TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TÂY DU KÍ CỦA NGÔ THỪA ÂN - Pdf 46

MỞ ĐẦU
Tác phẩm ‘’ Tây Du Ký ‘’ từ lâu đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời
sống văn hóa các dân tộc Đông Nam Á , là bộ tiểu thuyết thần thoại
thành công nhất trong lịch sử cổ đại Trung Quốc. Nhắc đến ‘’ Tây Du Ký
’’ , người ta nghĩ ngay đến Đường Tăng , Tề Thiên Đại Thánh, Trư
Bát Giới, Sa Tăng. ‘’ Tây Du Ký’’ từ khi ra đời đến nay đã được đông
đảo người đọc đồng tình và mến mộ. Hình tượng các nhân vật trong
tác phẩm với những phép biến hóa màu nhiệm “đi mây về gió, thoắt
biến thoắt hiện – rẽ nước xuống Long cung - đại náo thiên cung ”
luôn thu hút sự thích thú, gợi cảm giác thư giãn cho mọi tầng lớp,
mọi đối tượng độc giả. Tác phẩm ảnh hưởng to lớn tới đời sau, hàng
trăm năm nay luôn là cội nguồn của tác phẩm văn học nhi đồng, tác
phẩm phim ảnh và kịch. Đặc biệt, góp phần tạo nên ý nghĩa và
thành công của tác phẩm chính là triết lý nhân sinh được Ngô Thừa
Ân gởi gắm một cách ý nhị, kín đáo và thật sâu lắng trong tác
phẩm .

I. Cơ sở lý luận :
1.1.Khái quát chung :
1.1.1. Triết lý là gì ?
1


Triết lý là những điều được rút ra bởi sự trải nghiệm, như một
quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận ra điều gì đó
( nguồn cội tâm thế / giá trị tinh thần / sức mạnh ứng xử ) được phát
biểu ngắn gọn, xúc tích . Như một tín điều, làm kim chỉ nam cho
cách xử thế, hành động hay lối sống của một Cá nhân hay một Cộng
đồng.

1.1.2. Triết lý nhân sinh là gì ?

một trong ba bộ phận không thể thiếu được kết hợp nên nền văn
hóa Trung Hoa.

- Nho Giáo :
2


Trung Quốc là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời
kỳ cổ trung đại trãi qua gần bốn mươi thế kỷ phát triển liên tục. Nho
giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc
thời cổ đại đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức. Do Khổng
Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ
thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho
giáo. Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử được coi là giai đoạn hình
thành, giai đoạn này được coi là Nho giáo nguyên thuỷ.
Do đó từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính
thống chi phối văn hoá Trung Quốc và làm nền tảng cho việc xây
dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hai ngàn năm
lịch sử.
Ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (Tam cương ) là:
- Đạo vua tôi (quân thần)
- Đạo cha con (phụ tử)
- Đạo vợ chồng (phu phụ)
Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức (Ngũ thường ) Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Tín
Hạt nhân tư tưởng của triết học Nho giáo là Nhân và Lễ.
Nho giáo coi chữ Nhân là đạo đức hoàn thiện nhất “Nhân dã, Nhân
giả” (kẻ có nhân ấy, ấy là con người vậy) “nhân giả ái nhân” (người
có nhân thì yêu con người). Đặc biệt Nho giáo coi thường người phụ
nữ, đã quy định trói buộc người phụ nữ vào người đàn ông (coi trọng


