triết lý nhân sinh trong tây du ký - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRỊNH VĂN ĐỒNG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TÂY DU KÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2000



Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký

MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 3
LỜI CẢM TẠ .................................................................................................................... 6
PHẦN DẪN NHẬP ........................................................................................................... 7
1.LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ............................................................................. 7
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................................................ 9
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 11
3.1.PHƯƠNG PHÁP CẤU TRÚC - HỆ THỐNG ............................................................. 11
3.2.PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI, SO SÁNH ................................................................. 11
3.3.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, TƯỜNG THUẬT ..................................................... 11
3.4.VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ THI PHÁP................................................................. 12
4.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ........................................................................................... 12
5.KẾT CẤU LUẬN VĂN ....................................................................................................... 12

CHƯƠNG MỘT: KHÁI QUÁT TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ NỘI DUNG TÁC
PHẨM TÂY DU KÝ ....................................................................................................... 14

2.3.4.TAM TẠNG MẤT ÁO CÀ SA ................................................................................. 55
2.3.5.NGỘ KHÔNG CẦU BỒ TÁT CỨU CÂY NHÂN SÂM ......................................... 56
2.3.6.CỨU VỚT CHÚNG SINH ........................................................................................ 58
2.3.7.NGỘ KHÔNG DIỆT BẢY YÊU TINH .................................................................... 61
2.3.8.ĐƯỜNG VÀO XỨ PHẬT ........................................................................................ 63
2.3.9.LĨNH KINH KHÔNG CHỮ ..................................................................................... 67

CHƯƠNG BA:TÍNH NHÂN SINH TRONG TÁC PHẨM TÂY DU KÝ ................ 72
4


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
3.1.GIÁ TRỊ NHÂN SINH THỂ HIỆN TRONG CÁC NHÂN VẬT .................................. 72
3.1.1.TÔN NGỘ KHÔNG .................................................................................................. 72
3.1.2.TRẦN HUYỀN TRANG........................................................................................... 76
3.1.3.TRƯ BÁT GIỚI......................................................................................................... 79
3.1.4.SA TĂNG VÀ LONG MÃ ........................................................................................ 82
3.1.5.YÊU TINH VÀ THÁNH THẦN ............................................................................... 83
3.2.GIÁ TRỊ NHÂN SINH QUA HÀNH ĐỘNG .................................................................. 86
3.2.1.NGỘ KHÔNG CHĂN NGỰA .................................................................................. 86
3.2.2.CUỘC NỔI LOẠN CỦA NGỘ KHÔNG ................................................................. 87
3.2.3.NGỘ KHÔNG MỘT MÌNH HỘ TỐNG TAM TẠNG VÀ THU NHẬN ĐỒ ĐỆ ... 90
3.2.4 LÒNG TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO CỦA NGỘ KHÔNG ............................................ 93
3.2.5.NGỘ KHÔNG MỘT TAY CHE TRỜI...................................................................... 94
3.2.6.TAM TẠNG BAO LẦN MÙ QUÁNG ..................................................................... 96
3.2.7.TRÊN ĐẤT PHẬT .................................................................................................... 98
3.3.GIÁ TRỊ THƯỞNG THỨC TÁC PHẨM ....................................................................... 99

KẾT LUẬN ................................................................................................................... 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 112

