LỜI NÓI ĐẦU
Cũng giống như bất kì hoạt động có mục đích nào, quản lí hành chính nhà
nước được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đây là tư tưởng chủ
đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lí hành
chính nhà nước được thực hiện có hiệu quả công việc của mình trên các lĩnh vực
được quan tâm. Một trong các nguyên tắc ấy là nguyên tắc tập trung dân chủ,
nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước cũng như
xuất phát từ bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân. Nhận
thấy tầm quan trọng của vấn đề này em xin chọn đề tài : “Phân tích nguyên tắc tập
trung – dân chủ và chỉ ra ý nghĩa của nguyên tắc này trong quản lí hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay”.
NỘI DUNG
1. Khái quát về nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về nguyên tắc tập trung dân chủ, điển hình là
có ba quan điểm nổi bật về nguyên tắc này như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng nội dung của nguyên tắc này là sự kết hợp hai
mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và
hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể
thống nhất kết hợp hài hòa với nhau. Nếu thiên về tập trung mà không chú trọng
đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán trái với bản chất của Nhà
nước ta. Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi nhẹ tập trung sẽ dẫn đến dân chủ
quá trớn làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả.
Quan điểm thứ hai lại cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung
“một cách” dân chủ. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân
chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách
nhiệm, ý thức kỷ luật cao.
Quan điểm thứ ba cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn quyền
quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân viên. Hay
nói một cách khác, việc đóng góp ý kiến của cán bộ, công nhân viên, các thành viên
nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và nhà nước ta nói riêng không áp dụng sự tập
trung độc đoán hay tập trung quan liêu mà là tập trung trên cơ sở dân chủ chân
chính. Sự tập trung đó rất xa lạ với tập trung quan liêu, tách rời bộ máy nhà nước
với nhân dân. Đúng như V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân
chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự. Tập trung
trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải mang tính dân chủ chứ
không phải tập trung độc đoán, tập trung quan liêu.
Bất kỳ xã hội và bất kỳ kiểu nhà nước nào, việc quản lý xã hội và thực hiện
quyền lực nhà nước (quản lý nhà nước) đều phải có sự tập trung quyền lực. Đây là
yếu tố bắt buộc và mang tính tất yếu nhằm điều khiển (quản lý) được toàn bộ các
hoạt động xã hội, thiết lập và duy trì một trật tự xã hội phù hợp với ý chí và bảo vệ
lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Tuy nhiên, nội dung (tính chất) của sự tập trung
trong các chế độ xã hội và chế độ nhà nước hoàn toàn không giống nhau. Điều đó
trước hết phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, chế độ nhà nước, phụ thuộc vào
trình độ phát triển của xã hội. Trong xã hội phong kiến, quyền lực nhà nước tập
trung trong tay giai cấp thống trị phong kiến mà đại diện là nhà vua; đặc biệt ở các
nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, chế độ cai trị thể hiện sự độc đoán,
chuyên quyền, phản dân chủ (hoặc có dân chủ nhưng rất hạn chế). Đến chế độ tư
bản chủ nghĩa, tập trung, quan liêu là đặc trưng điển hình của việc tổ chức bộ máy
nhà nước tư sản. Các cơ quan cai trị với những quan lại cai trị được bổ nhiệm từ
trên xuống luôn kiêu căng, lấn át, xa rời thực tế; chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên
mà không chịu trách nhiệm trước nhân dân và không chịu sự giám sát của nhân dân.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kịch liệt phê phán cơ chế tập trung
quan liêu đó. Đối với bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa thì một nguyên tắc mới đã
được vận dụng, đó là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ xuất phát từ quan điểm Mác – Lênin, nghĩa là tư
quan điểm của giai cấp công nhân, coi nhà nước về mặt tổ chức và hoạt động như là
một công cụ để xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, rồi chủ nghĩa cộng
dụng nguyên tắc này lại khác nhau. Đồng thời khi vận dụng nguyên tắc này còn
phải tính đến các yếu tố và điều kiện cụ thể như trình độ văn hóa, ý thức pháp luật,
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… Vấn đề quan trọng là tìm ra được một tỉ lệ hợp
lí trong sụ kết hợp giữa dân chủ và tập trung đối với từng cơ quan, từng loại cơ
quan để đảm bảo tính thực tiễn và mang lại hiệu quả cao trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước
Xuất phát từ bản chất của nhà nước ta muốn xây dựng nhà nước pháp chế xã
hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân không thể không tuân thủ theo nguyên tắc
tập trung dân chủ. Bên cạnh đó trong điều kiện nước ta hiện nay sự lãnh đạo tập
trung trên cơ sở dân chủ là yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhất quán chính
sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ( Điêu 15 Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001).