1.3.1.Giới thiệu tác giả:
Ngô Thừa Ân (1500- 1581) tự là Nhữ Trung, hiệu là Xạ Dương Sơn
Nhân, người phủ Hoài An, huyện Sơn Dương, tỉnh Giang Tô. Ông sinh
tại Hoài An, tỉnh Giang Tô. . Tương truyền từ nhỏ Ngô Thừa Ân đã say
mê những truyện thần tiên yêu quái. Khi bị cha cấm ông từng trốn
cha mang những cuốn sách thể loại đó ra chợ đọc. Lớn lên ông tỏ ra
là người khảng khái, những câu nói lúc bấy giờ của ông thể hiện tính
cách của ông “không để người đời thương hại”, “ trong lòng mài mãi
dao trừ tà, muốn dẹp sạch đi, buồn không đủ sức ”.
Ngô Thừa Ân nổi tiếng với văn hay, chữ tốt và rất thích hài kịch.
Ông từng viết nhiều tập kí lừng danh một thời. Tuy là người đa tài
nhưng Ngô Thừa Ân lại lận đận trên đường thi cử. Ông thi nhiều lần
nhưng không đỗ, mãi đến năm 43 tuổi mới đỗ tuế cống sinh. Sau đó,
ông còn đi thi hai lần nữa nhưng đều hỏng. Năm 51 tuổi vì cảnh nhà
quẫn bách ông đến Nam Kinh tìm việc nhưng cô thuế không có nơi
nương tựa nên không toại nguyện. Mãi đến năm 67 tuổi ông đến Bắc
Kinh để tuyển dụng làm quan và ông được bổ nhiệm làm một chức
quan nhỏ (huyện thừa) ở Trường Hưng. Chẳng bao lâu sau, vì không
chịu được cảnh luồn cúi, ông từ chức ra về. Ngô Thừa Ân còn được cử
vào giữ chức kỉ thiện trong Kinh Vương phủ, chuyên coi việc lễ nhạc
và văn thơ, nhưng được ba năm thì từ quan về nhà. Lúc đó ông đã 70
tuổi. Từ đây, Ngô Thừa Ân sống bằng nghề viết văn, thơ, được hơn
mười năm thì mất.
Thuở nhỏ Ngô Thừa Ân theo bố đến chùa cổ và rừng cây ở ngoại ô
lân cận Hoài An chơi, cứ đến một chỗ bố lại kể chuyện thần thoại của
địa phương cho ông nghe. Từ nhỏ ông có sở thích nghe những chuyện
lạ lùng, theo tuổi tác lớn lên sở thích này có tăng không giảm. Sau 30
tuổi ông thu thập được rất nhiều chuyện lạ lùng và có kế hoạch sáng


81 kiếp nạn. Tôn Ngộ Không sử dụng phép thuật và quan hệ của
mình với thế giới yêu quái và Tiên, Phật để đánh bại các kẻ thù
nhiều mánh khóe, như Ngưu Ma Vương hay Thiết Phiến Công
chúa...Cuối cùng khi đã đến cửa Phật, thầy trò họ lại phải hối lộ mới
nhận được kinh thật.

1.3.3 . Vị trí của Tây du ký trong văn học Trung Quốc :
‘’ Tây du kí” tuy được Ngô Thừa Ân viết lúc tuổi già, nhưng ông đã
chuẩn bị cả cuộc đời. Đây cũng là một trong ‘’ Tứ đại danh tác ‘’
của nền văn học Trung Quốc ( cùng ‘’ Tam Quốc Diễn Nghĩa ‘’

5


của La Quán Trung, ‘’ Thủy Hử ‘’ của Thi Nại Am và Hồng Lâu
Mộng của Tào Tuyết Cần)
Tác phẩm được ra mắt lần đầu tiên vào khoảng năm 1590. Đến
ngày nay, ‘’ Tây du ký ‘’ là tác phẩm dễ hiểu , dễ được lòng người
đọc và gây ấn tượng nhất.

II. Biểu hiện tính triết lý nhân sinh trong Tây Du Ký :
2.1 . Những tư tưởng chủ đạo :
2.1.1. Tinh thần hướng thiện :
Trong suốt bộ Tây Du Ký luôn luôn có sự xung đột triền miên giữa
thiện và ác. Tiên Phật là tiêu biểu cho điều Thiện . Yêu quái là “ác” ,
là tà . Phái “ Thiện” phải thắng “Ác”, đó là luận điểm của Tây Du Ký.
Chính vì vậy, dọc đường thỉnh kinh, Thầy trò Tam Tạng sẵn sàng
liều thân cứu giúp những kẻ gặp nguy khốn, đánh yêu ma chính là
để binh vực cho điều thiện. Hay như Đường Tam Tạng, dù trong
hoàn cảnh nào cũng luôn giữ lòng thanh tịnh, vàng bạc không màng,

ít cũng không làm.

