ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON
CỦA RỪNG TRỒNG MỠ (Manglietia conifera) TẠI
XÃ CHU HƯƠNG, HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON
CỦA RỪNG TRỒNG MỠ (Manglietia conifera) TẠI
XÃ CHU HƯƠNG, HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn:
1. ThS. Nguyễn Tuấn Hùng
2. TS. Đỗ Hoàng Chung
Thái Nguyên - 2014
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 5
3.2.5. Tính toán xử lý số liệu 25
PHẦN 4. KẾT QUẢ DỰ KIẾN VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 28
Phục lục 01. Mẫu phiếu điều tra ô tiêu chuẩn cây gỗ 32
Phụ lục 02. Mẫu phiếu điều tra sinh khối cây gỗ cá lẻ 33
Phụ lục 03. Mẫu phiếu điều tra đo đếm sinh khối thảm tươi cây bụi 34
Phụ lục 04. Mẫu phiếu điều tra đo đếm sinh khối gỗ cây chết 35
Phụ lục 05. Mẫu phiếu điều tra đo đếm sinh khối thảm mục 36
Phụ lục 6. Mẫu biểu nhập số liệu phân tích mẫu đất 37
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Thế kỷ XX, nhân loại chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ
thuật và công nghệ. Từ đó tạo cho con người có nhiều điều kiện để giải quyết các vấn
đề về cuộc sống, quan hệ xã hội, trí tuệ, tìm hiểu khoa khọc tự nhiên Theo đó, cuộc
sống của con người có nhiều tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, chính sự phát triển quá nóng
như vậy, Chính phủ các nước hầu như chưa quan tâm đến sự phát triển bền vững, hài
hoà giữa kinh tế với bảo đảm môi trường trên trái đất.
Kết quả của việc phát triển kinh tế mà chưa quan tâm đến bảo vệ môi trường là
sự gia tăng của nồng độ CO
2
trong khí quyển. Các nhà nghiên cứu lo ngại rằng sự gia
tăng các khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là khí CO
2
, chính là nhân tố gây nên
những biến đổi bất ngờ và không lường trước của khí hậu. Trong khi đó rừng có vai
trò điều tiết khí hậu, đặc biệt là khả năng hấp thụ khí thải CO
diện tích rừng hiện nay chủ yếu đã giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý. Diện
tích rừng sản xuất là 2355,23 ha trong đó chủ yếu là rừng trồng Mỡ, diện tích rừng
trồng này đã đóng góp lớn trong tỷ lệ che phủ rừng của địa phương, đóng góp cho
nguồn sinh kế của người dân.
Nhằm đi sâu nghiên cứu, đánh giá giá trị môi trường và khả năng tích luỹ các
bon của rừng trồng Mỡ trên địa bàn xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn hiện
nay, dự báo khả năng hấp thụ CO
2
của rừng Mỡ và các phương thức quản lý rừng để
làm cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường, đây chính là
những vấn đề còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, có những đề
xuất, khuyến cáo người dân, cấp uỷ, chính quyền địa phương để có những định
hướng, lựa chọn loại cây để đưa vào trồng rừng ở địa phương nhằm đáp ứng tốt nhất
hiệu quả kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường trong thời gian tới. Từ những điều
kiện thực tiễn và nhu cầu khoa học trên đây nên tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình
là: “Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng trồng Mỡ (Manglietia
conifera) tại xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn ”.
1.2. Mục tiêu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định được khả năng tích lũy các bon của rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được một số đặc điểm cấu trúc của rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá được lượng sinh khối của rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương, huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
6
- Đánh giá được lượng các bon tích lũy trong rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Lượng hóa được năng lực hấp thu CO
ở Âu Châu và Bắc Mỹ từ năm 1850 đến 1940 so với các nơi khác trên thế giới, các
nhà nghiên cứu Anh đã đi đến kết luận là sự phát triển ở các quốc gia kỹ nghệ đã làm
tăng lượng ô nhiễm thán khí trong không khí, do đó làm cho mặt đất ở hai vùng này
nóng mau hơn so với các vùng chưa phát triển.
Đến năm 1958, các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Mauna Loa
Observatory (Hawai) đặt ở độ cao 3.345m đã chứng minh được khí CO
2
là nguyên
nhân chính yếu của sự gia tăng nhiệt độ.
