BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Hương Giang
QUAN HỆ CHÍNH TRỊ ẤN ĐỘ PAKISTAN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Hương Giang
QUAN HỆ CHÍNH TRỊ ẤN ĐỘ PAKISTAN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành
Mã số
: Lịch sử thế giới
: 60 22 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN PHI PHƯỢNG
1.2. Nguồn gốc của mối quan hệ bất đồng .............................................. 14
1.3. Mối quan hệ chính trị giữa Ấn Độ - Pakistan trước năm 2001 ..... 16
1.3.1. Từ năm 1947 đến 1971 ......................................................................... 16
1.3.2. Từ năm 1972 đến 1990. ........................................................................ 19
1.3.3. Từ năm 1991 đến năm 2000. ................................................................ 21
CHƯƠNG 2 : QUAN HỆ CHÍNH TRỊ ẤN ĐỘ - PAKISTAN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2010 ......................................................... 29
2.1. Tình hình thế giới trong những thập niên đầu thế kỉ XXI............. 29
2.2. Quan hệ chính trị Ấn Độ - Pakistan từ năm 2001 đến năm 2010 .. 32
2.2.1. Vấn đề Kashmir..................................................................................... 32
2.2.2. Vấn đề khủng bố ................................................................................... 48
2.2.3. Vấn đề nguồn nước............................................................................... 62
2.2.4. Vấn đề vũ khí hạt nhân ........................................................................ 68
CHƯƠNG 3 : NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN HỆ
CHÍNH TRỊ ẤN ĐỘ - PAKISTAN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM
2010 .............................................................................................. 79
3.1. Nhận xét, đánh giá quan hệ giữa Ấn Độ - Pakistan. ....................... 79
3.2. Triển vọng của quan hệ Ấn Độ - Pakistan. ...................................... 83
KẾT LUẬN ................................................................................. 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 89
PHỤ LỤC .................................................................................... 96
MỞ ĐẦU
1/ Lí do chọn đề tài.
Xu thế hòa dịu của thế giới thời kỳ “ hậu Chiến tranh lạnh” đã khiến tất
cả các quốc gia đều phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại sao cho phù hợp
với lợi ích của mỗi nước. Trong bối cảnh đó Ấn Độ -Pakistan cũng đã thi hành
chính sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt và thực dụng hơn. Cả hai quốc gia
này đều thấy hậu quả lớn nhất mà họ đều phải gánh chịu đó là sự tụt hậu về
kinh tế do quá tập trung chạy đua vũ trang dẫn đến vị thế quốc tế của cả Ấn
Độ và Pakistan đều giảm sút.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của sự thay đổi của thế giới. Cả Ấn
Độ và Pakistan đã có sự thay đổi trong cách ứng xử, đó là cả hai đều có những
biểu hiện xuống thang, tạo cơ sở cho những cuộc gặp gỡ chính thức giữa các
nhà lãnh đạo của hai nước. Vì thế trong thời gian gần đây, giới nghiên cứu,
những nhà phân tích, nhà bình luận chính trị, các nhà báo…thường sử dụng
những cụm từ như: “Một khởi đầu mới”, “điềm lành”, “thuận buồm xuôi gió”,
“Băng đang tan dần”, “tia hy vọng mới”, “bầu không khí mới đang ấm dần
lên”…để bình luận về quan hệ Ấn Độ và Pakistan. Điều này cho thấy, quan hệ
của hai nước có sự khởi sắc và đang chuyển sang một trang lịch sử mới.
Sự cải thiện quan hệ Ấn Độ và Pakistan cho thấy xu thế quốc tế hóa, toàn
cầu hóa kinh tế đã ảnh hưởng rất lớn trong việc lôi cuốn các quốc gia cùng hội
nhập để phát triển kinh tế, giữ gìn hòa bình an ninh thế giới và khu vực.
Quan hệ Ấn Độ - Pakistan luôn là vấn đề thu hút được sự theo dõi và
nghiên cứu của cộng đồng quốc tế. Vì thế đây là một đề tài có ý nghĩa về mặt
khoa học và thực tiễn. Mặc dù còn hạn chế về tư liệu song tôi vẫn mạnh dạn
chọn đề tài: “Quan hệ chính trị Ấn Độ - Pakistan từ năm 2001 đến năm
2010” được tôi chọn làm nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
* Nguồn tư liệu tiếng nước ngoài
Từ trước đến nay, quan hệ Ấn Độ - Pakistan đã được nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước quan tâm. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua tình hình
- Trần Thị Lý (cb), (2002), Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hòa Ấn
Độ từ 1991 – 2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân tích chính
sách của Ấn Độ với các nước láng giềng Nam Á, song lại chủ yếu tập trung
vào chính sách của Ấn Độ với Pakistan.
- Đặng Ngọc Hùng, (2004), Hòa giải giữa Ấn Độ và Pakistan, tạp chí
Nghiên cứu quốc tế. Bài viết cũng đề cập đến nguồn gốc xung đột, chiến tranh
từ quá khứ đến hiện tại và sự cố gắng của hai bên trong hòa giải.
- Đánh giá chiến lược các điểm nóng và cơ cấu lực lượng thế giới của
Viện khoa học công an của Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 1998.
Bên cạnh việc mô tả, phân tích các cuộc xung đột trên thế giới, cuốn sách đã
dành một phần để đi vào phân tích xung đột Ấn Độ -Pakistan
- PGS, TS Trình Mưu – TS Vũ Quang Vinh (đồng chủ biên), (2005),
Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỉ XXI, vấn đề, sự kiện và quan điểm,
Nxb Lý luận chính trị. Cuốn sách đề cập đến những diễn biến hết sức sôi
động, phức tạp và khó lường của thế giới trong những năm đầu của thề kỉ
XXI. Trong phần II của cuốn sách có bài đề cập quan hệ Ấn Độ - Pakistan
xung quanh vấn đề Kashmir. Cuốn sách phần nào đã đi vào phân tích xu
hướng đối thoại giữa hai nước Ấn Độ và Pakkistan.
- Trong tập bài giảng “Quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại” của Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội – Khoa Quan hệ quốc
tế, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 2001. Bài 15 của cuốn sách đã giới thiệu
một cách khái chính sách của Cộng hòa Ấn Độ. Những điều chỉnh cụ thể
trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ với các nước lớn. Đặc biệt chính sách
của Ấn Độ đối với khu vực Nam Á trong đó có chính sách với Pakistan.
- Ngoài ra quan hệ Ấn Độ -Pakisran còn được đề cập đến trong một số
bài nghiên cứu bình luận của tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã
Việt Nam. Có thể nói Thông tấn xã Việt Nam có rất nhiều bài viết hay bình
về quan hệ Ấn Độ- Pakistan và luôn đưa ra những thông tin rất cập nhật, đảm
4/ Nguồn tư liệu.
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu chính sau
đây:
- Tài liệu tiếng việt: Các cuốn sách chuyên khảo; công trình nghiên cứu;
các báo cáo khoa học của những tác giả trong và ngoài nước. Những tài liệu
có tính chất văn kiện chính thức của 2 nước như: các hiệp định; tuyên bố
chung; các bài phát biểu trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạo hai nước được
công bố trên báo chí. Các tạp chí: Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu Đông Nam
Á, Tạp chí Đảng Cộng Sản… Các báo: Quân đội nhân dân, Lao động, Sài Gòn
giải phóng, An ninh thế giới… Các tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn
xã Việt Nam.
- Các ấn phẩm nước ngoài và một số trang web.
5/ Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết vấn đề do đề tài đặt ra về mặt phương pháp luận, chúng tôi
đã dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bởi
nếu tìm hiểu về mối quan hệ Ấn Độ -Pakistan hiện nay mà không tìm hiểu
nguồn gốc sâu xa của nó thì người ta sẽ rất khó xác định cốt lõi chính trong
quan hệ Ấn Độ -Pakistan là gì. Vì vậy, bằng cách vận dụng phương pháp lịch
sử trong nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ được đối tượng nghiên cứu, tức là căn
nguyên để dẫn đến tình hình quan hệ giữa hai nước hiện nay. Về mặt phương
pháp, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp logic,
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để sưu tầm và
chọn lọc tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu từ đó phác thảo khách quan về
mối quan hệ Ấn Độ -Pakistan trong giai đoạn nói trên.
6/ Đóng góp của luận văn.
Nước cộng hòa Ấn Độ nằm trên một bán đảo, ba mặt giáp Ấn Độ Dương,
phía Bắc được án ngữ bởi dãy Hymalaya hùng vỹ. Địa thế đó làm cho Ấn Độ
tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài trong suốt quá trình lịch sử thời cổ đại và
trung đại.
Trong khu vực Nam Á, Ấn Độ là nước có diện tích lớn nhất với
3.280.483 km2, sếp hàng thứ 7 trên thế giới. Phía Bắc giáp với Trung Quốc,
NePal, Bhutan, phía Đông Bắc giáp Bangladesh, Myanma. Phía Nam qua eo
biển Pan là Sri-Lanka, phía Tây Bắc giáp Pakistan và Afghanistan. Thủ Đô là
New Delhi.
Địa hình Ấn Độ có nhiều núi non trùng điệp nhưng cũng có những đồng
bằng rộng lớn và trù phú. Lãnh thổ Ấn Độ có mưa nhiều và độ ẩm cao nhưng
cũng có vùng sa mạc khô khan nóng bức. Dãy núi Vindhya đã ngăn cách Ấn
Độ ra làm hai miền rõ rệt: Miền Bắc là lưu vực hai con sông Indus và Gangiê. Miền Nam là cao nguyên Đềcan nằm giữa hai dãy núi Đông Gát và Tây
Gát, với nhiều rừng núi và khoáng sản.
Ấn Độ là nước có dân số đông thứ hai trên thế giới (1tỷ148 triệu người
năm 2008) sau Trung Quốc. Và cũng là một trong những nước có tỷ lệ dân số
tăng nhanh và tỷ lệ tử vong cũng cao.
Thành phần chủng tộc và ngôn ngữ của dân cư ở Ấn Độ vô cùng phức
tạp. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì dân bản địa xa xưa nhất là người
Dravidian. Về sau những người Aryan thuộc ngữ hệ Ấn –Âu đã xâm nhập Ấn
Độ và đuổi người Dravidian dồn về phía Nam. Tiếp đó người Hylạp, Hungno,
Ả-rập và Mông Cổ cũng lần lượt xâm nhập vào bán đảo Ấn Độ. Trải qua
nhiều thế kỷ chung sống đã hình thành nên ở đây một chế độ chủng tộc hết
sức đa dạng và phức tạp.
Bên cạnh đó, Ấn Độ còn là một nước tồn tại nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Tiếng Hinđu được coi là ngôn ngữ chính thức với 35% dân số sử dụng (tiếng
Anh là ngôn ngữ bổ trợ). Ngoài ra, hiến pháp Ấn Độ còn thừa nhận 14 ngôn
nước công nghiệp phát triển. Hiện tại, Ấn Độ đang là địa chỉ hấp dẫn nhiều
nhà đầu tư nước ngoài.
Sau khi giành được độc lập, Ấn Độ chủ trương xây dựng đất nước theo
con đường độc lập dân tộc và tự lực tự cường, thi hành chính sách đối ngoại
hòa bình, không liên kết, hữu nghị với tất cả các nước trong và ngoài khu vực.
Ấn Độ có vai trò và uy tín cao trong phong trào không liên kết, trong tổ chức
Liên Hợp Quốc cũng như trong các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Sau chiến tranh lạnh, Ấn Độ thực hiện chính sách đa dạng hóa quan hệ
với các nước láng giềng, cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, trong đó coi
trọng đẩy mạnh quan hệ với Mỹ và thực hiện chính sách “hướng đông”, phấn
đấu trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc mở rộng.
1.1.2. Nước cộng hòa Pakistan
Nước cộng hòa Hồi giáo Pakistan là nước lớn thứ hai ở Nam Á nằm ở
Tây Bắc của tiểu lục địa Ấn Độ, chạy dài 14.000 km từ dãy núi Hyducut và
Hymalaya ở phía Bắc xuống tới bờ biển Ả-rập. Lãnh thổ Pakistan nằm trong
phạm vi từ 230 45 đến 36030 vĩ độ Bắc và từ 60055 đến 75030 kinh độ Đông.
Pakistan có diện tích 803,944 km2, với dân số năm 2009 khoảng 180 triệu
người [86], thủ đô là Islamabad. Pakistan có chung biên giới với bốn nước:
Phía Đông và Đông Bắc giáp Ấn Độ, phía Tây giáp Iran, phía Tây Bắc giáp
Afghanistan và phía Đông Bắc có một đoạn biên giới với Trung Quốc.
Diện tích Pakistan rộng khoảng 803.944 km2, gồm bốn tỉnh: Punjab,
Sindh, Baluchistan, Peshawar. Ngoài ra, Pakistan còn kiểm soát một phần
bang Jammu và Kashmir- vùng tranh chấp với Ấn Độ. Phần lớn lãnh thổ là
vùng rừng núi và cao nguyên. Phía đông nam là những đồng bằng, đây là
vùng đồng bằng tạo nên bởi con sông Indus và các chi nhánh của nó. Đất
trồng trọt của Pakistan nhìn chung kém màu mỡ, hàng năm thường hay bị lụt
lội, hạn hán, động đất…
phân bón, sắt thép…Du lịch cũng là ngành đang phát triển ở Pakistan. Tuy
vậy, nông nghiệp mới đóng vai trò chính trong nền kinh tế Pakistan, các mặt
hàng nông nghiệp xuất khẩu chính là gạo, bông vải, lúa mì, mía đường và rau
quả. Tuy nhiên, nền kinh tế Pakistan luôn trong tình trạng nợ chồng chất.
Thặng dư và tăng trưởng GDP thấp, chủ yếu phục vụ mục đích trả nợ và chạy
đua vũ trang. Pakistan phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn tài trợ tín dụng quốc
tế. Sau sự kiện 11/9, nhờ việc Pakistan đã từ bỏ sự ủng hộ chính quyền
Taliban quay sang trợ giúp Mỹ và các nước đồng minh chống khủng bố nên
Pakistan đã giành được nhiều lợi thế về chính trị, ngoại giao và kinh tế. Các
nước lớn đã từ bỏ lệnh cấm vận và nối lại viện trợ kinh tế, xóa cho Pakistan
một khoản nợ đọng. Do đó, từ năm 2000 kinh tế Pakistan bắt đầu có tăng
trưởng.
Chính sách đối ngoại cơ bản của Pakistan là mở rộng quan hệ “Hữu nghị
và thiện chí với tất cả các dân tộc trên thế giới”, dựa trên cơ sở công bằng,
đóng góp vào việc tăng cường hòa bình, thịnh vượng trên thế giới. Chính sách
đối ngoại theo hướng cân bằng trong quan hệ với các nước lớn và quan hệ với
Đông Á, Đông Nam Á, ASEAN. Ngoài ra, Pakistan cũng tăng cường quan hệ
với các nước Hồi giáo Trung Á. Quan hệ của Pakistan với Iran và Thổ Nhĩ Kì
và các nước Hồi giáo khác khá mật thiết trong tổ chức Hồi giáo OIC, tham gia
thành lập khối hợp tác kinh tế các nước Hồi giáo( ECO).
Pakistan là thành viên Liên Hợp Quốc, phong trào Không liên kết và
nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như Tổ chức các nước Hồi giáo IOC, khối
liên hiệp Anh, Hiệp hội các nước khu vực Nam Á (SAARC), Diễn đàn đối
thoại châu Á (ACD), tổ chức hợp tác kinh tế khu vực (ECO), diễn đàn ARF,
ASEM, thành viên đối thoại khu vực ASEAN…[87]
1.2. Nguồn gốc của mối quan hệ bất đồng
Mối hận thù giữa hai nước Ấn Độ và Pakistan bắt nguồn từ việc chính
quyền Anh phân chia Ấn Độ thành hai quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ
trị quan trọng trong việc bao vậy Liên Xô, kiềm chế Trung Quốc thời kì chiến
tranh lạnh và cả hiện nay nên cả hai nước đều giành quyền kiểm soát vùng
Kashmir bằng mọi giá.
Ấn Độ cho rằng những người Hồi giáo ở Kashmir không phản đối gì việc
Kashmir sát nhập vào Ấn Độ cho nên vấn đề tôn giáo không gây trở ngại gì
cho việc hợp nhất này. Hơn nữa, Ấn Độ luôn chủ trương xây dựng một quốc
gia đa dân tộc, chính quyền tách khỏi tôn giáo. Vì thế, nếu để mất Kashmir
chính sách trên sẽ bị ảnh hưởng và nó sẽ tạo ra một tiền lệ để xu hướng ly khai
xuất hiện ở Ấn Độ, một số vùng sẽ đòi tách ra khỏi liên bang Ấn Độ.
Phía Pakistan cũng khăng khăng cho rằng, tuyệt đại đa số dân cư
Kashmir theo đạo Hồi cho nên Kashmir phải là của Pakistan. Được thành lập
như quê hương dành cho người Hồi giáo sống ở Ấn Độ, Pakistan sẽ luôn cảm
thấy không hoàn thiện nếu thiếu vắng bang láng giềng này. “Kashmir” có chữ
đầu là “K” tạo thành tên Pakistan, tên này có nghĩa là “mảnh đất trong lành”
vì thế nếu không có “Kashmir”, Pakistan theo nghĩa đen không có nghĩa gì.
Vì cả Ấn Độ và Pakistan đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ
Kashmir, nên từ đó xung đột, tranh chấp lãnh thổ liên tiếp xảy ra giữa hai
nước. Xung đột đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người dân Ấn Độ, làm cho
cả Ấn Độ và Pakistan đều lâm vào tình trạng chính trị bất ổn định, kinh tế xã
hội không phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Tóm lại, vấn đề Kashmir không chỉ là hậu quả của chủ nghĩa tư bản thực
dân mà còn là biểu hiện của mâu thuẫn, xung đột tôn giáo, sắc tộc, biên
giới…Vì thế, từ lâu các giới nghiên cứu luôn cho rằng vấn đề Kashmir giống
như chiếc hộp cộng hưởng tất cả các vấn đề tranh chấp giữa Ấn Độ - Pakistan
và là nguồn gốc đẩy quan hệ hai nước luôn trong tình trạng “cơm không lành
canh không ngọt” kéo dài từ trong quá khứ cho đến hiện tại.
1.3. Mối quan hệ chính trị giữa Ấn Độ - Pakistan trước năm 2001
1.3.1. Từ năm 1947 đến 1971
Kashmir.
Đến tháng 1/1949, cả hai bên chấp nhận ngừng bắn nhưng không thực
hiện nghị quyết ngày 31/8/1948. Nhiều cuộc xung đột nhỏ giữa quân đội hai
nước vẫn diễn ra thường xuyên.
Ngày 15/1/1949, Liên Hợp Quốc lại thông qua Nghị quyết về trưng cầu
dân ý, yêu cầu người Kashmir đi bỏ phiếu quyết định vận mệnh tương lai
Kashmir dưới sự bảo trợ và giám sát của Liên Hợp Quốc. Nhưng điều này
khó thực hiện vì Nghị quyết không nêu ra được những giải pháp sát thực với
tình hình thực tế.
Tuy vậy, các Nghị quyết trên của Liên Hợp Quốc vẫn được cả Ấn Độ và
Pakistan chấp nhận. Đến tháng 7/1949, hai nước đã phân định giới tuyến
ngừng bắn ở Kashmir. Theo đó, Ấn Độ kiểm soát 2/3 diện tích (103.000 km2)
còn Pakistan kiểm soát 1/3 diện tích (80.000 km2).
Từ đó, lập trường của cả hai phía về vấn đề Kashmir hoàn toàn khác
nhau. Ấn Độ coi toàn bộ Kashmir kể cả phần hiện nay do Pakistan đang kiểm
soát là bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của mình. Ấn Độ chủ trương giải
quyết mọi xung đột tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hòa bình,
song phương, không có sự can thiệp của bên ngoài, kể cả Liên Hợp Quốc. Từ
năm 1949, Ấn Độ tìm cách biến Kashmir thành một bang của Ấn Độ. Trong
khi đó, Pakistan vẫn giữ nguyên lập trường lâu nay của mình là phải tiến hành
một cuộc trưng cầu dân ý và coi việc giải quyết tranh chấp Kashmir là ưu tiên
hàng đầu cần được giải quyết trước sau đó mới giải quyết các vấn đề khác.
Lập trường này đã bị Ấn Độ hoàn toàn bác bỏ và sẽ không đồng ý tiến hành
trưng cầu dân ý dưới bất kì hình thức nào. Do lập trường cố chấp của hai bên,
hậu quả là mâu thuẫn giữa Ấn Độ và Pakistan ngày càng gia tăng. Các cuộc
xung đột nhỏ thường xuyên diễn ra ở tuyến biên giới Ấn Độ.
Trong thời gian từ năm 1957 đến đầu 1963 giữa Ấn Độ và Pakistan đã
tiến hành nhiều cuộc đối thoại nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý hơn cho vấn
(25/3/1971). Trong cuộc chiến lần này, cả hai bên đều chịu thiệt hại nặng nề,
song sự thất bại này không hề làm giảm đi mối thâm thù giữa hai nước mà nó
luôn là những đốm than đang âm ỉ và sẵn sàng bùng cháy bất cứ khi nào có
một luồng gió thổi qua.
1.3.2. Từ năm 1972 đến 1990.
Kể từ sau năm 1971, giữa hai bên Ấn Độ và Pakistan tuy không xảy ra
một cuộc chiến tranh nào, song tại gần biên giới hai nước thuộc khu vực
Kashmir, các cuộc xung đột nhỏ vẫn thường xuyên tiếp diễn, khiến cho quan
hệ Ấn Độ - Pakistan luôn luôn ở trong trạng thái hết sức căng thẳng. Nhận
thức được điều đó, các nhà lãnh đạo của hai quốc gia cũng không ngừng tìm
kiếm một giải pháp hòa bình.
Sự khó khăn trong nước cùng với sức ép của bên ngoài, ngày
17/12/1971, Pakistan đã chấp nhận đề nghị ngừng bắn của Liên Hợp Quốc và
gặp Thủ tướng Ấn Độ tại thành phố Shimla (Ấn Độ). Ngày 2/7/1972, thủ
tướng Ấn Độ Indira Gandhi và thủ tướng Pakistan Benazir Bhutto đã kí Hiệp
định lịch sử Shimla. Hai bên đồng ý tìm kiếm giải pháp hòa bình thông qua
các cuộc đàm phán song phương và vạch ra một “tuyến kiểm soát” tạm thời
gọi tắt là LOC. Nội dung của Hiệp định nêu rõ: “ các lực lướng Ấn Độ và
Pakistan sẽ rút khỏi đường biên giới quốc tế của mình. Tại bang jammu và
Kashmir, cả hai bên sẽ tôn trọng tuyến kiểm soát xác định từ thỏa thuận
ngừng bắn ngày 17/12/1971 mà không phụ thuộc vào định kiến của hai bên về
vị trí được chấp nhận. Không bên nào được phép đơn phương thay đổi giới
tuyến đó, ngay cả khi có nhưng mâu thuẫn giữa hai bên và những lý lẽ hợp
pháp. Đồng thời hai bên cam kết sẽ kiềm chế đe dọa hay sử dụng vũ lực xâm
phạm biên giới này. Việc rút quân sẽ được bắt đầu kể từ khi hiệp định này
được cả hai nước phê chuẩn phù hợp với hiến pháp của từng bên và có hiệu
lực kể từ ngày những văn kiện phê chuẩn được trao đổi. Chính phủ hai nước
nhất trí hai bên tiến hành thỏa thuận thêm về thể thức và công tác chuẩn bị để