2.1.2. Luật nhân quả :
Chuyện nhân quả báo ứng gần như tồn tại trong hầu hết các sự kiện
của tác phẩm. Ta thấy các nhân vật trong truyện Tây Du Ký ( trừ Tề
Thiên ) đều có một tiền kiếp. Kiếp này họ bị đày ải, phải làm yêu quái
cũng vì kiếp trước phạm lỗi . Từ người phàm tới thần linh, ai cũng có
một số mệnh khó vượt qua được .
Con tiểu long, vốn là thái tử, con của Long Vương Ngao Nhuận phạm
tôi bị đày, chờ ngày xử trảm. Được Quan Âm xin cho rồi hóa phép
thành con ngựa đổ gót người đi thỉnh kinh.
Bát Giới, nguyên là Thiên Bồng nguyên soái, vì chọc ghẹo nàng
Hằng Nga mà bị đày xuống trần gian làm quái đầu lớn, được Quan Âm
quy ỵ, và đặt pháp danh là Ngộ Năng.
Tam Tạng thu phục đệ tử thứ ba là Sa Tăng, đặt pháp danh là Ngộ
Tĩnh, Ngộ Tĩnh chính là vị đại tướng lo việc cuốn rèm cho Thượng đế,
vì tay làm vỡ đèn lưu li trong hội bàn đào mà bị đày làm quỷ trên
sông Lưu Sa.
Tam Tạng vốn là Kim Thuyền Tử đầu thai, là đồ đệ thứ hai của Phật
Tổ, vì phạm lỗi mà phải xuống trần gian tu luyện cho thành chánh
quả ( vì Tam Tạng không nghe giảng Pháp, khinh mạn lời giảng Đạo
của Phật Tổ, nên bị đọa chuyển sinh nơi Đông Thổ . )
Ngay cả các yêu quái cản đường cũng có nguồn gốc rõ ràng, chúng
xuống trần gian quấy rối Đường Tăng chỉ vì đó bắt buộc phải thế, bởi
Đường Tăng phải trải qua đúng 81 kiếp nạn.
Hay khi Quốc Vương nước Ô Kê bị yêu quái nhốt vào trong giếng
sâu ngập nước 3 năm và cướp mất giang sơn, ngai vàng; Sau may
mắn được thầy trò Đường Tăng là người tu hành cứu giúp diệt trừ yêu
quái và khôi phục lại vinh hoa phú quý. Nhưng phàm mọi sự đều có
nhân quả ; yêu quái này bản thân không phải là yêu quái, nó chính là

nhưng qua việc đại náo thiên cung, đã ẩn hiện rõ nét hình bóng người
anh hùng ngày đêm quyết chí ra tay quét sạch mọi thế lực đen tối,
phản kháng những đè nén đương thời.
Tôn Ngộ Không bằng tài nghệ của mình, náo động long cung, chiếm
lấy cây “gậy như ý bằng vàng”, đánh xuống âm phủ “làm cho quỷ
đầu trâu kia sợ phải trốn đông trốn tây, quỷ mặt ngựa kia sợ phải
chạy nam chạy bắc”. Ngay cả vua Diêm vương cũng phải sợ hãi lên
tiếng “xin thượng tiên cho biết tên!”, phải đem sổ sinh tử ra để Tôn
xóa tên tuổi loài khỉ trong ấy.
Rõ là Tôn Ngộ Không phản kháng bất cứ sự cưỡng bách nào, Tôn
khiêu chiến một cách táo bạo với số mệnh. Rõ ràng đó chính là ước
mơ lí tưởng của nhân dân, muốn thoát khỏi sự ràng buộc, áp bức của
thế lực phong kiến.
Trong lời Tề Thiên nói với Như Lai: “Kẻ mạnh là cao quý, phải
nhường cho ta: anh hùng chỉ thế đấy ai dám tranh hơn!” rõ ràng đến
đây tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không phát triển lên đến tột

8


cùng, lật đổ uy quyền thống trị của thiên đình, thật sung sướng ngất
trời!
Trên đường thỉnh kinh, Ngộ Không cũng không hề quỳ lạy trước một
vị vua nào đã phản ánh rõ nét sự khinh miệt của nhân dân lao động
đối với người những kẻ quyền quý trong xã hội phong kiến, phản ánh
yêu cầu và nguyện vọng bình đẳng của họ.
Tây Du Ký không chỉ đả phá triều đình phong kiến mà mà còn bài
xích, phê phán những quan niệm mê tín, phục tùng số mệnh. Ngô
Thừa Ân muốn phản kháng lại cái tư tưởng gởi thác số mệnh của mình
ở trời Phật. Thật vậy, trên đường sang Tây Thiên, tuy Đường Tăng có

kiếp, cũng không có cha mẹ, vì vậy những hành vi của Ngộ Không sẽ
không bị một thế lực nào ràng buộc, do đó vận mệnh của Ngộ Không
sẽ do Ngộ Không nắm lấy.