Đến năm 1976, các chất khí methane (CH
4
), chlorofluoroCác bon (CFC),
nitrogen dioxide (NO
2
) cũng được xác nhận là nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính.
Các cuộc nghiên cứu do hai khoa học gia Karl và Trenberth trên tạp chí Sciences số
tháng 12/2003 nói lên tính chất khẩn thiết của vấn đề này. Theo ước tính của hai ông
thì từ năm 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến 8,9
o
F (1,6 đến
4,2
o
C); sự tăng nhiệt độ này sẽ làm nóng chảy hai tảng băng ở Greenland và Antartica
và có thể làm ngập lụt các bờ biển (và người ta cũng ước tính được rằng CO
2
trong
không khí đã tăng 30% từ năm 1750 đến nay). Điều này sẽ làm thu hẹp diện tích đất
sống của con người trên quả địa cầu, để rồi từ đó sinh ra nhiều hệ lụy như sau [43]:
– Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường;
– Hạn hán sẽ thường xuyên hơn và xảy ra ở nhiều nơi;
Theo số liệu của Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO): tổng diện tích rừng
trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn cầu. Hàng
năm trên toàn thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó có khoảng 0,4% là
rừng nguyên sinh) và con số này vẫn chưa có dấu hiệu giảm, đặc biệt là trong những
năm gần đây những vụ cháy rừng có qui mô lớn đã xảy ra ngày càng nhiều hơn trước
(như ở Indonesia, Mỹ, Nga vừa qua…). Từ đó tổ chức này đã cảnh báo: nạn phá rừng
lấy đất sản xuất, làm nhà ở, nhất là nạn khai thác rừng lấy gỗ một cách bừa bãi và
hiểm họa cháy rừng hiện làm cho trái đất ngày càng bị sa mạc hóa, nhiều động thực
vật quý hiếm đã và đang bị diệt chủng. Các chuyên gia khí tượng trên thế giới cũng
cho biết, nhiệt độ trung bình trên thế giới từ đầu năm 2007 đã cao hơn mức nhiệt độ
trung bình của thế kỷ XX là khoảng 0,72
0
C, gây ra hạn hán kéo dài, mưa lớn, bão
tuyết, lũ lụt và sụt lở đất … diễn ra trong những năm trở lại đây thường xuyên hơn.
9
Phá rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho lượng CO
2
tăng lên -
Đây là một trong những nguyên nhân làm biến đổi khí hậu trái đất [39].
Ngày nay, theo quan sát của các nhà khoa học đã cho thấy trong hệ sinh thái
rừng có 6 loại bể chứa Các bon là: sinh khối trên mặt đất bao gồm: cây trồng và các
thảm thực vật khác; sinh khối dưới mặt đất: thảm mục, thảm tươi, gỗ chết, Các bon
hữu cơ trong đất, trong rễ cây. Trong khi đó các thảm thực vật đã thu giữ một trữ
lượng CO
2
lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên
liệu hoá thạch trên thế giới. Và từ nguyên liệu Các bon này hằng năm thảm thực vật
trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Khám phá này càng
khẳng định thêm vai trò hệ sinh thái rừng trong việc làm giảm lượng CO
2
Ước tính lượng Các bon lưu giữ trong sinh khối và đất khoảng gấp 3 lần lượng
Các bon có trong khí quyển. Và khoảng 35% khí nhà kính trong khí quyển là hậu quả
của nạn phá rừng trong quá khứ và 18% lượng phát thải khí này hàng năm là do nạn
phá rừng liên tục. Do đó, “Duy trì lượng Các bon lưu giữ trong các khu rừng tự nhiên
đồng nghĩa với việc ngăn chặn lượng Các bon gia tăng do đốt nhiên liệu hoá thạch”.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, những khu rừng bị chặt phá giảm hơn 40%
lượng Các bon hấp thụ so với những khu rừng không bị chặt phá. Phần lớn lượng Các
bon sinh khối trong các khu rừng tự nhiên được giữ trong sinh khối gỗ của những cây
cổ thụ lớn. Việc phá rừng vì lợi ích thương mại làm thay đổi cơ cấu niên đại của
rừng, mức tuổi trung bình của cây cối trong rừng bị giảm đi rất nhiều và khả năng hấp
thụ Các bon cũng giảm. Vì thế, sinh khối Các bon trong các khu rừng chuyên dụng để
lấy gỗ cũng như trong các khu đồn điền độc canh sẽ luôn luôn thấp hơn đáng kể so
với sinh khối Các bon ở các khu rừng tự nhiên không bị xâm phạm.
Theo Schimel và cộng sự (2001) [43], trong chu trình Các bon toàn cầu, lượng
Các bon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5Tt; trong khi đó
khí quyển chỉ chứa 0,8Tt và hầu hết lượng Các bon trên trái đất được tích lũy trong
sinh khối cây rừng.
2.1.3. Những nghiên cứu về phương pháp xác định Các bon trong sinh khối
Khi nghiên cứu lượng Các bon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy,
Romain Piard (2005) đã tính lượng Các bon lưu trữ trên tổng sinh khối tươi trên mặt
đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy tổng sinh khối
tươi nhân với hệ số 0,49 sau đó nhân sinh khối khô với hệ số 0,5 để xác định lượng
Các bon lưu trữ trong cây.
Những năm gần đây, tại một số công trình nghiên cứu tương tự người ta đã
xác định rằng: Các bon được ước lượng là một hằng số tương đối, tỉ lệ với sinh khối
trong từng đối tượng như sau:
– Sinh khối sống, đứng và sinh khối gỗ nằm, chết: Sinh khối * 0,47 = C.
– Xác bã, thảm mục: Sinh khối * 0,37 = C.
– Trong đất: Cần lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm. [18]
11
tới phát triển bền vững bằng các cam kết cụ thể về hạn chế và giảm lượng khí nhà
kính phát thải định lượng của các nước trên phạm vi toàn cầu.
Thời gian qua, các dự án CDM đã đem lại lợi ích rõ rệt về môi trường và kinh
tế cho cả hai phía - phía các nước công nghiệp hoá (tức là các nhà đầu tư dự án
CDM) và phía các nước đang phát triển (hay còn gọi là các nước tiếp nhận dự án
CDM). Về mặt kinh tế, nguồn tài trợ từ các dự án CDM sẽ giúp các nước đang phát
triển đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường và phát triển bền vững, chẳng hạn
12
như giảm ô nhiễm không khí và nước, cải thiện sử dụng đất, nâng cao phúc lợi xã hội,
xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm hay giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hoá
thạch… Ở mức độ toàn cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM có thể khuyến
khích đầu tư quốc tế, thúc đẩy cung cấp nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế ở
nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới.
Do đặc điểm có bờ biển dài thấp và dễ bị ảnh hưởng của bão, lốc, lượng mưa
cao và thất thường, nước ta được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tác động
và chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu trên thế giới. Theo một nghiên cứu
thì đến năm 2050 mực nước biển ước tính sẽ dâng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ là
1m. Nếu mực nước biển dâng lên 1m thì 7% đất nông nghiệp và 11% dân số của Việt
Nam sẽ bị ảnh hưởng, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) sẽ giảm đi khoảng 10% và
Liên Hợp Quốc cũng đã cảnh báo: nếu mực nước biển tăng thêm 1m thì Việt Nam sẽ
đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm; 1/5 dân số mất nhà cửa; 12,3% diện
tích đất trồng trọt biến mất; 40.000km
2
diện tích đồng bằng, 17km
2
bờ biển ở khu vực
các tỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán.
[18, 12]
Là một nước đang phát triển và cũng không thuộc diện phải cắt giảm lượng
phát thải khí nhà kính, song từ những tính toán và dự báo trên, chúng ta đã nhanh
2
mỗi năm, nhờ tăng được hiệu suất trung bình của nồi hơi
công nghiệp từ 45% lên 60%.
Bên cạnh các hoạt động đó, trong những năm gần đây Việt Nam đã có những
nỗ lực thực hiện một số nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu và CDM, qua đó đã
thu được một số dẫn liệu quan trọng như sau:
– Các nguồn KNK chính ở Việt Nam là: năng lượng, nông nghiệp, thay đổi sử dụng
đất và lâm nghiệp (trong đó thay đổi sử dụng đất là 50,5% và lâm nghiệp là 18,7%
tổng phát thải quốc gia). Theo kết quả kiểm kê KNK quốc gia năm 1994 ở Việt Nam,
tổng phát thải KNK là 103,8 triệu tấn CO
2
, bình quân khoảng 1,4 tấn/người/năm.