Tây Du Ký là một trong số những tiểu thuyết thời Minh (1360 -1640), Thanh (1641-1911)
đạt giá trị to lớn, có vị trí xứng đáng trong nền văn bọc cổ điển-Trung Quốc. Phạm vi ảnh
hưởng, tiếng vang của tác phẩm Tây Du Ký lan rộng không chỉ ở Trung Quốc mà vượt biên 4
giới với phép "cân, đẩu vân - đi mây về gió" rẽ sóng, bay cao đến các nước trong khu vực như
Nhật Bản, Triều Tiên... Ở Việt Nam, từ lâu hình tượng các nhân vật biến hoá thần thông như
Tôn Ngộ Không; háu ăn, hám sắc như Trư Bát Giới; một lòng sắt son bái Phật cầu kinh như
Đường Tăng; bền bỉ đường dài, gánh vác hành lý cho cả đoàn, không một lời oán thán như Sa
Tăng đã thấm sâu tâm tưởng nhiều tầng lớp nhân dân từ người lao động bình dân đến các bạn
tuổi còn rất trẻ.
Có thể nói, Tây Du Ký từ lâu đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa các dân tộc
Đông Nam Á. Nhắc đến Tây Du Ký, là người ta nghĩ ngay đến Tề Thiên Đại Thánh, Trứ Bát
Giới, Đường Tăng, Sa Tăng... Cũng như nhiều tác phẩm nổi tiếng khác của Trung Quốc như
Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng... Tây Du Ký với tính hấp dẫn của mình đã
cuốn hút biết bao nhiêu thế hệ người đọc, được xem như là đại diện cho nền văn học cổ đại
Trung Hoa. Cũng nhờ những giá trị độc đáo đó mà từ lâu văn hóa Trung Quốc được nhìn nhận
như cái nôi văn hóa phương Đông. Hơn nữa, ngày nay, theo đà tiến bộ của xã hội, văn hóa
nghệ thuật đã có một sự chuyển biến, có ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống văn hoá của nhân
loại. Khoa học nghiên cứu văn học đã có sự chuyển biến mạnh mẽ nhằm tịếp cận những giá trị
đích thực trong việc thưởng thức và tiếp nhận. Bằng thực tế nghiên cứu cùng những hướng tiếp
cận mới, mở ra nhiều khả năng trong việc đi sâu, phát hiện và lý giải những vấn đề mới trong
cùng một tác phẩm. Trên tinh thần đó, nghiên cứu những ảnh hưởng tới tác phẩm. Tây Du Ký,
ta không thể nào phủ nhận sự ảnh hưởng sâu sắc của đạo Phật tới tác phẩm, nhất là những
phạm trù triết lý. Thật vậy, Phật giáo du nhập vào Trung Quốc bằng con đường hoà bình tự
thân “hữu xạ tự nhiên hương” với tư tưởng: khổ, không, vô thường, vô ngã, niết bàn, luân hồi,
báo ứng... chiếm một vị trí trong đời sống văn hoa mang đậm màu sắc nhân sinh. Tư tưởng
Thích Ca xuất phát từ Ấn Độ khi du nhập vào Trung Quốc góp phần đóng góp trào lưu tư
7


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký

Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
được thăng hoa trong trí tưởng tượng của tác giả. Vì vậy, chúng tôi luôn cố gắng lần theo quá
trình sáng tạo của nhà văn từ quan niệm cho tới cách thể hiện tư tưởng để làm rõ giá trị triết lý
nhân sinh của tác phẩm.

