Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TÌNH

TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2018


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu......................................................................3
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................3
5. Đóng góp mới của luận án...................................................................................4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án...........................................................4
7. Kết cấu của luận án.............................................................................................5
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI............................................................................................................................6
1.1. Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh..........................6
1.1.1. Các công trình nghiên cứu triết lý trong sự phân biệt với triết học............6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về con người và đời sống con người...............12

3.4. Triết lý về đạo đức, nhân cách và ý nghĩa cuộc sống..................................105
3.4.1. Triết lý về đạo đức, nhân cách.....................................................................105
3.4.2. Triết lý về ý nghĩa cuộc sống.......................................................................109
3.5. Những nét độc đáocủa triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
3.5.1. Thừa nhận thực tế đời sống đầy mâu thuẫn................................................................111
3.5.2. Phạm vi ứng dụng rộng, bao quát...............................................................113
3.5.3. Trình độ khái quát cao.................................................................................114
Kết luận chƣơng 3.................................................................................................114
Chƣơng 4: Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA
DAO VIỆT NA ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI HIỆN NAY………………117
4.1. Thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam hiện nay: những vấn đề đặt ra…….117
4.2. Ý nghĩa định hƣớng của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời
sống xã hội hiện nay……………………………………………………………..127
4.2.1. Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam góp phần thúc đẩy tư
duy lành mạnh, định hướng hành động hợp lẽ phải……………………..……..128
4.2.2. Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam góp phần giáo dục quan
niệm sống tốt đẹp và lối sống nhân văn…………………………………………131
4.2.3. Về hạn chế của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam……..138
Kết luận chƣơng 4………………………………………………………………141
KẾT LUẬN……………………………………………………………………...143
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN…………………………………………………………………………..148


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng
đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội

loại hình tri thức này. Sức mạnh của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao là ở đó.
Như nhiều tài liệu đã khẳng định, tục ngữ, ca dao Việt Nam, trên khắp các
vùng miền, ở tất cả các lĩnh vực, đều chứa đựng trong nó hệ thống phong phú các
triết lý nhân sinh sâu sắc. Mấy nghìn năm dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển,
cũng là mấy nghìn năm triết lý nhân sinh luôn nối tiếp nhau xuất hiện và thực hiện
chức năng định hướng của mình trong tục ngữ, ca dao. Kinh nghiệm sống, lao động
và đấu tranh, các giá trị làm người, các bản sắc đặc trưng về lối sống và ứng xử…
không ngừng được đúc kết và cất giữ trong ca dao, tục ngữ, kể cả trong xã hội hiện
đại.
Vấn đề là ở chỗ, hiện hay việc xác định hệ thống triết lý nhân sinh trong kho
tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam trên thực tế chưa được tìm hiểu một cách hệ thống.
Đại đa số các tác giả tuy đánh giá cao giá trị của các triết lý nhân sinh, chỉ ra sự tồn
tại của một số triết lý nhân sinh cụ thể trong kho tàng tục ngữ, ca dao và phân tích
nội dung của chúng, nhưng lại chưa tiến hành hệ thống hóa, phân loại, và đánh giá ý
nghĩa nhiều tầng, đa diện của tục ngữ, ca dao đối với các xã hội ở từng giai đoạn
lịch sử và trong toàn bộ đời sống xã hội nói chung. Việc xem xét cũng chủ yếu tiến
hành trong khuôn khổ những nghiên cứu văn học, văn hóa học… hầu như rất ít
được nghiên cứu từ góc độ triết học.
Đối với việc nghiên cứu từ góc độ triết học, những vấn đề cần phải giải đáp
là: Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
gồm những gì? Làm thế nào để phân loại, xác định và nhận diện hợp lý các triết lý
nhân sinh phong phú, đa dạng trong đời sống xã hội Việt Nam ở các thời kỳ lịch sử
khác nhau? Ý nghĩa định hướng của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với
đời sống xã hội hiện nay thể hiện như thế nào? Cần phải làm gì và làm như thế nào
để giữ gìn và phát huy những nội dung của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam vào giáo dục con người trong bối cảnh hiện nay?
Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, do vậy có ý
nghĩa không nhỏ trong việc khẳng định những giá trị quý báu của văn hóa dân tộc.
Trên cơ sở đó, việc làm rõ, đánh giá những giá trị của triết lý nhân sinh trong tục
ngữ, ca dao Việt Nam, sẽ góp phần làm tăng cường sức sống của đời sống tinh thần