– Các kết quả nghiên cứu chiến lược quốc gia về CDM, trong lĩnh vực thay đổi sử
dụng đất và lâm nghiệp, thì tiềm năng hấp thụ KNK của rừng vào khoảng 52,2 triệu
tấn CO
2
với chi phí giảm thấp dao động từ 0,13 USD/tấn CO
2
– 2,4 USD/tấn CO
2
,
trong khi chi phí giảm thấp CO
2
trong lĩnh vức năng lượng giao động từ 22,3
USD/tấn – 154,22 USD/tấn CO
2
.
Do thị trường mua bán giảm phát thải KNK còn quá mới mẻ, các doanh
nghiệp còn thiếu thông tin về thị trường này, do đó mặc dù tiềm năng thị trườngViệt
Nam là rất lớn nhưng còn quá ít các doanh nghiệp tham gia. Đã đến lúc nhà nước
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lý
Chu Hương là xã nằm ở phía Nam huyện Ba Bể, cách trung tâm huyện Ba Bể
khoảng 20 km; có trục đường 258 đi qua địa phận xã, đường liên xã Chu Hương – Hà
Hiệu dài 11km được nâng cấp và mở rộng, Có chợ Pù Mắt là trung tâm giao lưu hàng
hóa, thương mại và dịch vụ cụm Nam của huyện. Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là
3478,96 ; Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 3303,97 ha; nghành nghề chủ yếu là
phát triển nông - lâm nghiệp – chăn nuôi và các dịch vụ khác. Có ranh giới hành
chính tiếp giáp với các xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Hà Hiệu huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp xã Mỹ Phương huyện Ba Bể
15
- Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn
- Phía Tây giáp xã Đồng Phúc và xã Yến Dương huyện Ba Bể
2.4.1.2. Địa hình, địa mạo
Chu Hương là xã có địa hình đồi núi cao, bị chia cắt bỏi các thung lung , các
dãy núi cao, những núi thấp, thoải tạo thành những cánh đồng bậc thang nhỏ hẹp. Xã
có độ cao trung bình từ 400 đến 1200m so với mặt nước biển.
2.4.1.3. Khí hậu
Theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Kạn, xã Chu Hương nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt chia hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
2.4.1.4. Thuỷ văn
Mạng lưới thuỷ văn của xã có 32 kênh mương, 25 phai đập cùng với hệ thống
ao hồ, đập lớn nhỏ là những nguồn nước quý phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Mặc
dù có nguồn nước dồi dào như vậy nhưng do địa hình đồi núi nên việc tưới tiêu cho
cây trồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhất là những khu ruộng bậc thang hay khu
ruộng cao. Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu năm, do điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên
thường xảy ra tình trạng hạn hán nên UBND xã kết hợp với trạm thuỷ nông huyện
bơm nước chống hạn.
- Xác định sinh khối của các tầng cây gỗ
- Xác định sinh khối của tầng cây bụi thảm tươi
- Xác định sinh khối của tầng thảm mục
- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng cây gỗ
- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng cây bụi thảm tươi
- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng thảm mục
Nội dung 4: Lượng hóa năng lực hấp thu CO
2
của rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Nội dung 5: Đề xuất một số giải pháp.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Cách tiếp cận
Để đạt được các mục tiêu đề ra, cách tiếp cận tự nhiên và tiếp cận cộng đồng
được lựa chọn. Hệ thống các ô tiêu chuẩn được lập cho các hoạt động điều tra rừng
để xác định lượng các bon tích lũy trong rừng trồng Mỡ ở khu vực nghiên cứu. Kết
hợp với điều tra thực địa là hoạt động điều tra cộng đồng nhằm xác định kỹ thuật
trồng, định mức đầu tư, chế độ chăm sóc, quản lý bảo vệ đã được áp dụng và hiệu quả
kinh tế của rừng trồng Mỡ tại khu vực nghiên cứu.
3.2.2. Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phân tích
và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu và đánh giá hiện trạng rừng.
18
3.2.3. Phương pháp phỏng vấn (PRA)
Điều tra cộng đồng sử dụng các công cụ của bộ công cụ PRA để điều tra xác
định các biện pháp kỹ thuật trồng, định mức đầu tư, chế độ chăm sóc, quản lý bảo vệ
đã được áp dụng và chi phí đầu vào và thu nhập từ rừng trồng Mỡ tại khu vực nghiên
cứu.