2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, từ khi ra đời đến nay đã được đông đảo người đọc đồng
tình và mến mộ. Hình tượng các nhân vật trong tác phẩm với những phép biến hóa màu nhiệm
“đi mây về gió, cân đẩu vân, thoắt biến thoắt hiện - rẽ nước xuống Long cung - đại náo thiên
cung” luôn thu hút sự thích thú, gợi cảm giác thư giãn cho mọi tầng lớp, mọi đối tượng độc giả.
Triết lý nhân sinh được tác giả gởi gắm một cách ý nhị, kín đáo và thật sầu lắng trong tác phẩm
luôn là vấn đề thời sự. Việc nghiên cứu tác phẩm Tây Du Kí từ lâu đã được nhiều vị hộc giả tên
tuổi từ Đông sang Tây bỏ nhiều công sức tìm hiểu với nhiều thành tựu có giá trị. Tìm hiểu
trong giới nghiên cứu tác phẩm này ở Việt Nam cố các tác giả như Giáo sư Lương Duy Thứ,
Giáo sư Trần Xuân Đề, Giáo sư Phan Ngọc, Tiến sĩ Hồ Sĩ Hiệp ... các nhà nghiên cứu có tên
tuổi như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Huy Khánh, Nguyễn Quân, Ngô Nguyên Phi, Lê Anh Dũng
... và nhiều người khác, đã có nhiều công trình có thể xem là di sản quý, cần được ghi nhận và
kế thừa. Qua đó, chúng tôi cũng đã có sự chắc lọc, tìm tòi để làm rõ hơn triết lý nhân sinh trong
tác phẩm này. Đó cũng chính là mục đích nghiên cứu của đề tài này, là tìm đến những triết lý
nhân sinh trong tác phẩm một hướng tiếp cận mang tính chuyên sâu cần được định hướng rõ
nét hơn.
Trong quá trình thu thập, tìm hiểu, đọc nhiều tài liệu tham khảo có liên quan tới đề tài,
chúng tôi nhận thấy các bài viết của tập thể tác giả thuộc Sở-nghiên cứu văn học thuộc Viện
khoa học xã hội Trung quốc, phần nghiên cứu của các giáo sư Việt Nam Lương Duy Thứ, Trần
Xuân Đề ...đã gợi mở cho việc tìm hiểu đề tài triết lý nhân sinh trong tác phẩm Tây Du Ký. Cụ
thể như:
• Trong “Sơ lược lịch sử phát triển của tiểu thuyết Trung Quốc”, Lỗ Tấn đã nêu lên lên
những điểm đặc sác mới mẻ trong miêu tả nhân vật của Tây Du Ký. Ông nhấn mạnh “Trên mặt
đất vốn không có đường, do người đi mà thành đường” từ đó mồ ra một hướng đi mới cho việc
tìm về những giá trị sáng tạo văn học.

trình nghiên cứu riêng. Vì vậy, với tất cả sự cố gắng của mình, cùng những ý tưởng đã được
10


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
các vị học giả đi trước khám phá, chúng tôi cố gắng tìm tòi, nhằm đưa ra những minh chứng
mới, phục vụ cho chủ đề chính của đề tài: Triết lý nhân sinh trong tác phẩm Tây Du Ký.

3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt mục đích và đối tượng nghiên cứu tìm hiểu triết lý nhân sinh trong tiểu thuyết thần
thoại tích cực Tây Du Ký trên đây, luận văn chúng tôi sẽ thực hiện các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
3.1.PHƯƠNG PHÁP CẤU TRÚC - HỆ THỐNG
Tác phẩm Tây Du Ký là một hệ thống, một chỉnh thể nghệ thuật được đan cài, kết nối
xuyên thấm vào nhau thông qua các tình tiết hấp dẫn và các sự kiện li kỳ đầy sức thuyết phục.
Luận văn đi sâu xem xét đặc điểm cấu trúc - các sự việc hiện tượng trong chỉnh thể tác phẩm.
Tìm hiểu các mối quan hệ ở góc độ triết lý nhân sinh gắn bó với hình thức cấu trúc và nội dung
tác phẩm Tây Du Ký. Và như thế, phương pháp cấu trúc có đủ khả năng tiếp cận giá trị nội
dung Tây Du Ký giúp cho việc đánh giá tiếp nhận tác phẩm được dễ dàng.
3.2.PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI, SO SÁNH
Xuất phát từ mục đích tìm hiểu triết lý nhân sinh, luận văn đi vào khảo sát các biểu hiện
triết lý nhân sinh ở từng cấp độ khác nhau. Mỗi cấp độ như vậy sẽ gắn với từng diễn biến, từng
hành trình của mỗi nhân vật, mỗi sự kiện trong tác phẩm.
Việc chia, tách các cấp độ này là rất cần thiết giúp cho việc phân loại so sánh, tổng hợp,
cân nhắc kịp thời đưa ra những kiến giải xác đáng hợp lý. Trong khi tiếp cận các sự việc, ở
từng nhân vật ổ một số khía cạnh tiêu biểu, bình diện lại rút ra đặc điểm triết lý nhân sinh.
3.3.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, TƯỜNG THUẬT
Với phương pháp phân tích, tường thuật, bằng tường thuật và miêu thuật lại tiếp tục chia
tách ở các cấp độ, nhân vật chính diện, phản diện. Mỗi cấp độ lại đặt ra tìm hiểu biểu hiện của
giá trị nhân sinh. Trong từng cấp độ kịp thời đưa ra ý nghĩa nhân sinh riêng biệt.