Luận án giới hạn nghiên cứu những ca dao, tục ngữ đã được tuyển chọn
trong kho tàng tục ngữ, ca dao các tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; chủ yếu là trong các
tác phẩm về tục ngữ, ca dao đã xuất bản.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận

3


- Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa
duy vật lịch sử: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con
người và đời sống con người, về tồn tại xã hội và ý thức xã hội…
Cùng với cơ sở lý luận cơ bản đó, luận án còn chú ý khai thác và sử dụng
những giá trị lý luận của các công trình nghiên cứu ngoài triết học về chủ đề đời
sống con người được phản ánh trong tục ngữ, ca dao.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp logic - lịch sử, quy nạp - diễn dịch, tổng hợp phân tích, so sánh - đối chiếu, thống kê,…
Luận án chú trọng sử dụng các tài liệu triết học và triết lý, về đời sống tinh
thần và vật chất của xã hội và con người, về văn hóa và con người. Trong chừng
mực có liên quan, luận án có sử dụng các tài liệu văn học, văn hóa học có liên quan
đến chủ đề, các báo cáo chuyên môn của các tổ chức văn hóa - xã hội của Đảng và
Nhà nước, đặc biệt các báo cáo của các Hội văn học – nghệ thuật, các trường Đại
học khu vực phía bắc… có liên quan đến đề tài.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã xác định được những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong
tục ngữ, ca dao Việt Nam. Bước đầu phân loại các loại triết lý nhân sinh theo đặc
thù của đời sống người Việt thể hiện trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam.
Luận án đã chỉ ra những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý
nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.

hiện. Mở đầu tác giả viết: “Triết lý là ý niệm của nhân loại, tự giác đã đi ra khỏi
cách sinh sống thời đại dã man, và nhờ văn minh có nâng đời sống lên phương diện
phổ biến: nghĩa là mỗi người có một nhân phẩm, ai ai cũng phải công nhận, không
kể đến hoàn cảnh đặc biệt, nhưng chỉ vì một người là một người, có giá trị làm
người”.[100,2]. Ở tác phẩm này, tác giả chia vấn đề triết lý ra làm 3 phần: Phần 1:
Căn bản thiết thực của triết lý - châu Âu và châu Á; phần 2: Giai đoạn trưởng giả
cách mệnh, từ thời trung cổ đến Hêghen; phần 3: Thời đại trưởng giả trụy lạc,
Mácxit phát triến. Có thể khẳng định, với công trình này Trần Đức Thảo đã chỉ ra
những đặc điểm của triết lý, trên cơ sở đã trình bày một cách đầy đủ nguồn gốc hình
thành và quá trình phát triển của triết lý trong triết học phương Đông và phương
Tây. Với tính cách là triết gia Việt Nam được thừa nhận có tầm vóc quốc tế ở
Phương Tây, Trần Đức Thảo trong tác phẩm này đã dành nhiều tâm huyết cho vấn
đề triết lý. Tiếc rằng ông lại chưa đặt ra vấn đề phân biệt giữa triết học và triết lý,
mặc dù ông sử dụng cả hai thuật ngữ này.
Tác giả Phạm Xuân Nam (chủ biên) với cuốn sách “Triết lý phát triển ở Việt
Nam - Mấy vấn đề cốt yếu”, Nxb. Khoa học xã hội, 2003; cuốn sách gần 600 trang,
là một công trình nghiên cứu lớn về triết lý và triết lý phát triển ở Việt Nam, gồm 7
chương, đề cập đến những vấn đề như: Triết lý được định nghĩa là gì? Triết lý phát
triển là như thế nào? Triết lý về mối quan hệ giữa các lĩnh vực trong đời sống xã hội
như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, triết lý về mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên, con người với xã hội… Nội dung của các chương này đều phản ánh cô đúc
và có phần bổ sung, phát triển thêm kết quả nghiên cứu của 6 đề tài nhánh thuộc
chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân
văn Quốc gia từ cuối năm 1997 đến năm 2001. Khi bàn đến triết lý, chủ yếu tác giả
Phạm Xuân Nam đẫ đề cập đến triết lý phát triển của xã hội. Theo tác giả, “Triết lý