2.2 Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà
nước và hoạt động quản lí hành chính nhà nước cũng được tổ chức thực hiện trên cơ
sở tuân thủ nội dung của nguyên tắc này. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản
lí hành chính nhà nước được biểu hiện ở những nội dung sau :
2.2.1 Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền
lực nhà nước cùng cấp
Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định : Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân
dân.
Như vậy, Hiến pháp quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước
do chính họ bầu ra để thay mặt mình trực tiếp thực hiện những quyền lực đó. Ðể
thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà
chịu trách nhiệm liên đới về những công việc đã phân cấp cho chính quyền địa
phương nhưng do Bộ không thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Tập trung dân chủ không
phải là cơ quan cấp trên làm thay hoặc “lấn sân” cơ quan cấp dưới, đồng thời cũng
không phải là việc cơ quan cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy cho cấp trên..
Đồng thời trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ
đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt
động của mình với các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
Bên cạnh đó yếu tố dân chủ thể hiện rõ nét trong việc cơ quan quyền lực nhà
nước trao quyền chủ động sáng tạo cho các cơ quan hành chính nhà nước trong việc
chỉ đạo thực hiện hiến pháp, luật và các văn bản khác của cơ quan quyền lực nhà
nước.Các cơ quan quyền lực nhà nước không can thiệp vào hoạt động của các cơ
quan hành chính nhà nước mà tạo điều kiện thuân lợi cần thiết để các cơ quan này
hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình là quản lí hành chính trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Ví dụ như quyết định hành chính của cấp trên cơ quan ban
hành chưa kịp sửa chữa những quyết định đã lỗi thời, không còn phù hợp nữa, hoặc
cơ quan ban hành không tính hết được những đặc điểm của từng địa phương, cơ sở
nên có thể quyết định phù hợp với nơi này nhưng không phù hợp với nơi khác.
Trong trường hợp này, các địa phương, cơ sở khi áp dụng vẫn phải thi hành nghiêm
chỉnh quyết định của cấp trên, đồng thời kiến nghị với cơ quan cấp trên bãi bỏ hoặc
sửa đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương, cơ sở.
Cơ quan quyền lực Nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành
lập, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước:
Ở trung ương: Quốc hội thành lập Chính phủ và trao quyền hành pháp cho
chính phủ
Ở địa phương: Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra (Điều
123 Hiến pháp năm 1992) và thực hiện hoạt động quản lí nhà nước ở địa phương
Dân chủ được thể hiện rõ nét trong việc cơ quan quyền lực Nhà nước trao
quyền chủ động sáng tạo cho cơ quan hành chính Nhà Nước trong quá trình cơ quan
Phân cấp quản lí là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên,
việc phân cấp phải đảm bảo những yêu cầu sau :
+ Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then
chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa
của toàn xã hội, bảo đảm sự quản lí tập trung và thống nhất của nhà nước trong
phạm vi toàn quốc.
+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy
tính chủ động sáng tạo trong quản lí, tích cực phát huy sức người, sức của, đẩy
mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao
phó.
+ Phải phân cấp quản lí cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật. Hạn
chế tình trạng cấp trên gom quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao
lại cho cấp dưới. Phân cấp quản lí phải xác định chức năng cơ quan. Mỗi loại việc
chỉ được thực hiện bởi một cấp cơ quan, hoặc một vài cấp cơ quan. Cấp trên không
phải lúc nào cũng thực hiện được một số chức năng một cách có hiệu quả như cấp
dưới .
Xu hướng là lựa chọn đúng việc để phân cấp và khi đã được phân cấp thì chính
quyền địa phương chịu trách nhiệm về kết quả quản lý công việc được giao như
thẩm quyền giao đất, cấp đất, thu hồi đất trước đây vừa thuộc Thủ tướng Chính phủ,
vừa thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, nay đã giao cho chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh; thẩm quyền quyết định các dự án đầu tư, quyết định về ngân sách, về giáo
dục, y tế, về tổ chức bộ máy và biên chế sự nghiệp v.v. Thẩm quyền và trách nhiệm
của chính quyền địa phương các cấp so với 15 năm trước đây đã có sự gia tăng và
mở rộng đáng kể. Đặc biệt, Chính phủ đã có Nghị định riêng về phân cấp cho 2
thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, qua đó phát huy tính chủ động,
tự chịu trách nhiệm của chính quyền 2 thành phố, đây là những thử nghiệm để tiếp
tục mở rộng phân cấp cho các địa phương khác.
