Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác Cây men (Mosla Dianthera) tại xã Lương Thành, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BẾ THỊ KIM THỦY

Tên đề tài:
T
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
CANH TÁC CÂY MEN (MOSLA DIANTHERA) TẠI
XÃ LƯƠNG THÀNH, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Lớp : 42 - Trồng trọt
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Trần Trung Kiên Thái Nguyên, 2014 LỜI CẢM ƠN
Với phương châm đào tạo “ Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với
thực tế” thực tập tốt nghiệp là khâu quan trọng trong quá trình đào tạo của
mỗi sinh viên Trường Đại học nông lâm.
Trong thời gian học tập tại trường sinh viên được các thầy, cô tận tâm
truyền đạt những kiến thức cơ bản về lý luận chuyên môn. Sau đó mỗi sinh
viên cần đến với cơ sở để tìm tòi, bổ sung những kiến thức đã học bằng những
vấn đề thực tiễn. Chính vì vậy thực tập tốt nghiệp là yêu cầu không thể thiếu
được để củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp
sinh viên làm quen với thực tế.
Xuất phát từ mục đích trên, được sự nhất trí của nhà trường của Ban
chủ nhiệm Khoa Nông học Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, em được
phân công thực tập tốt nghiệp tại xã Lương Thành – huyện Na Rì - tỉnh Bắc
Kạn với đề tài: “ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác Cây men

Bảng 4.3: Thời gian sinh trưởng của Cây men (Mosla dianthera) ở các
khoảng cách gieo trồng khác nhau 31

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến chiều cao cây, số lá, số
cành, đường kính tán và năng suất của Cây men (Mosla
dianthera) 34

Bảng 4.5: Thời gian sinh trưởng của Cây men (Mosla dianthera) ở các công
thức phân bón khác nhau 35

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chiều cao cây, đường kính
tán, số lá, số nhánh và năng suất Cây men (Mosla dianthera) 38

Bảng 4.7: Kết quả xây dựng mô hình sản xuất Cây men năm 2013 tại xã
Lương Thành, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 39

Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế của Cây men so với một số cây trồng khác (tính
cho 1ha) 42

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Biểu đồ 4.1: Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây của Cây men (Mosla dianthera) 27


TT : Thứ tự
Tr. : Trang
WHO : Tổ chức y tế Thế giới
XNK : Xuất nhập khẩu
WWF : Quỹ quốc tế bảo tồn thiên MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1
.
MỞ ĐẦU 1

1.1. Đặt vấn đề 1

1.2. Mục đích của đề tài 3

1.3. Mục tiêu của đề tài 3

1.4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 4

1.4.1. Ý nghĩa khoa học 4

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 4

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5


3.3. Nội dung nghiên cứu 22

3.4. Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 22

3.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25

3.5. Phương pháp xử lý số liệu 25

PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng và phát triển của Cây men(Mosla
dianthera) 26

4.1.1. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến thời gian sinh trưởng của Cây men
(Mosla dianthera) 26

4.1.2. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của
Cây men (Mosla dianthera) 27

4.1.3. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến tốc độ ra lá của Cây men rượu
(Mosla dianthera) 28

4.1.4. Ảnh hưởng của thời vụ đến chiều cao cây, số lá, số cành, đường kính cây và


4.3.4. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây, số lá, số cành, đường kính và
năng suất của Cây men 37

4.4. Kết quả xây dựng mô hình 39

4.5. Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế của Cây men 41

PHẦN 5
.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1. Kết luận 43

5.1.1. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
Cây men (Mosla dianthera) 43

5.1.2. Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
Cây men (Mosla dianthera) 43

5.1.3. Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất Cây men
(Mosla dianthera) 43