9


Ngộ Không theo Đường Tăng đi thỉnh kinh. Tôn quy y Phật pháp,
trở thành người đệ tử đắc lực hết lòng bảo vệ Đường Tăng sang Tây
Thiên lấy kinh. Ở Tôn luôn là thái độ kiêu hãnh của người anh hùng,
không bao giờ cúi đầu xu nịnh. Mỗi lần gặp Ngọc Hoàng, Tôn chỉ chào
to: “Chào lão quan, phiền, phiền ngài!”. Đối với các vị thánh thần,
Tôn vẫn luôn luôn thẳng thắn , có lần Ngộ Không mắng cả Bồ Tát rất
nặng nề: “Cái bà Bồ Tát này thực chẳng ra sao! Khi xưa giải nạn cho
Lão Tôn bảo phải đừà Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh, ta đã nói
đường lối gian không có chồng!”
Tác giả đã xây dựng hình tượng Tề Thiên hết sức chói lọi. Tôn đã
dũng cảm làm theo lý tưởng của mình, đạp đổ mọi sự áp bức thống
trị, đặc biệt là rất tự tin vào sức mình. Tôn đã dùng sức mạnh thần kỳ
của mình làm náo động ba giới trời, bể, đất. Thiên đình, cái nơi được
coi là thần thánh bất khả xâm phạm, đứng trước sự tấn công dũng
mãnh của Tôn Ngộ Không đã hoàn toàn bộc lộ sự mục rã ở bên trong.
Chính tính cách anh hùng xuất chúng của Tôn đã làm nổi bật giá
trị nhân sinh của tác phẩm. Từ đầu đến cuối trước sau Tôn vẫn không
sợ trời sợ đất. Tôn bền bỉ dẻo dai, lạc quan hăng hái, không nhu
nhược như Đường Tăng; không dao động, bi quan như Trư Bát Giới.
Tác phẩm chứa đựng giá trị triết lý nhân sinh, con người muốn
tồn tại phải biết vượt lên tự khẳng định mình, vạch trần rõ bản chất
các triều đại phong kiến lúc bấy giờ, chỉ là một con hổ già bằng giấy,
ngoài thì ra vẻ oai nghiêm mà trong thì mềm yếu. Đó là bóng dáng

mang nặng quan niệm đẳng cấp truyền thống của tư tưởng phong
kiến. Đường Tăng cũng là tuyên truyền viên tích cực của tôn ti trật
tự, lễ giáo phong kiến. Bất cứ nơi nào, chốn nào, gặp thần Phật nào,
đường Tăng cũng cúi đầu lạy tạ, gặp ông vua nước nào, Đường Tăng
cũng cung kính chắp tay, tung hô vạn tuế, Đường Tăng quả là người
ủng hộ tích cực cho chế độ đẳng cấp phong kiến nhất. Trước khó
khăn, Đường Tăng chỉ biết cúi đầu khóc lóc thở than “nhăn mày,
ròng ròng sa đôi hàng lệ”, hễ thấy yêu ma là hết hồn hết vía, đến
nỗi: “ngồi không vững trên yên ngựa đẹp đẽ, ngã lộn nhào tứ trên
lưng ngựa trắng xuống”, hễ rời Tôn Ngộ Không ra thì không đi được
nửa bước, thậm chí cả cơm ăn cũng không nuốt được.
Tuy tác giả có nhiều đoạn phê phán Đường Tăng như vậy, nhưng
lại mô tả Đường Tăng là nhân vật chính diện. Trong tác phẩm,
Đường Tăng không phải là người ác, Đường Tăng không quản trăm
đắng nghìn cay, trèo đèo lội suối, để sang Tây Thiên lấy kinh; chính
vì thế Tôn Ngộ Không bao lần bị đuổi vẫn lại có thể cùng Đường
Tăng đi thỉnh kinh, , Đường Tăng là con người có lòng từ bi, nhân
hậu, bao dung, có quyết tâm tu hành vượt qua trăm ngàn cám dỗ...