Ngoài phần mở đầu (7 trang) và phần kết luận (4 trang), nội dung của luận văn được sắp
xốt thành ba chương như sau:


Chương một: Khái quát một số triết lý nhân sinh và nội dung tác phẩm Tây Du
Ký.(30 trang)
12


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký


Chương hai: Tính triết lý trong tác phẩm Tây Du Ký (41 trang)



Chương ba: Tính nhân sinh trong tác phẩm Tây Du Ký và việc thưởng thức tiếp
nhận (38 trang)



Tài liệu tham khảo (5 trang)

Phần chú giải trong luận văn được trình bày theo quy ước như sau [stt:str], với stt là số
thứ tự của tài liệu trong phần tài liệu tham khảo, còn STT là số trang của phần trích dẫn trong
tài liệu đó.

13



ham muốn (Samudaya-tập). Tất cả sự vật hiện tượng trên thế gian này đều là vô ngã vô thường,
nhưng con người bởi sự mê lầm, cho mọi cái là thường định nên mới nảy sinh ra những luyến
ái, đục vọng, thúc đẩy ta hành động theo đuổi những ham muốn vật chất, tiền tài danh vọng
vốn là những cái hư ảo, đã tạo nên những nghiệp báo, làm con người chìm ngập trong những
nỗi thất vọng, đau khổ hết kiếp này sang kiếp khác. Vì vậy một khi chúng ta cố gắng diệt được
lòng dục (Nirodha) thì chúng ta sẽ tìm thấy được con đường giải thoát (Đạo - Marga). Cuộc
sống của chúng sinh chính là một chuỗi nhân quả và nghiệp báo (Karman) mà con người ta
phải gánh chịu và trả giá. Nhưng nếu một khi đã tĩnh tâm giác ngộ thì chúng ta sẽ có thể tiến
tới tiêu-đích cuối cùng của sự giải thoát, đó là cõi Niết Bàn (Nirvana).
Do đó, giáo lý căn bản của đạo Phật tập trung chủ yếu vào tư tưởng giải thoát cho mọi
chúng sinh ra khỏi bể khổ cuộc đời. Theo Phật, khi người ta được giải thoát, cũng chính là khi
con người đạt tới sự siêu thoát, nghĩa là họ đã vượt lên trên sự trói buộc của thế giới trần tục,
thoát khỏi sự chi phối của thế giới trần tục, vượt lên trên sự, trói buộc của dục vọng, sanh tử,
phiền não, sống hoan toàn thanh thoát, tự tại, là đạt tới thể không tịch.
Sở dĩ các giáo lý của Phật giáo có một sức hút kỳ lạ là do những khái niệm về Tứ Diệu Đế
(khổ, tập, diệt, đạo). Theo đó đời là bể khổ mà nguyên nhân do chúng sinh bị ràng buộc quá
nhiều vào dục. Để thoát khổ, phải diệt dục, mà muốn diệt trừ tận gốc các ham muốn thái quá thì
phải thực hành đạo. Ngoài ra còn ba khái niệm “chư hành vô thường”, “chư pháp vô ngã”,
“Niết bàn tịch diệt” trong tam pháp là bạ nguyên lý cơ bản nhất của nghĩa học Phật giáo. Tuy
nhiên, Phật giáo đi vào lòng người sâu sắc nhất lại chính là do thuyết thiện ác nhân quả. Do e
sợ việc ác giả ác báo, nhân quả nhãn tiền mà con người trở nên hướng thiện hơn. Thuyết này có
ảnh hưởng rất sâu sắc tới truyền thuyết, tiểu thuyết không chỉ ở Trung Quốc mà ở tất cả các
nước chịu ảnh hưởng của đạo Phật.
1.1.2.TRIẾT LÝ NHO GIÁO
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) là người đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, với
tư cách cá nhân, đã dạy cho một số đông học trò khi họ theo ông chu du từ xứ này sang xứ
khác. Khổng Tử tên là Khâu, tự Trọng Ni, là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi
15





Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
phải có những trách nhiệm và bổn phận phụ hợp với danh ấy đó, là thuyết chính danh của
Khổng Tử. Với học thuyết này, Khổng Tử đã chia xã hội thành những mối quan hệ chính như
vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè, trong đó, đạo quân thần, nghĩa cha con “quân xử
thầntử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu”, Tây Du Ký cũng chịu ảiih
hưởng lớn bồi tư tưởng này. Còn về đạo đức mỗi cá nhân, thì Khổng Tử nhấn mạnh đến nhân
nghĩa, nhất là nhân. Trong xã hội, mọi người đều có những điều phải làm, làm nhiệm vụ vì
nhiệm vụ, bởi vì những điều ấy đáng phải làm về phương diện luân lý. Nếu làm nhiệm vụ vì lý
do khác, không vì luân lý thì hành vi ta không hợp nghĩa, dẫu cho ta có làm tròn bổn phận Nói
theo Khổng Tử và các hậu Nho, thì lúc đó ta chỉ hành động vì “lợi”. Với nhà Nho, “nghĩa” và
“lợi” là hai từ hoàn toàn đối lập nhau. Khổng Tử đã nói: “Quân tử biết rõ về nghĩa. Tiểu nhân
biết rõ về lợi”, ấy là điều mà Nho gia gọi là “phân biệt nghĩa và lợi”, sự phân biệt mà họ cho là
tối quan trọng trong việc giáo dục đạo đức. Một tư tưởng quan trọng nữa của Nho giáo là sự
trung thứ. Nho giáo cho rằng muốn lập cho mình thì lập cho người; muốn cho mình nên thì
cũng lo cho. người nên. Nói khác đi: “hãy làm cho người điều gì mình muốn người làm cho
mình”. Đó là phương diện tích cực trong sự thi hành mà Khổng Tử gọi là “Trung'” hay tính
ngay thẳng đối với kẻ khác. Và phương diện tiêu cực, gọi là “thứ” hay lòng vị tha, được diễn tả
trong câu nói sau: “Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân”. Như vậy gọi là thi hành trung thứ. Ngoài ra,
để hành động cho đúng, người quân tử còn phải biết mệnh, tức là biết mình biết ta.
Do tư tưởng trung nghĩa của đạo Nho, các chính quyền phong kiến đã ra sức cổ động Nho
giáo, vì vậy, Nho giáo có một địa vị to lớn và ảnh hưởng rộng lớn đến xã hội phương Đông,
đặc biệt là ở Trung Quốc. Vì lẽ đó, tất cả các tác phẩm Trung Hoa cổ điển đều ít nhiều chịu ảnh
hưởng của tư tưởng Nho gia.
1.1.3.TRIẾT LÝ ĐẠO GIA
Đạo gia là một trong ba trào lưu triết học lớn trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Sự hình
thành và phát triển của Đạo Giáo gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà tư tưởng, tiêu biểụ nhất là
Lão Tử (khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên).
Lão tử được xem là ông tổ của đạo gia. Ông họ Lý, tên Nhĩ, tự là Đàm hay Bá Dương,

hoa nảy sinh các khác trong cái không cùng của vũ trụ.
Âm-Dương hai .từ của một khái niệm biến hoa hai yếu tố cùng tồn tại, độc lập, tương
phản, nhưng lại hoa đồng, lồng vào nhau mà không triệt nhau để sinh biến. Âm-Dương không
18