5.1.4. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn quy trình canh tác Cây menmới 44
5.2. Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Đồ uống nổi bật và biết đến nhiều nhất là rượu, bất cứ nơi đâu, bất cứ
cộng đồng người sinh sống ổn định nào cũng có những đồ uống được gọi là
rượu. Rượu có thể được làm bằng nhiều cách khác nhau nhưng đều phải trải
qua một công đoạn đó là lên men. Đây là quá trình diễn ra phức tạp, bao gồm
các quá trình sinh hóa học có sự tác động của các vi sinh vật. 2
Thông thường men được làm bằng cách cấy các loại nấm sợi (nấm
men) lên giá thể, thường là bột gạo hay bột mỳ. Men có thể dùng ngay hoặc
được lưu giữ dưới dạng bánh men để dùng lâu dài. Trong giá thể men, ngoài
bột gạo hay bột mỳ thì thường được cho thêm một số loại cây cỏ khác. Các
cây cỏ này có thể giúp cho quá trình len men của rượu tốt hơn, bảo quản men
tốt hơn hoặc có thể tạo ra các mùi vị đặt trưng cho các loại rượu.
Trên thế giới ngày nay, hình thức lên men rượu chưa có sách nào thống kê
hết, vì nước nào cũng có công thức riêng để chế biến, nhưng tóm lại công thức
đa phần từ thực vật, trong đó người ta có thể dùng hạt ngũ cốc, có nơi dùng trái
cây chín ủ men và thậm chí nấm lên men từ hạt để tạo men trực tiếp. Đó chính là
điều giải thích vì sao có sự đa dạng trong vị và mùi của rượu trên thế giới.
Nước ta có nghề trồng lúa lâu đời, việc làm men rượu cũng từ đó mà
phát triển. Từ xa xưa người Việt cổ đã từng biết cất nước dừa và nước gạo để
làm rượu, có thể nói rằng đây chính là những bước đầu tiên trong quá trình
nhen nhóm việc hình thành công thức làm men của dân tộc ta.
Làm men rượu lá là một truyền thống của người dân Việt nói chung
cũng như cộng đồng các dân tộc thiểu số nói riêng. Đây là sản vật, đồng thời là
"bí quyết" lâu đời của người dân địa phương để làm ra đặc sản rượu men lá êm
dịu, thơm nồng, là nét văn hoá riêng trong ẩm thực của các cộng đồng dân tộc.

men lá có chất lượng cao. Xuất phát từ thực tiễn trên nên chúng tôi đã tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác Cây men (Mosla
dianthera) tại huyện NaRì, tỉnh Bắc Kạn”.
1.2. Mục đích của đề tài
Xác định được thời vụ gieo trồng, khoảng cách trồng và công thức phân
bón Cây men thích hợp nhất, nhằm đạt được năng suất cao, chất lượng tốt, đáp
ứng được nguồn nguyên liệu sản xuất bánh men cho các hộ nấu rượu bằng men
lá cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh.
1.3. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của Cây
men (Mosla dianthera) qua thời vụ gieo trồng khác nhau để xác định được
thời vụ gieo trồng Cây men thích hợp nhất.
- Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của Cây
men(Mosla dianthera) ở các khoảng cách trồng khác nhau để xác định được
mật độ trồng Cây men thích hợp nhất.
- Xác định được khả năng sinh trưởng và năng suất của Cây men(Mosla
dianthera) ở các công thức phân bón khác nhau để xác định được công thức
phân bón thích hợp nhất.
- Xây dựng được mô hình trình diễn quy trình canh tác Cây men, nhằm
áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.
4

1.4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để gây trồng Cây men ra diện rộng góp
phần bảo tồn và phát triển Cây men, nâng cao năng suất và chất lượng Cây
men; bảo vệ sự đa dạng sinh học của Cây men ở Na Rì - Bắc Kạn nói riêng và

nên men rượu.
Hiện nay, người dân đã biết trồng Cây men ở vườn, đồi gần nhà nhưng
chủ yếu là gieo trồng tự nhiên nên năng suất và chất lượng không cao. Để
phát triển rượu được làm từ men lá cung cấp cho thị trường, trở thành hàng
hóa có giá trị cao nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng
miền núi th: công việc tiên quyết là làm bánh men lá có chất lượng cao. Vì
vậy, việc nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác Cây men (Mosla
dianthera) nhằm xác định được thời vụ gieo trồng, mật độ trồng, công thức
phân bón thích hợp giúp người dân mở rộng diện tích cây nguyên liệu đưa
vào sản xuất là việc làm cần thiết.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển
ngành nghề nông thôn, tỉnh Bắc Kạn đã xây dựng đề án về một số chính sách
hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã, phát triển làng nghề giai đoạn
6

2007- 2010, 2010 - 2015 trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó đã đề ra mục tiêu
phát triển làng nghề nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của các địa phương về
ngành nghề nông thôn, thu hút và tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa nhiều
“nhà” cùng tham gia phát triển ngành nghề nông thôn bền vững. Góp phần
bảo tồn giá trị truyền thống, tạo ra bản sắc mới trong các sản phẩm theo
hướng kết hợp giữa văn hóa truyền thống với văn hóa hiện đại.
Rượu Bó Nặm của nhà máy chế biến rau quả nước giải khát thuộc
Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn được chiết suất từ rượu ngô men lá
của đồng bào Dao, ở một số thôn bản thuộc huyện Ba Bể. Để mở rộng sản
xuất, Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn đã lắp đặt dây chuyền chiết suất
rượu với công suất là 3.000 lít/ngày, với công suất này cần một lượng rượu

vùng miền núi phía Bắc.
Ở rất nhiều nơi trên nước ta có truyền thống làm rượu men lá, các cây
dùng làm men lá đang ngày càng cạn kiệt trước tình trạng thu hái của người
dân. Hiện nay, rượu men lá được người tiêu dùng ưa thích nên người dân đã
trồng nhiều Cây men lá để tiến hành thu hái và chế biến được thuận lợi. Ở
Lạng Sơn, Hòa Bình, Bắc Kạn tiến hành trồng và nhân giống Cây men rượu
quý hiếm này.
Ngoài ra, Cây mencòn liên quan đến phát triển ngành nghề nấu rượu
men lá ở Việt Nam nói chung, ở các tỉnh trung du và miền Bắc nói riêng.
2.4. Những nghiên cứu về Cây men trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất Cây men trên thế giới
Thảo dược thiên nhiên hiện đang không ngừng được nghiên cứu cải tiến
bằng công nghệ chế biến dược phẩm hiện đại làm gia tăng hiệu quả chữa bệnh và
tăng cường sức khoẻ cho con người. Hàng loạt những chiết xuất từ thảo dược
đang làm thay đổi tư duy và bộ mặt của ngành dược học và chăm sóc sức khoẻ.
Khuynh hướng phát triển sản phẩm dược hiện nay là sự giao thoa hai chiều
giữa khoa học kỹ thuật của phương Tây và kinh nghiệm và những nguyên lý kinh
dịch phương Đông trong dược học và kiến thức về sức khoẻ. Tỷ trọng các sản
phẩm Đông dược tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam càng ngày
càng chiếm tỷ trọng cân bằng hoặc cao hơn sản phẩm dược xuất xứ từ các nước
phương Tây.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá, 80% dân số trên thế giới dựa
vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu,
trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ (WHO, IUCN & WWF, 1992). Thực tế cho
thấy vấn đền này cũng ngày càng phổ biến ở cả các nước phát triển, nhất là trong
20 năm gần đây. Việc trở về với tự nhiên hay sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
8

Hiện nay Whisky Scotland được sản xuất với số lượng nhiều và có thể
nói là lâu đời nhất. Phần cất từ mạch nha là nền tảng của Malt-Whisky từ
9