6


phát triển - chính là những quan điểm, luận điểm, phương châm cốt lõi và cơ bản


7


và triết lý, giúp người đọc có thể hiểu rõ những đặc trưng cơ bản của triết lý và sự
khác nhau của nó với triết học.
Công trình “Triết lý phương Đông - giá trị và bài học Lịch sử” của tác giả
Trịnh Doãn Chính, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2001. Nội dung chính của tác phẩm đề
cập đến những vấn đề cơ bản trong triết lý phương Đông như: triết lý về đạo đức,
triết lý về pháp luật, triết lý về con người, triết lý về xã hội…Tuy nhiên, cũng như
các tác giả khác, Trịnh Doãn Chính chưa đề cập đến vấn đề sự phân biệt giữa triết
học và triết lý, đồng thời chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản trong triết lý
phương Đông mà chủ yếu là Ấn Độ và Trung Quốc.
Công trình “Triết lý trong văn hóa phương Đông” của tác giả Nguyễn Hùng
Hậu, Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội, 2002. Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập
đến những nội dung cơ bản của triết lý trong văn hóa phương Đông, trong đó nổi
bật là một số quan điểm, nội dung, sự thống nhất giữa mục tiêu và động lực của
nhân tố con người trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh. Ở đây, tác giả đã sơ bộ
trình bày một vài vấn đề triết lý trong văn hoá phương Đông - một trong những cái
nôi văn minh của nhân loại - thể hiện ở ba nước: Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam.
Dĩ nhiên, phương Đông còn bao gồm nhiều nước khác nữa mà tác giả chưa có điều
kiện nghiên cứu. Tuy vậy, qua nghiên cứu triết lý trong văn hoá ba nước trên cũng
phần nào giúp chúng ta hiểu tính cách của người Việt Nam nói riêng và người
phương Đông nói chung, từ đó ta có những chiến lược phát triển con người nói
riêng và văn hoá nói chung một cách thích hợp, góp phần đẩy mạnh công cuộc công
nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước, hướng nhanh đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh….
Tác giả Trịnh Doãn Chính còn có một công trình khác có liên quan đến vấn
đề này là “Veda, Upanishad - những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, 2006. Phần thứ nhất giới thiệu về kinh Veda; phần thứ hai giới

triển Hồ Chí Minh- giá trị lý luận và thực tiễn”. Công trình lớn này bao gồm 2
chương: Chương 1, quan niệm về triết lý phát triển và nguồn gốc tư tưởng – lý luận
hình thành triết lý phát triển Hồ Chí Minh; chương 2: Bản chất và nội dung triết lý
phát triển Hồ Chí Minh; chương 3: Vận dụng và phát triển triết lý phát triển Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Nội dung chính của tác phẩm này
đề cập đến nguồn gốc hình thành, nội dung của triết lý Hồ Chí Minh và đặc biệt là
vấn đề vận dụng triết lý Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
Công trình là sự nghiên cứu nét độc đáo, sáng tạo, giá trị của triết lý phát triển Hồ
Chí Minh cho phép chúng ta khám phá những nội dung đặc sắc nhất của tư tưởng
Hồ Chí Minh với tư cách là hệ thống các quan điểm sâu sắc và toàn diện về cách

9


mạng Việt Nam. Triết lý phát triển chính là hạt nhân cốt lõi của phương pháp luận
Hồ Chí Minh. Ở đây, các tác giả còn nêu bật, trên bình diện lý luận, sức sống, sức
hấp dẫn lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh; vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
trong hành động của triết lý phát triển Hồ Chí Minh đối với việc xác định, hoàn
thiện triết lý phát triển Việt Nam hiện đại. Đồng thời chỉ ra những đóng góp lý luận
của triết lý phát triển Hồ Chí Minh cho sự phát triển nhân loại với tư cách nhà văn
hóa kiệt xuất.
Nguyễn Gia Linh với tác phẩm “Triết lý nhân sinh cuộc đời”, Nxb. Lao động,
2009. Nội dung tác phẩm đề cập đến những vấn đề cơ bản trong quan niệm sống
của con người như: nội tâm, tính cách, thân phận, tâm linh… Tác giả cho rằng:
Cuộc sống của con người không phải do một thế lực siêu nhiên nào mà do chính
bản thân mình tạo ra. Mỗi người đều phải thường xuyên đối mặt với các vấn đề của
cuộc sống như: công việc, xã hội. Cách đối nhân xử thế, thái độ làm việc, mức độ
cố gắng, cách tư duy và niềm tin... của chúng ta quyết định sự thành bại trong cuộc
đời của chúng ta. Bất kể thế nào thì chúng ta đều muốn thành công và tìm cách
tránh thất bại hoặc đi đường vòng. Triết lý nhân sinh của cuộc đời chính là cây đèn

loài người, của con người và của tư duy, tư tưởng và thể hiện toàn bộ sự hiểu biết
đó dưới dạng các tri thức hệ thống về thế giới quan và nhân sinh quan.
Tóm lại, theo nghiên cứu ở trên thì triết lý là những lý lẽ mang tính khái
quát, nó là kết quả của sự suy nghĩ, chiêm nghiệm, đúc kết thành những quan diểm,
luận điểm, phương châm cơ bản mang tính cốt lõi nhất về cuộc sống và hoạt đọng
thực tiễn của con người. Chúng có vai trò định hướng cho con người trong cuộc
sống cũng như hoạt động thực tiễn. Về mặt hình thức nó thường được thể hiện dưới
dạng những mệnh đề, những câu châm ngôn ngắn gọn, súc tích bao chứa ý nghĩa
sâu xa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, xã hội và con người.
Qua phân tích các công trình nói trên về vấn đề triết lý, theo tác giả luận
ánhiện nay ở Việt Nam vẫn có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về
triết lý, nhưng các ý kiến đều thống nhất ở chỗ:
Thứ nhất, triết lý khác triết học. Triết học là hệ thống tri thức ở trình độ
những vấn đề chung nhất, phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Triết lý không phải là một hệ thốngvà cũng không nghiên cứu những
vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy như triết học, mặc dù triết lý có
quan hệ với triết học, thậm chí đôi khi là phái sinh từ một triết học nào đó. Triết lý
chỉ đề cập tới từng mặt, từng lĩnh vực hẹp của đời sống xã hội, nhất là trong các nội
dung về nhân sinh.
Thứ hai, từ những nguyên lý triết học cụ thể nhất định, người ta có thể rút ra

11


những triết lý về phương diện nào đó của cuộc sống.
Thứ ba, triết lý có thể được nảy sinh trực tiếp trên cơ sở hoạt động thực tiễn
của con người. Nghĩa là từ hoạt động kinh nghiệm thường ngày, con người có thể
rút ra những triết lý sống, triết lý hành động cho bản thân và cộng đồng. Triết lý có
ý nghĩa như là phương châm cho đối nhân, xử thế, cho hành vi của con người trong
đời sống hàng ngày.

nghĩa, thủy chung, vị tha… Tuy nhiên, theo tác giả với xu thế toàn cầu hóa hiện nay
đã và đang làm ảnh hưởng không nhỏ đến những giá trị truyền thống văn hóa dân
tộc. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để bên cạnh việc tiếp thu có chọn lọc những
tinh hoa văn hóa nhân loại cần kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt
đẹp của con người Việt bao đời nay.
Công trình “Quan điểm của triết học Mác- Lênin về con người với việc xây
dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Luận án Tiến sĩ
triết học của tác giả Vũ Thiện Vương, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm
2000. Tác giả đã phân tích một cách có hệ thống quan điểm của triết học Mác Lênin
về con người; phân tích CNH - HĐH với những yêu cầu xây dựng con người Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như đề ra những phương hướng và giải pháp cơ
bản nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH.
Công trình “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001. Công trình này
do các tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ Sỹ Quý đồng chủ biên
đã phản ánh rõ những nét cơ bản về giá trị và giá trị truyền thống được thể hiện
trong mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống với sự phát triển trong đó nhấn mạnh
vị thế chủ thể của văn hóa nội sinh trong hội nhập, khai thác những yếu tố tích cực
của Nho giáo Việt Nam phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Tác giả Trần Văn Giàu với “Con người Việt Nam, một số vấn đề cần nghiên
cứu” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu con người, số 2/2002. Bài viết đã làm nổi bật ý
nghĩa và tầm quan trọng của giá trị và tinh thần của con người, của dân tộc
Việt Nam, từ đó đưa ra những vấn đề cần thiết trong nghiên cứu về con người
Việt Nam. Mở đầu bài viết, tác giả đã nêu lên những suy nghĩ của mình khi đọc
cuốn sách của Mắcnamara viết về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Mắcnamara đã
phân tích các diễn biến của cuộc chiến và nhìn thẳng vào nguyên nhân khiến Mỹ
thất bại trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Trong số các nguyên nhân được chỉ ra,
tác giả đặc biệt chú ý tới hai nguyên nhân. Mắcnamara cho rằng Mỹ đã thua vì Mỹ
không thể hiểu nổi tại sao người Việt Nam lại đấu tranh cho lý tưởng của mình một