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
những dùng để biểu hiện trong thế giới hữu hình (từ vi mô -đến vĩ mô - thế giới hạt cấu trúc
của vật chất mà nó còn thể hiện trong cả thế giới vô hình (thế giới của tư duy, của tâm. linh,
cảm giác, tâm hồn ). Chính vì thế Âm-Dương có trong tất cả từ các hiện tượng đến bản thể vật
chất dù nó có trong tri giác hay không có trong tri giác.
Triết học Đông phương cũng quan niệm Trời là Dương, Đất là Âm. Đàn ông là Dương,
đàn bà là Âm. Trong cơ thể con người thì bề mặt trước là dương, mặt sau lưng là Âm, đối với
đàn bà; ngược lại đàn ông mặt trước là Âm, sau lưng là Dương. Đối với trái tim máu đưa đi từ
tim là Dương,, máu từ các mao mạch chuyển về tim là Âm. Như vậy trong dường (chủ Đương)
cũng có Âm và trong Âm (chủ Âm) cũng có dương.
Trong lĩnh vực vô hình và hình sắc, sức khỏe con người cũng biểu hiện tương sinh, tương
phản của Âm và Dương. Con người khoe mạnh, hoạt bát, sinh khí, sinh lực dồi dào, da sắc tươi
nhuần là sự biểu hiện qua Âm-Dương cân bằng hài hoa. Ngược lại người có nét mặt ủ ê. Da dẻ
tái mét xanh xao hay vàng khè là biểu hiện sự mất cân bằng Âm -Dương. Đó chính là trạng thái
Dương thác, Âm suy hay Dương thịnh, Âm suy. Đường Tăng ưa trầm tĩnh, thư thái- thiên về
Âm tính. Tôn Ngộ Không tính tình tả xung hữu đột không tự kiềm chế luôn mang trong mình
vòng kim cô thiên về Dương tính. Dương thái quá lấn át Âm cũng là bệnh, hoạn. lấy lại sự cân
bằng Âm-Dương nguyên lý, nguyên tắc xuyên thấu “Thiên-Địa-Nhân”. Âm-Dương là hai từ
Triết học cổ có nội hàm tính động và hàm xúc. Âm- Dương có mối quan hệ: Sự thành của
Dương là sự hủy của Âm, ngược lại, sự thành của Âm là sự hủy của Dương.
1.1.4.ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO, NHO GIÁO, ĐẠO GIÁO TỚI TÁC PHẨM TÂY
DU KÝ
Có một điều không ai phủ nhận, tác phẩm Tây Du Ký bắt nguồn từ câu chuyên đi Tây
Trúc thỉnh kinh của Đường Tam Tang. Như Giáo sư Trần Xuân Đề đã nhận xét: “Cốt truyện

non lấp bể nhưng vẫn không thể nào cõng Đường Tăng bay tới ngay Thiên Trúc được mà phải
ròng rã mười mấy năm trời rong ruồi gió bụi hồng trần. Chỉ tới khi tôi được Linh Sơn, chân
bước xuống thuyền Bát Nhã, Đường tăng mới trút được xác phàm thành bậc chân nhân siêu
thoát. Vì sao vậy, vì muốn được thần thông, tự do khai phóng thì phải từ bỏ xác phàm để tránh
mọi nhục dục. Cũng như truyện thâu phục Hồng Hài Nhi ở ba hồi 40, 41, 42. Hồng Hài Nhi có
một thứ vu khí đặc biệt là lửa mà nước không thể nào dập tật được. Trụyện kể: “Mưa sầm sập
trút xuống, nhưng không dập tắt nổi ngọn lửa của yêu quái, ma trái lại, khác nào lửa đổ thêm
dầu, càng mưa lửa càng bốc to”[36:139]. Lửa của Hồng Hài Nhi là thứ gì mà mà nước mưa
20