Scotland mà trong đó mạch nha thường còn được hun khói bằng than bùn. Lúa
mạch đã nẩy mầm được hong khô trong một lò gọi là kiln. Nếu được hong khô
bằng cách dùng than bùn Whisky có phảng phất hương khói. Độ hương khói
được biểu thị bằng nồng độ ppm (parts per million) của phênol. Scotch Whisky
khi được sản xuất trong một lò chưng cất tại Scotland, có ít nhất 40 phần trăm
thể tích rượu và được trữ ít nhất là 3 năm tại Scotland trong những thùng làm từ
gỗ sồi có niêm phong của thuế quan. Thời gian trữ thông thường là 8 đến 12
năm nhưng cũng có thể kéo dài đến 15, 20, 25, 30 và 50 năm.
Các loại rượu truyền thống khác của Nhật Bản mà đứng hàng đầu là
rượu Sake Nada của tỉnh Hyogo. Lịch sử phát triển của Sake gắn chặt với các
mặt của đời sống Nhật Bản, sake vẫn là thứ đồ uống truyền thống phổ biến và
được nhiều người ưa thích trong các dịp lễ quan trọng hoặc khi ngắm vẻ đẹp
của thiên nhiên, Người Nhật bắt đầu làm rượu Sake vào khoảng thời gian sau
khi người ta bắt đầu trồng lúa nước vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Quy
trình sản xuất rượu sake hầu như không thay đổi trong vòng 400 năm qua. Vị
của rượu sake tuỳ thuộc vào chất lượng của các thành phần cơ bản là gạo và
nước, chất lượng của men, điều kiện thời tiết khi ủ rượu. nhưng quan trọng là
men được sử dụng từ nhiều loài thực vật có nguồn gốc từ thiên nhiên hoang
dă nay đã được thuần chủng và trồng ở một số vùng nhất định với các biện
pháp kỹ thuật canh tác, thu hái và bảo quản phức tạp hơn nhiều loài cây khác.
Rượu Mao Đài sản xuất với nguồn nguyên liệu chính là cao lương đặc
sản của vùng lúa mạch; áp dụng phương thức ủ men mang tính khoa học với
công nghệ sản xuất truyền thống đã tạo nên tính độc đáo đặc trưng của sản

siamensis), Gừng (Zingiber officinale), rễ của loài Cam thảo (Glycyrrhira
glabra), và hoa của loài Piper chaba (Krisanamaravisit, 1951). Men làm rượu
của Thái lan được trộn thêm: Tỏi (Allium sativum), Hạt tiêu (Piper nigrum),
thân ngầm của loài Giềng xiêm (Apinia siamensis), Gừng (Zingiber
officinale), rễ của loài Myriopteron extensum, hoa của loài Piper chaba và
Hành tím (Allium ascalonicum) (Stitnimagarn, 1950).
Đa số các nước sản xuất rượu bằng men vi sinh, nông sản nên ít công trình
nghiên cứu về rượu men lá, cũng như Cây men lá. Hiện nay, Việt Nam và Trung
Quốc có công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Suốt một thời gian dài sinh sống cạnh đất nước Trung Quốc, một quốc
gia lớn, đông dân và có một nền văn minh lâu đời. Chúng ta cũng đã chứng
kiến sự ra đời của bao phát minh vĩ đại của đất nước hùng cường này, đặc biệt
là nghệ thuật nấu rượu. Chính đây đã được mệnh danh là nơi có một lượng
men rượu dài nhất thế giới…Theo Tửu mục trung thư của nhà xuất bản Thư
Kinh của Trung Quốc thì chỉ tới cuối năm 1989, toàn đất nước Trung Hoa có
đến gần 7000 cách lên men rượu, trong đó có hơn 6000 cách lên men bằng
11

thực phẩm từ gạo, lúa mì, khoai, củ, hạt bắp, lúa mạch… và cả lá cây, vỏ cây,
rễ cây lẫn cả nhựa cây. Đặc biệt còn có một số công thức dựa vào động vật và
khoáng thạch v.v…
2.4.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất Cây men rượu ở việt Nam
Cây men được coi là cây dược liệu quý vì thế nó có vị trí và vai trò khá
quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các hộ gia đình vùng miền núi
phía Bắc.
Chỉ thị 210-TTg/VG ngày 6/12/1966 của chính phủ về việc khai thác
và phát triển cây làm thuốc và động vật làm thuốc đã khẳng định “Dược liệu ở