3.2.4. Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn
3.2.4.1. Số lượng và vị trí các ô mẫu
3.2.4.4. Đo đếm tại ô tiêu chuẩn
Điều tra các bon rừng có thể sử dụng ô dạng hình chữ nhật vì nó dễ thiết lập
trên hiện trường và nó có thể trải dài trên các dạng địa hình. Do đó nó mang tính đại
diện cao.
Trình tự
(1) Thiết lập OTC
Việc lập ô tiêu chuẩn nên có 3 cán bộ kỹ thuật và 2 lao động địa phương và tiến
hành theo các bước như sau:
a) Trong khu vực điều tra, dùng cọc đóng để đánh dấu điểm xuất phát lập ô;
b) Một người đứng tại điểm xuất phát và sử dụng địa bàn cầm tay để định hướng
cho các cạnh của ô tiêu chuẩn;
c) Những người khác sử dụng thước dây để đo khoảng cách từ điểm xuất phát
theo các cạnh của ô tiêu chuẩn. Chiều dài của các cạnh của ô tiêu chuẩn là
khoảng cách đã được cải bằng. Trong quá trình xác định chiều dài của các
cạnh, cứ 10 m nên dùng cọc để đánh dấu;
d) Để chắc chắn ô tiêu chuẩn là hình chữ nhật, các góc vuông hình thành bởi hai
cạnh của ô phải là 90
O
và tại trung điểm của hai cạnh đối diện, sử dụng thước
dây để kiểm tra độ dài của khoảng cách bằng giữa hai trung điểm này. Khoảng
20
cách bằng giữa hai trung điểm của hai cạnh đối diện là 20 m.
e) Sau khi lập ô với các cọc được đánh dấu tại mỗi khoảng cách từ 10 m, (tùy
thuộc vào điều kiện địa hình), trên mỗi cạnh của ô vuông, sử dụng dây nilon
nối các cọc của ô để đánh dấu ranh giới của ô tiêu chuẩn.
f) Ghi chép các thông tin chung trong ô (vị trí, tọa độ tại tâm ô) trong phiếu điều
tra hiện trường.
(2) Điều tra trong ô tiêu chuẩn
Trong ô tiêu chuẩn, tiến hành đo tất cả các cây sống có đường kính từ 5 cm trở
lên. Thông tin thu thập gồm: i) tên loài cây (tên Việt Nam và tên khoa học); và ii)
iii. Chiều dài men thân cây (từ gốc tới ngọn của cây);
iv. Chiều cao dưới cành (từ vị trí 0.0 m tới điểm phân cành chính của cây);
v. Chiều dài men thân cây từ gốc (vị trí 0.0 m) tới điểm có đường kính 10
cm;
e) Tách riêng biệt các phần của cây chặt thành các bộ phận: thân, cành nhánh và
lá;
f) Sau khi tách các bộ phận của cây, sử dụng cân để cân và xác định khối lượng
của thân, cành, lá cây.
g) Ghi chép đầy đủ tất cả thông tin trong quá trình đo đếm sinh khối của cây cá lẻ
bằng phương pháp chặt hạ vào phiếu điều tra nêu tại Phụ lục 02.
(4) Lấy mẫu phân tích sinh khối khô và khối lượng thể tích gỗ
Mẫu để phân tích sinh khối khô được lấy ngay sau khi xác định xong trọng
lượng tươi của từng bộ phận của cây (thân, cành, lá cây). Các bước lấy mẫu được
thực hiện như sau:
1. Mẫu phân tích sinh khối khô: Yêu cầu lấy 03 mẫu cho mỗi cây tiêu chuẩn chặt
hạ, đó là: mẫu thân, cành và lá cây. Mẫu phải đại diện cho các bộ phận của
cây, do vậy khi lấy mẫu cho phân tích sinh khối khô, cần chú ý:
a. Mẫu nên được lấy từ các vị trí khác nhau của thân, các phần khác nhau của
cành và lá. Với mẫu thân, lấy 2 -3 thớt (hoặc thớt xuyên tâm nếu cây to)
với khối lượng mẫu chiếm khoảng 0.2% khối lượng tươi của thân. Với mẫu
cành, lấy 4 thớt nhỏ từ các cành với khối lượng mẫu là từ 0,5 – 1,0 kg.
b. Mẫu của mỗi phần của cây (thân, cành và lá) phải được để trong túi nilon
và buộc chặt để tránh bốc hơi nước;
c. Khối lượng của mẫu thân và cành nhánh của cây là từ 0,5 – 1 kg/mẫu; khối
lượng mẫu lá là từ 0,3 - 0,5 kg/mẫu;
2. Mẫu phân tích khối lượng thể tích gỗ sẽ là 04 mẫu thớt gỗ từ thân cây chặt hạ,
mẫu được lấy như sau:
a. Đánh dấu vị trí lấy mẫu: Vị trí lấy mẫu là tại vị trí gốc cây (0.0m), tại vị trí
1/4 chiều dài thân cây; 1/2 chiều dài thân cây và tại vị trí 3/4 chiều dài thân
cây;
. Cắt toàn bộ các cây có trong ô
dạng bản. Xác định trọng lượng tươi (FW) ngay tại thực địa (g/1 m
2
).
Chặt nhỏ tất cả mẫu và trộn đều trước khi lấy mẫu phân tích. Lấy mẫu
đại diện 100g tươi, cho vào túi giấy. Sấy khô mẫu, xác định trọng lượng
khô (DW).
• Các thông tin về đo đếm sinh khối thảm tươi cây bụi được ghi lại chi
tiết vào phiếu điều tra hiện trường nêu tại Phụ lục 03.
23
ii. Cây chết là một phần của vật chất hữu cơ chết
Trình tự
• Trong ô 500 m
2
(20x25 m) tất cả các mảnh vỡ và thân gỗ (một phần
chưa bị cháy), cây chết đứng, cây chết trên mặt đất và gốc đều được đo
đếm (với đường kính >5 cm và chiều dài> 0,5 m).
• Đo chiều cao (chiều dài) trong phạm vi rộng của ô và đường kính (đoạn
giữa), ghi chú xác định loại gỗ để xác định khối lượng riêng.
• Tất cả các thông tin cây gỗ chết được ghi chép đầy đủ trong Phụ lục
03.
iii. Thảm mục
Trình tự
• Thu thập tất cả mẫu thảm mục trong cùng một ô 1 m
2
được sử dụng cho
thu mẫu dưới tán, nó có thể được thực hiện theo hai bước.
• Thu mẫu thảm mục thô chẳng hạn như bất kỳ đoạn thân/cành có d < 5
cm và/hoặc chiều dài < 50cm, vật liệu thực vật chưa phân hủy (tất cả lá và
cành).
khoan lấy mẫu không thể sử dụng được do đất quá chặt hoặc lẫn nhiều đá
thì sử dụng cuốc để đào phẫu diện và lấy mẫu theo độ sâu mong muốn.
Mẫu đất phải loại bỏ đá, sỏi, rễ cây và khối lượng của mẫu đất cần lấy là từ
100 – 150 gam. Mẫu đất sau khi lấy phải được cho vào túi nilon có ghi đầy
đủ nhãn mác.
• Để lấy mẫu phân tích dung trọng đất, sử dụng ống đóng dung trọng có thể
tích 100 cm3. Ống đóng dung trọng được đóng từ trên xuống và vuông góc
với mặt đất. Sau khi lấy mẫu, lấy toàn bộ đất trong ống dung trọng và sử
dụng cân kỹ thuật để xác định ngay khối lượng tươi của mẫu đất. Toàn bộ
khối lượng đất đó được cho vào túi nilon với đầy đủ nhãn mác.
• Ghi đầy đủ thông tin về điều tra đất và gửi kịp thời các mẫu đất tới phòng
thí nghiệm chuyên ngành để phân tích hàm lượng các bon và dung trọng
đất.
3.2.5. Tính toán xử lý số liệu
Dựa trên kết quả điều tra ô tiêu chuẩn chúng tôi thực hiện tính toán xử lý số
liệu như sau:
Đánh giá đặc điểm cấu trúc rừng
- Xác định tổng tiết diện ngang thân cây gỗ, đường kính và chiều cao trung
bình được tính theo các công thức:
2
1
2
2
(cm /ha)
n
i
i
D
x
∑
- Mật độ: Mật độ cho biết số lượng cá thể trung bình của loài nghiên cứu trên
mỗi ô tiêu chuẩn được tính theo công thức sau đây:
25
(3.1)
(3.2)
(3.3)