Khi cấp trên trao quyền cho cấp dưới thì được thể hiện bằng văn bản ví dụ như
chức và hoạt động của hệ thống các đơn vị cơ sở nhằm tạo điều kiện để đơn vị cơ sở
hoạt động có hiệu quả. Có như vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát triển một
cách mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðây cũng chính là việc thực
hiện “dân là gốc” trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Như vậy các đơn vị
cơ sở được ưu tiên phát triển nhà nước cho ngân sánh đầu tư như đầu tư cho các
đơn vị sự nghiệp như trường học bệnh viện các doanh nghiệp kinh tế …. vật chất kĩ
thuật để phục vụ lợi ích người dân.
2.2.5 Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc phụ thuộc hai chiều hay còn gọi là nguyên tắc song trùng trực thuộc. Sự
phụ thuộc này thể hiện cả ở mặt tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương và được pháp luật quy định một cách cụ thể.
Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ thuộc vào cơ
quan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính cấp
trên.
Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình một mặt chịu sự chỉ đạo của hội đồng
nhân dân tỉnh Thái Bình theo chiều ngang, một mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ
theo chiều dọc. Cụ thể theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
năm 2003 đã sửa đổi bổ sung quy định ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu ra…kết quả bầu các thành viên của ủy ban nhân dân phải được chủ tịch ủy
ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của ủy ban
nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn và ủy ban nhân dân
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban
nhân dân cấp trên.
Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành
chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp.
luật khách quan trong hoạt động của hệ thống quản lí xã hội chủ nghĩa. Đồng thời,
nó phản ánh sự thống nhất giữa cơ sở tư tưởng, chiến lược và tổ chức của xã hội
chủ nghĩa.
Việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước
đã giúp cho việc thực hiện quyền lực làm chủ của nhân dân (thông qua các cơ quan
quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương) hoàn thiện hơn, người dân có thể
thực hiện quyền giám sát của mình một cách hữu hiệu, tạo nên một cơ chế đảm bảo
cho quần chúng tích cực tham gia vào công tác quản lí hành chính nhà nước. Tuy
nhiên, cần lưu ý là việc áp dụng yếu tố dân chủ nhưng không thể loại trừ trách
nhiệm cá nhân, nghĩa là, dân chủ nhưng phải gắn với trách nhiệm của từng cá nhân
cụ thể, trong công việc nhất định, thời gian nhất định.
Đồng thời việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước cũng tạo nên một sự thống nhất về ý chí trong việc quản lí hành chính nhà
nước, tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp giữa các cơ quan, ngành khối trong toàn xã hội
mà vẫn bảo đảm để cho các địa phương trong nước có quyền tự do tương đối trong
việc định ra các hình thức phát triển khác nhau phù hợp với địa phương của mình.
Tạo nên một sức mạnh tổng thể cho đất nước.
Tuy nhiên trong thực tế hoạt động quản lí hành chính nhà nước ta hiện nay
nguyên tắc tập trung dân chủ vẫn chưa được áp dụng triệt để để phát huy hết vai trò
to lớn của nó.
Về cơ bản và trên mức độ lớn, có thể nói sự chậm trễ trong đổi mới tư duy,
nhận thức về nội dung và yêu cầu của nguyên tắc dân chủ cho phù hợp với quá trình
đấy mạnh cải cách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là
căn nguyên của những bất cập, yếu kém trong công tác chỉ đạo với điều hành của
bộ máy nhà nước hiện nay.
Tư tưởng tập trung bao cấp trong cán bộ, công chức còn khá nặng nề, nhất là
các cấp chính quyền địa phương. Cán bộ, công chức, kể cả thủ trưởng cơ quan đơn
vị còn phổ biến tình trạng thụ động, ngồi chờ sự chỉ đạo của cấp tên trong triển khai
4.Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003 đã sửa đổi và
bổ sung
5. Luật cán bộ công chức năm 2008
6. Nghị định số 71/2003/NĐ- CP ngày 19-6-2003 về phân cấp quản lí biên chế
hành chính sự nghiệp nhà nước
7. Quyết định số 3035/QĐ-UBND về việc ban hành quy định về phân cấp và
ủy quyền quản lí dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu