cơ giới nặng vốn yếm khí trở nên xốp hơn và thoáng khí hơn, còn đất
có thành phần cơ giới nhẹ vốn quá nhiều không khí trở nên chặt hơn và giảm bớt
không khí trong đất (Nguyễn Như Hà và Lê Bích Đào, 2011).
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
8
thức ăn cho VSV ở thể khoáng và nguốn chất năng lượng là các chất hữu cơ
(Nguyễn Như Hà và Lê Bích Đào, 2011).
Một số hoạt chất sinh học được hình thành trong phân hữu cơ (chất kích
thích sinh trưởng, kháng sinh...) cũng tác động đến sinh trưởng và trao đổi chất
của cây (Nguyễn Như Hà và Lê Bích Đào, 2011).
Giữ cân bằng quẩn thể vi sinh vật trong đất
Phân bón nền nông nghiệp hữu cơ phải đảm bảo là cân đối nguồn dinh
dưỡng giữa phân hữu cơ và phân vô cơ bên cạnh thì phải cung cấp cho cây trồng
những vi sinh vật hữu ích (Lê Văn Tri, 2003).
Trong điều kiện đất giàu chất hữu cơ thì quần thể sinh vật đối kháng sẽ
phát triển phong phú đủ sức khống chế vi sinh vật gây bệnh và kìm hãm được vi
sinh vật gây bệnh dưới ngưỡng gây hại kinh tế (Nguyễn Thơ và Lê Văn Hưng,
2004 trích dẫn của Lê Ngọc Nhẫn, 2009).
Đối với cây trồng
Cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây trồng
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Trong phân hữu cơ có chứa đầy đủ các dạng dinh dưỡng đa, trung, vi lượng
và các enzyme kích thích sinh trưởng cây trồng nên sẽ là nguồn cung cấp dinh
dưỡng trực tiếp cho cây trồng (Phạm tiến Hoàng, 2003; Nguyễn Mỹ Hoa và Cao
Ngọc Điệp, 2006 trích dẫn của Võ Thị Ngọc Nữa, 2012).
đảm bảo sự sinh trưởng mạnh và phẩm chất rau ngon . Đối với các loại rau ăn lá
như rau cải, rau dền, rau muống,… thì loại phân đạm đơn cần hơn các loại rau
khác. Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều, bón tập trung và bón muộn quá vào lúc sắp
thu hoạch sẽ làm cho rau sinh trưởng quá mạnh, dễ bị sâu bệnh và khó bảo quản
(Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996).
Nên kết thúc bón phân đạm ở thời điểm 6 - 7 ngày trước thu hoạch để đảm
bảo rau có mức nitrate ở ngưỡng an toàn cho phép (Nguyễn Thanh Bình, 2001
trích dẫn của Lê Ngọc Nhẫn, 2009).
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Vai trò của lân (P)
Lân là thành phần quan trọng trong đời sống cây trồng là thành phần quan
trọng trong các acid nhân, các enzyme, tham gia vận chuyển năng lượng,…
(Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004).
Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy ra hoa sớm và nhiều,
đặc biệt lân rất cần thiết cho các loại rau ăn củ, quả như khoai tây, cà chua, cà
rốt,… (Trung tâm UNESCO phổ biến kiến thức và văn hóa giáo dục cộng đồng,
2005).
Nhưng đối với rau ăn lá vẫn cần bón phân lân để đảm bảo cân đối nguồn
dinh dưỡng và giúp phát huy được hiệu quả phân đạm (Nguyễn Văn Thắng và
Trần Khắc Thi, 1996).
Vai trò của kali (K)
Kali được biết đến như một nguyên tố của chất lượng, làm tăng khả năng
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Tình hình phát triển và ứng dụng phân hữu cơ trong sản xuất rau
sạch
Tình hình phát triển và sử dụng phân hữu cơ
Tình hình sử dụng phân hữu cơ trên thế giới
Năm 1970, ở Nam Phi người ta đã sản xuất phân hữu cơ từ lân tự nhiên
nghiền mịn và amonium cacbonat. Trung Quốc được xem là nước có truyền
thống sử dụng phân hữu cơ lâu đời nhất với các nguồn phân chủ yếu là phân
chuồng, rơm rạ, phân xanh, tương đương 9,8 triệu tấn phân N, P, K nguyên
chất/năm (Lê Văn Tri, 2003).
Năm 1982, ở Mỹ đã sản xuất được khoảng 100 triệu tấn/năm từ bùn cống,
mùn cưa, vôi và đá phosphate. Ở Đài Loan thì phân hữu cơ bắt đầu sản xuất từ
năm 1986 từ than bùn, mùn cưa và lân tự nhiên (Juang, 1996 trích dẫn của
Nguyễn Hà Duyên, 2012).
Tình hình sử dụng phân hữu cơ ở Việt Nam
Ở Việt Nam phân vi sinh cố định đạm, phân giải lân được nghiên cứu bước
đầu từ những năm 1960. Năm 1980 bắt đầu thử nghiệm các loại phân vi sinh vật
cho cây đậu nành, đậu xanh và đậu phộng với các chế phẩm như vinada, vinaga,
vidafo,… (Lê Văn Tri, 2003).
Theo ước tính nếu gom hết lượng phân từ gia súc ở Việt Nam thì hằng năm
có thể cung cấp cho mỗi hecta canh tác khoảng 11,7 tấn phân chuồng. Hiện nay,
trong tổng số chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng thì phân hữu cơ đóng góp
khoảng 25% và các loại phân hữu cơ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam thường
Các loại rác hữu cơ được cho vào thùng ủ, nếu trong thùng khô quá thì cho
thêm một ít nước để tăng độ ẩm. Rác hữu cơ sẽ được phân hủy và xẹp dần xuống,
sau 60 ngày rác sẽ phân hủy thành phân compost có độ mịn, tơi xốp, màu đen
không mùi. Phân này đem bón cho cây, hoa, rau màu vô cùng tốt, rau xanh mướt,
hoa nở to đẹp, cây mau lớn cho nhiều trái (Nguyễn Xuân Dự, 2011 trích dẫn của
Nguyễn Thị Thu Thảo, 2011).
Nghiên cứu xác định hàm lượng trứng giun sán và vi sinh vật gây bệnh trên
cải xanh bón bằng phân compost trên môi trường bán thủy canh bằng sơ dừa.
Kết quả cho thấy tỷ lệ lây nhiễm trung bình Coliforms và trứng giun từ phân
compost sang cây cải xanh tương đối thấp (dưới 6%) (Bùi Thị Mai Phụng và
Nguyễn Thị Thu Thảo, 2011).
Nghiên cứu sự tích lũy nitrate trong cải xà lách khi bón bằng phân compost
được ủ bằng rác thải sinh hoạt cho thấy năng suất cải xà lách phụ thuộc vào tỷ lệ
bón phân đạm, đặc biệt có hiệu quả cao khi bón bằng compost. Mặt khác, nghiệm
thức chỉ bón phân vô cơ sẽ cho sản phẩm cải có hàm lượng nitrate cao hơn so với
các nghiệm thức bón phân compost kết hợp với phân vô cơ (Huỳnh Thị Trùng
Dương, 2012).
Nghiên cứu khả năng tích lũy chì trong cải bẹ xanh khi bón bằng phân
compost được sản xuất từ rác thải sinh hoạt kết quả cho thấy việc bón phân vô cơ
làm cây sinh trưởng kém, tỷ lệ cây chết cao, trọng lượng và năng suất thấp hơn
so với bón phân compost (Nguyễn Hà Duyên, 2012).
Ứng dụng phân compost có trộn dưỡng chất để trồng cải bẹ xanh tại xã
Long Giang, huyện Chợ Mới kết quả cho thấy không tìm thấy E.coli trên phân
compost và cải xanh (Bùi Thị Mai Phụng và Võ Thị Ngọc Nữa, 2013).
Qua các nghiên cứu trên cho thấy rằng các nghiên cứu về sử dụng phân
compost có nguồn gốc từ rác thải sinh hoạt phần lớn đều thực hiện với quy mô
nhỏ như thí nghiệm ở nhà lưới, ngoài đồng với diện tích vài mét vuông… nên
chưa thấy được những tác động tích cực hay tiêu cực của phân compost đến môi
trường đất cũng như sự tích lũy của các chất độc trong cây trồng. Do vậy, cần có
các nghiên cứu mang tính thực tiễn.