2.2.3. Trư Bát Giới :
Khi Trư Bát Giới xuất hiện tuy vẫn còn là một yêu khí nhưng
chúng ta cũng nhận ra được đó là một con người yêu thích sự lao
động. Sau khi được làm đồ đệ cho Đường Tăng, chưa sẵn sàng ra tay
cùng Tôn Ngộ Không diệt trừ yêu quái trên đường đi sang Tây
Phương. Trư Bát Giới ít can đảm , sợ khó khăn, tuy nhiều lần bị yêu
ma bắt được nhưng đáng quý là không thỏa hiệp đầu hàng mà vẫn
một lòng một dạ với sự nghiệp đi Tây Phương, chỉ cần có Tôn Ngộ
Không bên cạnh thì Trư Bát Giới phấn chấn tinh thần dũng cảm tiến
lên. Tính Trư Bát Giới rất ngây thơ, thẳng thắn và lạc quan. Qua đó
ta thấy được Trư Bát Giới thật sự rất đáng yêu.

nhân vật.

2.2.4. Sa Tăng và Long Mã.
Muốn thành công không chỉ có ý chí lòng tin, sức mạnh tài trí và
vượt qua những dục vọng mà con người còn phải kiên nhẫn, nhẫn nại
đó là hình ảnh của Sa Tăng và Long Mã – đồ đệ của Đường Tăng cùng
đồng cam cộng khổ trên đường đi thỉnh kinh. Anh ta nhận vai gánh
đồ và dắt ngựa, không nề hà gian khổ, nhẫn nại dốc một lòng hướng
thiện. Điều quan trọng là Sa Tăng luôn làm êm ấm lại những mâu
thuẫn xung đột giữa Tôn Ngộ Không và Trư Bát giới. Tuy võ nghệ
không bằng hai sư huynh song Sa Tăng vẫn chiến đấu ngoan cường,
dũng cảm phối hợp cùng diệt ma với hai sư huynh. Trên con đường
thỉnh kinh ấy Sa Tăng không hề nóng giận, yếu lòng mà có thể thấy
đó là sự kiên nhẫn bền bỉ trong mỗi tính cách của mỗi con người.
Hình ảnh Sa Tăng là hình ảnh của một con người làm việc âm thầm,
cần cù, trung kiên trong suốt hành trình của mình. Dù Tôn Ngộ Không
có bỏ về Liêm Động, Bát Giới đòi chia của, mạnh ai đường nấy thì Sa
Tăng không một lời rút lui, không thay đổi lòng dạ của mình vẫn còn
sư phụ tiến tới. Hình ảnh của Sa Tăng suốt dọc đường thỉnh kinh

12


không chỉ là một con người âm thầm gánh hành lý, không hề tranh
quyền đoạt lợi như bát giới, không hờn lẫy cãi thầy như Tôn Ngộ
Không. Ở Sa Tăng có một cái gì đó tuy chậm chạp nhưng vững vàng
mà chắc chắn thật thà. Chí đã định rồi thì không thay đổi, lòng đã
quyết rồi thì chẳng chịu lay.
Phải chăng Sa Tăng và Long Mã là tượng trưng cho con người hiện
thực ở cuộc đời kiên nhẫn chịu đựng dù có trãi qua bao gian truân

những cái ác cái xấu những chướng ngại ngăn cản đâu đó vẫn còn
trong chính con người chúng ta, một phần của ta nên không thể nào
xóa bỏ được.

13


Đối lập với các loại yêu quái là những thánh thần từ long cung tới
diêm la. Những con người phàm trần như chúng ta không thể tiếp
xúc được, chỉ có Tôn Ngộ Không với phép thần thông biến hóa của
mình mới gặp được những vị thần ấy. tuy nhiên những vị thần ấy
không khác người phàm là mấy bởi họ cũng biết yêu biết ghét và biết
sợ hãi trước sức mạnh và tài năng của Tề Thiên, Long vương chỉ biết
nhượng bộ ,mặc dù rất căm giận trong lòng bởi ông luôn sợ sức mạnh
và quyền tài biến hóa của Tôn Ngộ Không nền đành im lặng. Ngoài
Long Vương và Diêm Vương, trong tách phầm còn nhiều vị thần tiên,
được miêu tả rõ qua cuộc trận chiến giữa họ và Tôn Ngộ Không. Dù là
thần tiên trên thiên đình hay bồ tát chúa phật tại Tây Thiên thì Ngộ
Không chưa bao giờ e sợ các vị cả. và có thể thấy một điều rằng khi
nói năng với Ngọc Hoàng Tề Thiên luôn biểu hiện sư bất kính, đó là
sự biểu hiện thái độ miệt thị của nhân dân lao động đối chế độ đẳng
cấp và bọn quyền quý, thể hiện yêu cầu bình đẳng của nhân dân.
Như vậy qua hình tượng các nhân vật mang nhiều tính chất
triết lý nhân sinh sâu sắc, gợi cho người đọc chúng ta những suy nghĩ
cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, về nhân tính thế thái trong xã hội.
Tính triết lý của tác phẩm gắn liền với các hình ảnh của các nhân vật
trong truyện, mỗi nhân vật trong truyên như đang hiện hữu với từng
hành động diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong xã hội.