Hiện nay số lượng loài cây được sử dụng làm men rất phong phú và đa
dạng ở các vùng miền, theo thống kê của Đặng Kim Vui và cs (2010) [20]
trong điều tra các loài cây làm men rượu năm 2010 cho thấy. Các loài cây chủ
yếu làm bánh men tại vùng núi Tây Bắc Việt Nam như:
Tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Lao Cai gồm các loài cây chính: Riềng
(Anpinia galanga(L.)willd), Bưởi bung (Citrut grandis (L.) Osbeck ), Ớt chỉ
thiên (Tabernaemontana borina Lour.), Gừng (Zingibert officinal Rosc) và
cơm rượu (Glycosmis pentaphylla (Retz.) Correa.)
Các tỉnh phía Bắc Việt Nam: tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hà Giang
thường sử dụng các loài chính làm men rượu: Riềng (Zingibert officinal
Rosc), Lá men (Uvaria calamistrata Hance.), Cúc đồng tiền dại (Gerbera
piloselloides (L.) Cass.), Cúc hoa xoắn (Inula cappa (Buch-Ham. ex D.
Don)DC.), Thuỷ ma (Pilea sp), Cây men (Mosla dianthera (Buch-Ham.)
Maxim.), Xuyên tiêu (Zanthoxylum nitidum (Rosb.) DC.) và cây Bù dẻ lá lớn
(Uvaria cordata (Dunal). Wal. ex Anston.)
Ở Việt Nam, rượu men lá được nhiều người tiêu dùng ưa thích và tin
dùng. Nhiều tỉnh thành trên cả nước là nơi sản xuất ra rượu men lá nổi tiếng
như Hòa Bình, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Kạn.
Các loại cây được sử dụng làm men lá gồm:
- Cây Xài diệp (tiếng Nùng, tiếng phổ thông: Lá men): Lấy cả cây và lá.
- Ba kích: Là cây dây leo bằng thân quấn, sống nhiều năm. Ngọn có
cạnh, màu tím, có lông, khi già thì nhẵn. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục
thuôn nhọn. Hoa nhỏ tập trung thành tán ở đầu cành, lúc mới nở màu trắng,
sau hơi vàng; tràng hoa liền ở phía dưới thành ống ngắn. Quả hình cầu có
cuống riêng rẽ, khi chín màu đỏ. Mọc hoang ở miền núi, nơi ẩm ướt dọc hai
bên bờ khe suối. Bộ phận sử dụng: củ.
- Sâm rừng: hay còn gọi là Sâm nam. Cây thảo mảnh, dễ gãy. Hoa
thành chuỳ thưa, ở ngọn, mà các nhánh cuối mang một tán với 4-5 hoa có
cuốn. Quả xoan thuôn. Bộ phận sử dụng: lấy củ.
13

dân và các cơ sở sản xuất rượu làng nghề truyền thống như Mẫu Sơn, San
Lùng, Bó Nậm, Thanh Vân. Nghiên cứu gần đây tại Lạng Sơn (Nghiên cứu về
men rượu năm 2005) đã cho thấy do bị khai thác quá nhiều nên các loài cây
làm men ngày một ít đi, nếu không có biện pháp bảo tồn, sử dụng hợp lý thì
các loài này có nguy cơ tuyệt chủng. Qua khảo sát nhanh ở Mẫu Sơn cho thấy
14