giai đoạn hiện nay. Ở cuốn sách này tác giả còn nêu khái quát về đời sống con
người ở tầm triết học, theo tác giả con người là chủ nhân, chủ thể tích cực của mọi
hoạt động trong xã hội, con người đã và đang làm chủ cuộc sống của chính mình và
của xã hội…Theo chúng tôi nghĩ ở tầm triết lý cũng như vậy. Những tư tưởng ấy
của tác giả cũng có ý nghĩa rất lớn về mặt triết lý và triết học.

14


Tác giả Nguyễn Đắc Hưng với cuốn sách “Việt Nam – Văn hóa và con
người”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009. Ở đây, tác giả đi vào nghiên cứu về
con người Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, về con người theo từng vùng lãnh thổ,
về mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa con người và văn hóa, tầm quan
trọng của văn hóa và con người đối với sự phát triển của quốc gia. Đồng thời, tác
giả cũng nêu lên những mặt hạn chế của toàn cầu hóa ảnh hưởng tới văn hóa, nhân
cách của con người Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Văn Dân với cuốn sách “Con người và văn hóa Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011. Ở tác phẩm này tác
giả đã trình bày một cách khái quát cơ sở lý luận về con người và văn hóa Việt Nam
trong tình hình mới, nêu lên những nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi của con
người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và đề xuất một số giải pháp phát huy mặt
tích cực và hạn chế của con người Việt Nam trong thời đại mới. Tác giả viết: “Con
người và văn hóa Việt Nam đang biến đổi theo hướng tốt đẹp. Tuy nhiên, cũng còn
không ít điều phải làm để cho xu hướng biến đổi tốt đẹp đó được duy trì và phát huy.
Muốn cho Việt Nam có được một hình ảnh và vị thế chủ động và tích cực trong hội
nhập, chúng ta phải đứng từ góc độ của người tham gia để tiếp thu và hội nhập, phải
xuất phát từ bên trong để hội nhập, chứ không thụ động đón nhận bất cứ thứ gì áp
đặt từ bên ngoài” [15;240]. Theo chúng tôi, đây là những ý tưởng lớn, có ý nghĩa
quan trọng về triết học. Bởi tác giả khẳng định, con người đang biến đổi theo chiều
hướng tốt đẹp, xuất phát từ bản chất tốt đẹp, cao quý của con người, sự biến đổi ấy

Tác giả Vũ Ngọc Phan với cuốn sách “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”,
Nxb. Khoa học xã hội, 2010. Ở công trình này, ngoài phần sưu tập, tuyển chọn tục
ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, tác giả còn có nhiều trang viết giới thiệu, bàn luận về:
Công việc sưu tập, nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam từ xưa đến nay;
bàn về vấn đề ca dao tục ngữ thực chất là gì, thế nào là tục ngữ, ca dao, dân ca; nội
dung và hình thức của tục ngữ, ca dao, dân ca….. Tức là tác giả Vũ Ngọc Phan đi
sâu bàn đến tục ngữ, ca dao, dân ca dưới góc độ văn hóa, văn học…Ở tầm triết lý
trong ca dao tục ngữ theo Vũ Ngọc Phan: “Tính tư tưởng của nhân dân Việt Nam
biểu lộ ở ca dao không chỉ làm cho người ta thông cảm tình yêu thắm thiết mặn
nồng của họ, mà còn cho người ta thấy phẩm chất của họ trong các cuộc đấu tranh
thiên nhiên, đấu tranh xã hội. Họ đã vất vả như thế nào trong công cuộc cải tạo
thiên nhiên, hào hứng như thế nào khi thu được thắng lợi…” [89;75] đây là triết lý
về tình cảm của con người và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người
với xã hội.
Nội dung đáng chú ý trong ca dao, tục ngữ theo Vũ Ngọc Phan là: Qua thực

16


tế đấu tranh gian khổ trên một đất nước có nhiều thiên tai, địch họa, nhân dân Việt
Nam đã rút được nhiều kinh nghiệm quý báu ở những cuộc đấu tranh chống thiên
tai, chống ngoại xâm và có những nhận xét khá sâu sắc về cuộc đời. Óc nhận xét và
phê bình ấy của nhân dân Việt Nam đã biểu hiện bằng lời ca, truyền từ đời nọ sang
đời kia và từ địa phương này sang địa phương khác. Nhiều câu đã thành châm ngôn
cho cả dân tộc, là biểu trưng cho tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của dân tộc
Việt Nam.
Có thể nói, đây là một trong những công trình đồ sộ đầu tiên nghiên cứu một
cách có hệ thống về tục ngữ, ca dao, dân ca. Qua công trình này tác giả giúp người
đọc có cái nhìn cụ thể hơn về ca dao, tục ngữ, phân loại ca dao tục ngữ theo các chủ
đề về: Nguồn gốc của con người, quan hệ với thiên nhiên, quan hệ với xã hội… Tuy

đổi… để phục vụ cho công việc học tập và giảng dạy văn học chứ chưa đề cập đến
vấn đề con người dưới góc độ triết học.
Qua phân tích các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy: các công
trình này chủ yếu thiên về thống kê, liệt kê theo phân loại ca dao tục ngữ theo chủ
đề chứ chưa đề cập nhiều đến các giá trị triết học và tính triết lý. Tuy nhiên, những
công trình này có ý nghĩa rất quan trọng cho luận án khi phân tích tìm hiểu và phân
loại ca dao tục ngữ dưới góc độ triết học.
Nguyễn Tấn Long, Phan Canh với công trình “Thi ca bình dân Việt Nam –
tòa lâu đài văn hóa dân tộc”, Nxb. Hội Nhà văn, xuất bản năm 1998. Đây là một
công trình đồ sộ, bề thế cả về dung lượng trang và nội dung đề cập. Công trình này
gồm 4 tập (tập 1: 627 trang; tập 2: 754 trang; tập 3: 615 trang; tập 4: 699 trang).
Trong ngót ba nghìn trang sách, đề cập đến các vấn đề như: Nhân sinh quan, xã hội
quan, vũ trụ quan. Nhưng có một vấn đề khiến người đọc băn khoăn là: tiêu đề tác
giả đặt ra đầy màu sắc triết học nhưng khi bàn về triết học lại rất thờ ơ. Đọc hàng
trăm nghiên cứu về thơ ca bình dân Việt Nam, độc giả chỉ thấy những lời bàn về các
vấn đề văn học, nghệ thuật, xã hội học, tín ngưỡng, đạo đức nói chung chứ không
thấy có sự phân tích, bình luận về các yếu tố, giá trị triết học, đạo đức dưới cái nhìn
triết học.
Tác giả Nguyễn Xuân Lạc với cuốn “Văn học dân gian Việt Nam trong nhà
trường”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội năm 1998. Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu lên
một số các bài ca dao, tục ngữ tiêu biểu và phân tích giá trị nội dung của các tác
phẩm điển hình ấy.
Tác giả Thao Nguyễn với công trình “Ca dao Việt Nam - Viên ngọc quý
trong kho tàng văn học dân gian”, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2005. Theo
tác giả, ca dao là loại thơ riêng biệt, thơ biến đổi rất nhiều theo nội dung tư tưởng và

18


tình cảm của mỗi thời. Dù hiện nay, ca dao có biến đổi thế nào đi nữa thì ca dao vẫn


19


Nghiên cứu về Văn học dân gian mà đặc biệt là nghiên cứu về Tục ngữ, ca
dao Việt Nam có những công trình điển hình như: “Tục ngữ, Ca dao Việt lời bình”
của tác giả Vũ Thị Hương, Nxb. Văn hóa thông tin, năm 2000; “Từ điển Thành ngữ
tiếng Việt phổ thông” của đồng tác giả Vũ Dung- Vũ Thuý Anh- Vũ Quang Hào,
Nxb. Văn hóa Hà Nội năm 2000; công trình “Kho tàng Ca dao người Việt” của
nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật - Phan Đăng Tài - Nguyễn
Thuý Loan - Đặng Diệu Trang, Nxb. Giáo dục, năm 2001; “Thành ngữ - Tục ngữ
Việt Nam” của Bùi Hạnh Cẩm - Bích Hằng - Việt Anh; “Ca dao Việt Nam”, Nxb.
Văn hóa thông tin, Hà Nội năm 2000. Và một số các công trình khác.
Đánh giá một cách tổng quát, những công trình này, phần lớn thiên về thống
kê, phân loại, liệt kê ca dao tục ngữ. Một vài công trình nghiên cứu về giá trị nội
dung và nghệ thuật trên phương diện văn học của ca dao tục ngữ chứ chưa đề cập
đến vấn đề triết lý và triết học.
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy
Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân với tên gọi “Kho tàng tục ngữ người Việt”,
Nxb. Văn hóa - thông tin, 2000. Tác phẩm gồm 2 tập, lý giải thế nào là tục ngữ,
nguồn gốc hình thành tục ngữ và các thể loại tục ngữ, Mục đích của các tác giảlà
bước đầu hoàn thành Hệ thống tục ngữ người Việt sắp xếp theo trật tự chữ cái của
tiếng đầu. Theo các tác giả, tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có
nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (Tự nhiên, lao
động, sản xuất, xã hội), được nhân dân ta vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn
tiếng nói hằng ngày đây là 1 thể loại văn học dân gian. Cần phân biệt tục ngữ và
thành ngữ. Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức
của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ,
dễ truyền.
Tác giả Phúc Hải với “Ca dao việt Nam đặc sắc”, Nxb. Thời đại, 2003. Tác

ca dân gian Việt Nam. Tiếp cận kho tàng sáng tác dân gian nói trên theo một hướng
mới, tác giả đã luận chứng để đi đến khẳng định: Đạo đức là một giá trị thuộc về
bản chất con người có tác dụng không nhỏ, đem lại nhiều lợi ích cho những thành
viên trong xã hội, là cơ sở xây dựng tình yêu, hôn nhân và là giá trị hơn hẳn vẻ đẹp
hình thức của mỗi cá nhân, cao quý hơn tiền bạc, vật chất. Có thể nói, Lê Huy Thực
là một trong số ít những tác giả nghiên cứu sâu về triết lý trong ca dao tục ngữ, đặc
biệt là triết lý về đạo đức.
Một công trình lớn có tên gọi: “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nxb.
Văn học, năm 2012 bao gồm 4 tập của nhóm tác giả biên soạn là: Tập 1: Thành ngữ,
tục ngữ. Ca dao, dân ca Việt Nam về cảnh đẹp quê hương đất nước; Tập 2: Thành
ngữ, tục ngữ. Ca dao, dân ca Việt Nam về kinh nghiệm ứng xử; Tập 3: Thành ngữ,

21


tục ngữ. Ca dao, dân ca Việt Namvề tình cảm gia đình; Tập 4: Thành ngữ, tục ngữ.
Ca dao, dân ca Việt Nam về thiên nhiên và lao động sản xuất. Có thể nói đây là
một trong những công trình đồ sộ nghiên cứu về những nội dung cơ bản của ca dao,
tục ngữ, thành ngữ, dân ca Việt Nam. Các tác giả đã thống kê được về số lượng, liệt
kê và phân loại theo các chủ đề của ca dao tục ngữ, làm cho người đọc thấy được
bức tranh phong phú và đa dạng của ca dao, tục ngữ Việt Nam.
Nghiên cứu công trình trên ta thấy: Tục ngữ, ca dao là phần phong phú nhất
trong văn học dân gian của dân tộc ta. Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ,
tình cảm và nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có
vần, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế
hệ. Chính vì vậy nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc dù
có thay đổi một vài từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau. Với ca dao,
chúng ta còn có thể nêu lên nhiều cái độc đáo khác nữa của thể loại này như: cách
xưng hô, đối đáp, hình tượng, không gian, thời gian, tính ước lệ... cùng với tục ngữ,
ca dao được quần chúng nhân dân sáng tạo qua nhiều thế hệ tác giả, qua nhiều thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status