2.3. Thể hiện ở các sự kiện, hành động :

Tăng đều khiến đệ tử cứu giúp.
Ngộ Không quả là một con khỉ giàu nhân tính. Trên đường đến Xa
Trì quốc, gặp cảnh ngang trái của năm trăm vị hòa thượng bị bọn
đạo sĩ hành xác, Tôn lập tức cứu nguy cho họ ngay. Không chỉ cứu
giúp lần đó mà Tôn còn truy tận gốc nỗi tai ương của họ là do ba tên
đạo sĩ giả dạng, tôn liền tìm cách tiêu diệt chúng. Cuộc đấu trí của
Tôn với ba tên yêu quái đó thật hấp dẫn.
Đại Tiên cầu mưa không lên, Tôn Ngộ Không lập tức cầu ngay
giúp mùa màng nhân dân với những phép biến hóa diệu kỳ. Những
việc làm của Tôn Ngộ Không bao giờ cũng mang lại lợi ích cho chúng
sinh. Tôn Ngộ Không đã biến từ con rết, con bọ mát đến việc mọc
được đầu khi bị chém, chuyển nước mát thành nước sôi bỏng để
chiến thắng từ Hổ Tiên, Hổ Lực đến Lộc Lực và Dương Lực, nguyên là
những con hổ, con hươu, con dê chuyên làm hại các nhà sư và dân
lành.

2.3.3. Tam tạng bao lần mù quáng

Tam Tạng bao lần mù quáng vì sự cả tin và lòng thiện không
đúng chỗ khiến tình cảm thầy trò bao lần bị thử thách , sẵn sàng
mắng nhiếc khi Ngộ Không ra tay giết bọn cướp, người đọc nào
cũng thấy bất nhẫn.
Có lần Ngộ Không đánh chết hai tên cướp, Tam Tạng liền đọc kinh
cầu siêu cho chúng, Đường Tăng còn đọc chú Cẩn Cô nhi rồi đuổi
Tôn Ngộ Không khỏi đoàn, nhưng người đồ đệ tình nghĩa này vẫn
muốn theo thầy. Ấy vậy mà sư phụ Đường Tăng lại nói những lời :
“Ta đi được hay không đi được, không bận chi đến mi! xéo ngay! xéo
ngay! Nhà ngươi hơi chậm một tí, ta sẽ đọc chú, lần này đọc không
ngừng miệng, thắt cho mi vãi óc ra!”.
Chỉ vì tâm thiện và mù quáng theo kinh Phật mà Tam Tạng chẳng

Tôn Ngộ Không, nhân vật luôn có ước muốn vươn lên, không hài
lòng với thực tại với hoàn cảnh tù túng tầm thường, muốn vượt lên
giới hạn của nhân loại. Tây Du Ký mang tâm hồn của thời đại về một
lý tưởng anh hùng, muốn hòa vào cuộc sống với niềm vui và nỗi lo
toan của một khát vọng lớn, khát vọng tự do. Tôn Ngộ không với cây
gậy Như ý trong tay muốn phá tung những sơị dây trói buộc của thời
đại. Muốn tìm đến cuộc sống mới mẻ, khát khao những hiểu biết,
khám phá mới, tin tưởng mãnh liệt vào lý trí, trí tuệ con người, biết
hòa nhập cùng đoàn thỉnh kinh, tích lũy những kinh nghiệm trong
cuộc sống.
Mỗi sự kiện, mỗi hành động của từng nhân vật, đều gợi cho người
đọc những suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, về nhân tình thế
thái trong xã hội. Đặc biệt tính triết lý của tác phẩm được gắn liền
với tính cách của Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng.
Chính vì vậy, qua việc phân tích triết lý nhân sinh trong tác phẩm
Tây Du Ký chúng ta càng thấy rõ sự đóng góp to lớn của tác giả góp phần củng cố và làm sáng rõ những thành công vốn có của tiểu
thuyết Tây Du Ký.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status