người dân địa phương thường dùng khoảng 10 loài cây khác nhau để làm
men, một số khác dùng nhiều hơn 10 cây, một số người lại dùng ít hơn nhưng
trong đó thường có một loại cây là cây chính còn các cây khác là cây bổ xung
tương tự như các vị thuốc nam.
Việc sử dụng cây cỏ làm men nấu rượu của đồng bào dân tộc thiểu số
là một nét đặc trưng văn hóa lâu đời. Rượu nấu bằng men lá có nhiều ưu điểm
đó là không độc hại, theo cách nói của người dân đó là không gây đau đầu
cho người sử dụng. Thực chất dùng men từ cây cỏ rõ ràng an toàn hơn so với
men hóa học, hơn nữa theo đồng bào thì các cây dùng làm men đều là những
cây thuốc. Do những đặc tính đó mà các loại rượu men lá hiện nay rất được
ưa chuộng trên thị trường. Tuy nhiên hiện nay người dân, đặc biệt là các công
ty sản xuất rượu men lá chỉ chú trọng vào khai thác các loại cây về chế biến,
chưa chú ý đến gây trồng cho nên các loài cây dùng làm men rượu đang trở
nên cạn kiệt, khan hiếm. Ở nhiều địa phương rượu men lá đã trở thành sản
phẩm du lịch đặc trưng mang lại lợi ích kinh tế cao cho người dân và chính
quyền địa phương như ở rượu Mẫu Sơn, Lạng Sơn, rượu San Lùng ở Lào Cai.
Rượu đặc sản từ lâu đã là niềm tự hào dân tộc của nhiều quốc gia trên thế
giới. Người ta không chỉ biết đến hương vị độc đáo đặc trưng của nó, mà
thông qua cách thưởng thức rượu đặc sảndân tộc có thể tìm về cội nguồn văn
hóa của dân tộc ấy.

Trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Đỗ Tất Lợi
(2001) [14 ],đã chỉ ra một số loài cây có thể được dùng trong việc sản xuất
men rượu như: Hạt Nhục đậu khấu (Myristica fragrans Houtt), thân cây Bạch
truật (Atractylodes macrocephala Koidz), vỏ Quế (Cinnamomum cassia
Presl), hạt Thảo quả (Amomum aromaticum), rễ Cam thảo (Glycyrrhira
uralensis Fish), lá Bạc hà (Mentha arvensis L.), rễ và lá Tế tân (Asarum
sieboldii Miq.), thân cây Nghệ (Curcuma longa L.), hoa Tiêu hôi (Foeniculum
vulgare Miller), hoa Đinh hương (Syzygium aromaticum L.).
Nguyễn Kim Dung (2000),[5]đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của 10 loài
thảo dược tới sự sinh trưởng của nấm mốc và nấm men trong men rượu. Kết
quả cho thấy Tiểu hồi (Foeniculum vulgare Miller) và Đinh hương (Syzygium
aromaticum L.) có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của nấm mốc và nấm
men. Trong thực tế sản xuất những dược thảo này cũng được sử dụng phổ
biến như là thành phần thuốc thảo mộc có tác dụng ức chế sự phát triển của
các vi sinh vật không có ích.
16

2.4.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất Cây men ở tỉnh Bắc Kạn
Là tỉnh vùng cao, điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng ở Bắc Kạn phù hợp
cho nhiều loài cây dược liệu quý sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, việc
quản lý, khai thác, sử dụng còn nhiều hạn chế, làm cho nguồn tài nguyên này
đang ngày càng cạn kiệt, thậm chí có những loại cây đứng trước nguy cơ
tuyệt chủng.
Trong các loài cây người dân sử dụng làm bánh men rượu tại khu vực
tỉnh Bắc Kạn gồm 54 loài chính thu thập được ở 4 huyện: Ba Bể, Pác Nặm,
Chợ Đồn và Na Rì.
Các loài cây không thể thiếu trong thành phần bánh men các loài:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status