2Pb + O2 2PbO (2.1)
(Nguồn: Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2013)
Ứng dụng
Chì dùng trong xây dựng, ắc quy chì, đạn và là một phần của nhiều hợp kim
(Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2013).
Chì được dùng để bọc dây cáp, chống tia phóng xạ và tia rontgen, chế tạo
anot khi điện phân muối sulfat để thu kim loại, để lót (bọc) các thiết bị dùng cho
phản ứng trong dung dịch axit sunfuric. Ngoài ra, chì còn được dùng để chế tạo
hợp kim chống mài mòn, hợp kim đúc chữ in và các hợp kim dễ nóng chảy khác
(Lê Chí Kiên, 2001).
Do vậy, trong các hoạt động xây dựng hoặc việc sử dụng acquy trong sinh
hoạt sẽ làm phát sinh chì,…
2.2.2
Tác dụng sinh hóa và ảnh hưởng của chì đến sinh vật và con người
Tác dụng sinh hóa của chì
Tác dụng sinh hoá chủ yếu của chì là tác động làm phá vỡ hồng cầu. Chì ức
chế một số enzyme quan trọng của quá trình tổng hợp máu do sự tích luỹ của các
hợp chất trung gian của quá trình trao đổi chất. Chì phá huỷ quá trình tổng hợp
hemoglobin cũng như các sắc tố hô hấp khác cần thiết trong máu như
cytochromes.
Chì cũng cản trở việc sử dụng oxy và glucoza để sản sinh năng lượng cho
quá trình sống. Sự cản trở này có thể nhìn thấy khi nồng độ chì trong máu nằm
khoảng 0,3 ppm. Ở các nồng độ cao hơn (> 0,3 ppm) có thể gây hiện tượng thiếu
máu (thiếu hemoglobin). Nếu hàm lượng chì trong máu nằm trong khoảng 0,5 0,8 ppm gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá huỷ não.
Ảnh hưởng của chì đối với sinh vật và con người
Chì được tích tụ lại trong cơ thể thực vật sống trong nước. Với các loại thực
vật bậc cao, hệ số làm giàu có thể lên tới 100 lần, ở bèo có thể đạt tới trên 46.000
lần. Các vi sinh vật bậc thấp bị ảnh hưởng xấu ngay cả ở nồng độ 1 - 30 μg/l
Capitata) là một loại rau chủ lực trong họ Cải (còn gọi là họ Thập tự Brassicaceae/Cruciferae) (Rau Hoa Quả VN, 2007 trích dẫn của Khoahoc.TV,
2007).
Cải bắp được biết tiến hóa từ loài cây hoang dại không cuộn bắp sống ở dọc
bờ biển phía Đông nước Anh và phía Tây Châu Âu. Cải bắp được trồng phổ biến
từ năm 1867 và phổ biến khắp thế giới (Trần Thị Ba, 1999).
2.3.2
Phân bố
Cải bắp thích hợp với khí hậu ôn đới nên nó phân bố chủ yếu ở các nước có
khí hậu ôn đới như: Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc,... Ở Việt Nam, cải bắp được
trồng ở miền Bắc vào vụ Đông Xuân làm rau ăn lá quan trọng, bên cạnh đó cũng
được trồng ở cao nguyên miền Trung như Đà Lạt, còn ở Nam Bộ, trong những
năm sau này, do cải tiến về giống nên cải bắp được trồng khá nhiều ở và bà con
quen gọi là cải nồi (Rau Hoa Quả VN, 2007 trích dẫn của Khoahoc.TV, 2007).
2.3.3
Đặc điểm và giá trị dinh dưỡng
a. Đặc điểm
Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng có bộ rễ
chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hào và súp lơ. Nó là cây thân
thảo, sống 2 năm và là một thực vật có hoa thuộc nhóm 2 lá mầm với các lá tạo
thành một cụm đặc gần như hình cầu đặc trưng. Cây có thân to và cứng, mang
vết sẹo của những lá đã rụng. Lá xếp ốp vào nhau thành đầu, phiến lá màu lục
nhạt hay mốc và có một lớp sáp mỏng, có những lá rộng với một thùy ở ngọn lớn,
lượn sóng.
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
Đồng bằng sông Cửu Long có thể gieo trồng cải bắp quanh năm, tuy nhiên
khả năng sản xuất cải bắp vào các tháng 8, 9, 10 dương lịch còn hạn chế và chưa
ổn định. Các vụ trồng chính như sau:
Đông Xuân: gieo tháng 8 - 9, trồng tháng 9 - 10 và thu hoạch vào tháng 11 - 12
dương lịch. Cải chủ yếu trồng trên đất cơ cấu nhẹ, bờ cao thoát nước tốt và
không ngụp úng khi nước dâng cao. Canh tác vụ này đỡ công tưới nước, ít sâu,
giá bán cao.
Chính vụ (Đông Xuân): gieo cải tháng 10 - 11, trồng 11 - 12 và thu hoạch vào
tháng 1 - 2 dương lịch (Tết nguyên đán). Đầu vụ còn mưa cần làm giàn che cây
con và đánh luống thoát nước tránh ngập úng. Khi trồng cây ra ruộng trời khô
ráo dễ sửa soạn đất, cây sinh trưởng trong nhiệt độ tương đối thấp trong năm
nên phát triển thuận lợi, năng suất cao, ít sâu bệnh, năng suất trung bình 20 - 25
tấn/ha.
Xuân Hè: Gieo tháng 12 - 1, trồng tháng 1 - 2 và thu hoạch vào tháng 3 - 4 dương
lịch. Phần lớn cải được trồng sau vụ lúa trên đất ruộng. Vì trời không mưa, nhiệt
độ cao nên lượng nước cung cấp cho cải là rất lớn, sâu bệnh nhiều nhất là sâu tơ,
năng suất trung bình là 18 - 22 tấn/ha.
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
16
Khóa luận tốt nghiệp
tương ứng. Ngoài biện pháp bón vào đất, có thể phun qua lá các dung dịch dinh
dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản
xuất.
d. Chăm sóc
Làm cỏ, xới góc
Trong thời gian canh tác cần làm cỏ 2 lần vào ngày 20 và 40 sau khi cấy. Khi
làm cỏ kết hợp xới góc phá váng và đánh bỏ các lá già để chân cải được thoáng,
sâu bệnh không ẩn nấp, cần kết hợp với các lần bón phân thúc (rãi phân xung
quanh gốc).
Tưới nước
Lượng nước tưới cho cải bắp thay đổi tùy theo điều kiện thời tiết và đất đai.
Vụ Đông Xuân và Xuân Hè ở ĐBSCL nếu tưới thùng có thể tưới 2 - 3 lần trong
ngày, tưới phun máy mỗi ngày một lần.
e. Phòng trừ sâu hại
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
17
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Sâu hại: Bao gồm tất cả các loại sâu hại có trên rau họ thập tự, trong đó có các
loại sâu hại chính:
cây mọc, ấu trùng phá hoại rễ con dưới đất, sự thiệt hại khó nhận thấy, sau đó
hóa nhộng. Phòng trị bọ nhảy bằng các thuốc thông dụng như DDVP, Sherpa,…
Bệnh hại: Trên rau cải bắp thường có các bệnh: thối nhũn do vi khuẩn (Erwinia
carotovora sp.), bệnh thối do nấm (Sclerotinia sclerotium), bệnh đốm lá
(Cereospora sp.), bệnh da lợn hay thối khô (Rhizoctonia Solani). Để phòng trừ,
cần tránh ruộng quá ẩm, úng kéo dài, thường xuyên làm vệ sinh, làm cỏ, thu gom
các lá già,... làm cho ruộng sạch, thông thoáng.
Khi cần có thể dùng các thuốc:
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
- Trừ bệnh thối nhũn: Zineb Bul 80WP, Macozeb 80WP, Ridomil MZ 72 WP,
Anvil 5SC, Aliette 80WP, Curzate MB 72WP.
- Trừ bệnh đốm lá: Score 250EC, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Antracol 70WP.
Khi sử dụng phải theo đúng hướng dẫn bao bì của từng loại thuốc, thời
gian cách ly không dưới 10 ngày.
(Nguồn: Trần Thị Ba, 1999)
g. Thu hoạch
Thời gian thu hoạch này phụ thuộc giống, mùa trồng và địa điểm canh tác.
Các giống trồng ở ĐBSCL cho thu hoạch bắp 60 - 75 ngày sau khi trồng ra đồng.
Thu hoạch bắp khi bắp cuộn chặt, 2 lá úp ngoài mặt bắp căng, bắp phát triển đầy
Xuân năm 2015 ở ấp Thạnh Hưng, xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An
Giang.
Hộ 1: ông Nguyễn Văn Phích. Địa chỉ: ấp Thạnh Hưng, xã Bình Thạnh,
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Hộ 2: ông Võ Văn Biển. Địa chỉ: ấp Thạnh Hưng, xã Bình Thạnh, huyện
Châu Thành, tỉnh An Giang.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2015.
Địa điểm phân tích mẫu: Phòng Thí nghiệm - Thực hành, Khu Trung tâm,
Trường Đại học An Giang.
3.3
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định tỷ lệ % chì tích lũy trong cải bắp khi sử dụng phân ủ (compost) có
nguồn gốc từ rác thải sinh hoạt để bón. Từ đó, so sánh với các quy định về hàm
lượng chì trong rau dùng làm thức ăn cho người.
Mục tiêu cụ thể
Đánh giá chất lượng phân về mặt dinh dưỡng (N, P, K) và hàm lượng chì
trong phân compost và trong đất trồng.
Nghiên cứu sự tích lũy của Pb trong cải bắp sử dụng phân compost để bón
và đánh giá sự ảnh hưởng của chì đến sự phát triển của cây cải bắp.
3.4
Nội dung nghiên cứu
Thu thập số liệu thứ cấp về đặc tính sinh học của cải bắp, kỹ thuật trồng cải
bắp đạt hiệu quả cao và tính chất của phân compost ở xã Bình Thạnh, huyện
Dụng cụ: leng, bình phun thuốc sâu, thước dây, cân,...
3.5.2 Thiết bị dùng trong phân tích mẫu
Thiết bị thủy tinh: Buret, cốc thủy tinh, pipet, bình tam giác, bình định mức,
ống cất đạm, đũa thủy tinh,...
Thiết bị phân tích mẫu: Bếp phá mẫu, thiết bị cất đạm bán tự động, máy
quang phổ ngọn lửa hoặc máy quang phổ hấp thụ nguyên tử,...
Ngoài ra còn một số dụng cụ khác như: tủ sấy, phễu lọc, chén sứ, giấy lọc,
bếp đun, cuvet,...
3.5.3 Hóa chất dùng trong phân tích mẫu
a. Chỉ tiêu N - P - K: H2SO4, HClO4 70%, dung dịch hấp thu H 3BO3 (axit
Boric); dung dịch chuẩn HCl 0,01N, phenolphtalein.
b. Pb trong đất và trong phân compost: hỗn hợp 2 acid đậm đặc H2SO4
và HClO4.
c. Pb trong rau: acid HNO3 20%.
3.6
Phương pháp nghiên cứu
3.6.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu về tính chất của phân compost ở xã Bình Thạnh, huyện
Châu Thành, tỉnh An Giang.
Tính chất, ứng dụng, tác dụng sinh hóa, ảnh hưởng của chì đến sinh vật và
con người thông qua sách báo, internet, bài báo cáo và các nghiên cứu có liên
Hộ 1: Nguyễn Văn Phích
Phân bón được chia làm hai giai đoạn: bón lót và bón thúc.
Diện tích đất nghiên cứu là 31,20 m2 (38 m x 0,9 m).
Tổng lượng phân sử dụng trên diện tích đất nghiên cứu là 0,577 kg DAP (18
- 46), 11,538 kg phân compost, 0,924 kg urea và 1,924 kg NPK (16 - 16 - 8) kết
hợp các loại thuốc trừ sâu TASIEU, ALEX, MARSHAL,…
Hộ 2: Võ Văn Biển
Diện tích đất nghiên cứu là 33,60 m2 (42 m x 0,9 m).