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
bốn biển cũng không thể dập tắt được, chỉ có Quan Âm Bồ Tát dùng bình tịnh thủy mới trị
được? Phật bảo trên đời có ba thứ độc (tham, sân, si). Trong đó sân có nghĩa là giận, mà giận
thì đi kèm với nóng nảy, nên Đức Phật ví giận như lửa. Đó chính là lý do vì sao Tây Du Ký
mới dựng chuyện Hồng Hài Nhi sở trường chơi lửa. Lửa gặp nước thì tắt nhưng lửa giận một
khỉ đã bốc lên thì khó mà kềm chế được. Chỉ có bình tịnh thủy tức nước thanh tịnh thì mới dập
tắt được. Quả vậy, chỉ có lòng thanh tịnh mới chế ngự được lửa giận.
Chúng ta cũng biết Phật giáo vốn có nhiều tông phái, nhưng Phật giáo trong Tây Du Ký là
Phật giáo Đại thừa được bộc lộ chính thức, rõ ràng, có tính mấu chốt trong tác phẩm. Đọc Tây
Du Ký, ở hồi thứ 12, Vua Đường Thái Tôn có lòng thành mở đại hội. Bấy giờ Huyền Trang là
pháp Sư lên đàn giảng kinh. Phật Quan Âm hiện thành một Bồ Tát già nói rằng giảng kinh Tiểu
thừa thì không siêu thoát. Vua Đường biết chuyện, bèn hỏi Quan Âm và Quan Âm bảo rằng
giảng kinh Đại thừa mới siêu thoát. Quan Âm cũng đã chỉ xứ sở có kinh Đại thừa là nước Tây
thiên. Sau đó, Huyền Trang vâng mệnh Vua đi thỉnh kinh ỏ Tây thiên. Chính vì lẽ đó, xuyên
suốt toàn tác phẩm là những tư tưởng giải thoát chúng sinh. Hồng Hài Nhi được giác ngộ thành
đồng tử, các yêu ma nếu không về với chủ cũ thì cũng được đi theo hầu Bồ Tát. Vì sao Bồ Tát
luôn hàng phục được các loài yêu má ác nghiệt? Chính là do tâm lập, tức là tâm đã vững vàng
thì thắng mọi lục đục thất tình,. Có thể nói, tác giả Tây Du Ký nếu không phải là người đắm
mình trong các tư tưởng siêu thoát của Đạo. Phật, không lĩnh hội được cái đạo thượng thừa vi

vậy, câu chuyện nấu Tề Thiên trong lò Bát quái là đầy ẩn ý. Tề Thiên là cái lý trí phàm phu
phân. Lão Quân đòi “giết” Tề Thiên trong lò Bát quái tức là dùng công phu thuyền pháp để diệt
cái tâm điên đảo. Tề Thiên nhờ núp ở cung Tốn bốn mươi chín ngày nên không chết, vì ở cung
Tốn “có gió mà không có lửa”. Bốn mươi chín ngày chưa phải là trọn vẹn quy trình hành pháp
của thiền gia nhưng cũng đã góp phần nào vào quá trình tu luyện. Bởi ảnh hưởng của đạo Lão,
nên tác giả muốn mọi người tin rằng lò bát quái nấu kim đơn của Lão Quân chính là lò lửa
luyện nên vàng mười; thân phàm phu huyết nhục qua trui luyện thành công sẽ trở thành kim
thân bất hoại. Mỗi con người đều có sẩn trong cơ thể một lò Bát quái, mang lò ấy để đi ngược
dòng thế tục, tìm về cõi Phật, thành Phật thành tiên.
Có thể nói, Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân mang rõ màu sắc tôn giáo và tín ngưỡng. Đối
với Phật giáo, đó là Phật giáo Đại thừa, có thỉnh kinh, tụng niệm, tu hành để giải thoát cho bản
thân và có thể phổ độ cho nhiều người khác, vì ai cũng có “ Phật tính”. Do vậy, nó có tinh thần
tích cực trong việc thâm nhập nhân gian, xã hội. Đối với Đạo giáo, Như Giáo sư Phan Ngọc đã
22


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
nói “đặc điểm khu biệt của nó là thuyết tu tiên vốn mượn từ” Đạo đức kinh ". Từ tu tiên, dần về
sau, các cá nhân được đề cao một cách say sưa huyền bí để đưa ra hai biện pháp: một là, tu
tiên để thành bất tử; hai là, lên đồng để tiếp xúc với thần linh”. Tuy nhiên, từ trong ý thức, tư
tưởng của Ngô Thừa Ân là tư tưởng Nho giáo, đó hình ảnh của triều đình Trung Hoa thật đồ sộ
mà bốn phương tám hướng đều quy thuận, ở đây là nước Đại Đường với quy mô cực kỳ đồ sộ,
quy tắc tôn ty chặt chẽ.
Cái tài của nhà văn là bằng cảm quan nghệ thuật riêng, tác giả đã phản ánh một tinh thần
dung hợp mang màu sắc phương Đồng được gọi là “Tam giáo đồng nguyên”. Trong tinh thần
dung hợp này, theo tôi, đối với tác giả Phật giáo đã chiếm một vị trí ưu trội hơn. Tuy nhiên,
Phật giáo cũng như Đạo giáo, Nho giáo không phải là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận
văn dày. Vả lại, không có một tôn giáo nào, kể cả Phật giáo, được thể hiện một cách đầy đủ
trong Tây Du Ký. Sự có mặt của tam giáo ở đây có tính cách như một cái nền, một điểm tựa để
nhà văn thực hiện một ý định nghệ thuật khác với một màu sắc khác, điều này như Giáo sư

ruộng vườn và bắt đầu hứng thú văn học.
Ngô Thừa Ân ngoài Tây Du Ký còn có Xạ dương tiên sinh tồn cảo do người đời sau biên
tập.
Ngô Thừa Ân xuất thân từ một gia đình sĩ hoạn sa sút, lưu lạc thành tiểu thương. Tiểu
thương thời đó không có địa vị xã hội. Ông đã thuật lại trong bài minh của mộ chí tiên phủ
quân về tình cảnh nhà ông bị quan lại dọa nạt. Có thể nói như lời nhận xét của Giáo sư Trần
Xuân Đề “ông có càng cảnh ngộ như hàng vạn hàng triệu người dân bần khổ trong xã hội
phong kiến”.[57:117] Ông gặp lắm nỗi gian truân trên đường khoa cử, tính tình cuồng phóng,
bướng bỉnh không chịu gập lưng cúi đầu trước đồng tiền, thế lực, nên bản thân tuy mang nặng
ý thức phong kiến, nhưng vết rạn nứt của ông với giai cấp thống trị khá sâu sắc. Do đó ông gửi
gắm hy vọng nhiệt tình vào hành động phản kháng của những nhân vật chính diện trong tác
phẩm Tây Du Ký. Từ ngày còn niên thiếu Thừa Ân rất thích đọc chuyện yêu ma quĩ quái.
Trong bài nói đầu của Vũ Đình Chí, ông viết: “ từ ngày còn nhỏ tôi rất thích những chuyện kì
quái, khi còn học ở trường, thường kiếm những truyện dã sử ở chợ búa, nhưng sợ cha thầy
mắng, tìm chỗ kín mà đọc. Đến lúc lớn càng thích đọc, thích nghe. Sách của tôi tuy mang tên
chí quái, nhưng không phải ghi lại chuyện ma quỷ đời Minh, ngày nay con người đã đổi thay
nhiều nên có tác dụng khuyên răn giáo dục.”

24


Triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký
Xem thế đủ biết, việc lận đận trên đường thi cử, thái độ bất mãn với giai cấp thống trị,
lòng yêu mê thích chuyện thần thoại, truyền thuyết dân gian và mục đích lấy tác phẩm văn học
để giáo dục tư tưởng, đổi mới tập tục ... là động lực thúc đẩy Thừa Ân, người văn sĩ già, bảy
mươi mốt tuổi, đã dốc hết nhiệt tình hoàn thành tác phạm Tây Du Ký vĩ đại, tám mươi vạn chữ.
cốt truyện được miêu tả trong Tây du Ký vốn là chuyện có thật trong lịch sử. Năm 628 đời
Đường Thái Tông, nhà sư trẻ tên gọi Huyền Trang, ngay từ nhỏ đã xuất gia đầu Phật, từng đi
đây đó gặp các vị hoa thượng nổi tiếng để hộc hỏi, bàn bạc giáo nguyện, vì vậy chàng quyết chí
sang Ấn Độ lưu học để cổ điều kiện đi sâu nghiên cứu Phật giáo. Lúc bây giờ có lệnh cấm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status