Chỉ bón thúc, không bón lót.
Tổng lượng phân sử dụng trên luống nghiên cứu là 0,882 kg urea, 1,578 kg
NPK (16 - 16 - 8), 0,395 kg VK.A trichoderma + TE kết hợp phun thuốc trừ sâu
MARSHAL, VOLIAM TARGO,...
Chế độ chăm sóc
Kỹ thuật tưới: Mỗi ngày tưới một lần vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát.
Bón phân: Bón đúng như tỷ lệ cho trên mỗi luống.
Chăm sóc: Thường xuyên theo dõi, bắt sâu, nhổ cỏ dại, nhổ bỏ cây bệnh, lá
héo úa ở gốc để ngăn ngừa nguồn bệnh.
Chỉ tiêu theo dõi
Sau 65 ngày trồng, tiến hành thu 9 điểm theo quy tắc đường chéo. Sau đó đo
chiều cao, đếm số lá và tỷ lệ cây chết ở các thời điểm 14, 28, 42, 56 NSKC và thời
điểm thu hoạch (65 NSKC).
c. Khi thu hoạch
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
22
a. Mẫu đất
Mẫu đất được lấy trước khi cấy cải bắp vào và sau khi thu hoạch cải bắp.
Lấy từ nhiều điểm riêng biệt (9 điểm) đại diện cho một khu vực được khảo sát.
Mẫu đất dùng nghiên cứu phát sinh hoặc nông hóa, sau khi lấy về cần phải
hong khô không khí ngay. Phơi đất ở chỗ râm, tránh ánh sáng mặt trời, tránh để
nơi có bụi bặm, kho chứa hóa chất và nhà vệ sinh.
Chú ý: những cục đất to nên được bẻ nhỏ, nhặt sạch các rễ cây, lá cây,…
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Vân
23
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
Đất được phơi trong khay nhựa sạch, giấy dầu, mẫu được rải đều và mỏng
ra khay phơi mẫu với độ dày lớp đất chỉ khoảng 0,65 cm.
b. Mẫu phân
Trộn đều mẫu phân sau đó lấy ngẫu nhiên. Sau đó. Tiếp theo xử lý mẫu theo
10TCN 301 - 97.
c. Mẫu cải bắp
Sau 65 ngày trồng, tiến hành thu 9 điểm theo quy tắc đường chéo ở các thời
điểm 14, 28, 42, 56 NSKC và thời điểm thu hoạch (65 NSKC). Mẫu cải bắp sau khi
thu cho vào bọc nilon có ghi nhãn, sau đó trữ lạnh ở 10 - 15 oC bằng cách sử dụng
thùng cách nhiệt có chứa đá lạnh (điều chỉnh nhiệt độ bằng nhiệt kế thông qua
khối lượng đá cho vào thùng) (TCVN 9016: 2011).
24
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Bùi Thị Mai Phụng
a: Nồng độ phospho tìm được trên đường chuẩn mg P/lít
m: khối lượng mẫu (g)
V: thể tích dung dịch mẫu sau phân hủy (100 ml)
k: hệ số khô kiệt mẫu
V1: Thể tích dung dịch sau phân hủy (trích) để phân tích tính bằng (ml)
V2: thể tích bình lên màu (50 ml)
100; 1000: Các hệ số quy đổi
Phân tích phospho dễ tiêu
Hàm lượng phospho dễ tiêu (tính theo mg P/kg) được tính theo công thức:
P(mg/kg) =
(3.4)
Trong đó:
a: nồng độ phospho trong dung dịch xác định (mg/l)
b: nồng độ phospho trong dung dịch mẫu trắng (mg/l)
V: toàn bộ thể tích dung dịch chiết mẫu (ml)
f : hệ số pha loãng của dung dịch mẫu
m: khối lượng mẫu (g)
k: hệ số chuyển thành đất khô tuyệt đối
Hàm lượng phospho dễ tiêu (tính theo mg P2O5/kg) trong đất: