Quan hệ chính trị ngoại giao giữa việt nam với các nước khu vực đông bắc á thời kỳ 1986 2015 (tóm tắt) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO GIỮA
VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC
ĐÔNG BẮC Á THỜI KỲ 1986 - 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại
Mã số: : 62.22.54.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2016


Công trình được hoàn thành tại: .........................................................
............................................................................................................
............................................................................................................
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Quang Định
TS. Đỗ Thị Hạnh

Phản biện1:.....................................................................................
Phản biện2:.....................................................................................
Phản biện 3:....................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào
tạo họp tại
.......................................................................................................
vào hồi …… giờ……phút, ngày…….tháng……..năm ………………
Phản biện độc lập 1.........................................................................

Châu Á – Thái Bình Dương. Chính vì vậy, môi trường an ninh và phát triển ở
Đông Bắc Á và Đông Nam Á gắn kết chặt chẽ với nhau. Cho đến nay, hầu hết
các quốc gia lớn tại đây như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều là đối tác
chiến lược của Việt Nam. Mặt khác đây là một khu vực phát triển kinh tế năng
động với nhiều trung tâm kinh tế lớn, là đầu tàu của nền kinh tế thế giới. Phát
1

Trên bình diện quốc tế, khu vực là “ một vùng lãnh thổ được cấu tạo từ hai hay
nhiều quốc gia được phân định ranh giới cho một mục đích cụ thể nào đó” (chúng
tôi nhấn mạnh) (xem Phân định khu vực trong nghiên cứu quốc tế trong Hoàng Khắc
Nam (2014), Một số vấn đề lý luận quan hệ quốc tế dưới góc nhìn lịch sử, Nxb CTQG
– ST, HN, Tr. 91 ). Như vậy thuật ngữ khu vực xuất phát đầu tiên từ góc độ địa lý ,
khu vực là một tập hợp các quốc gia nằm trong vùng đặc thù về địa lý ( Xem
Edward D. Mansfield & Helen V. Milner, The New Wave of Regionalism,
International Organization, Vol.53, No 3, Summer 1999, The MIT Press, tr. 590).
Đứng trên góc độ nghiên cứu quốc tế, khu vực là một khái niệm chỉ một phần
không gian của thế giới bao gồm một số quốc gia trong đó. Xuất phát từ các quan
niệm trên, trong luận án này, Châu Á – Thái Bình Dương, Đông Bắc Á và Đông Nam
Á được hiểu là những khu vực theo quan niệm đã nêu trên.

3


triển quan hệ toàn diện với khu vực này, Việt Nam sẽ tranh thủ được vốn, khoa
học - công nghệ và trình độ tổ chức quản lý, tạo điều kiện để hội nhập và phát
triển.
Để hội nhập với khu vực và quốc tế, cần phải nghiên cứu, đánh giá chính
xác tình hình các đối tác trong khu vực, làm cơ sở cho việc hoạch định đường
lối và chính sách với từng quốc gia một cách linh hoạt, tránh đẩy Việt Nam
vào tình thế phải lựa chọn quan hệ giữa các nước - đặc biệt là các nước lớn trong khu vực. Thực tế nêu trên đã đặt ra hàng loạt vấn đề như: Trong quan hệ

4


Về công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể điểm qua
một số công trình tiêu biểu như sau:
Carlyle A.Thayer, Ramses Amer (chủ biên) (1999), trong tác phẩm
“Vietnamese Foreign Policy in Transition” (Chính trị ngoại giao Việt Nam
trong sự chuyển đổi) đã giới thiệu về chủ nghĩa đa phương và sự de dọa của
diễn biến hoà bình ở Việt Nam, những vấn đề lý luận trong chính sách đối
ngoại của Việt Nam hiện nay và bình thuờng hoá quan hệ với Mỹ. Nội dung
công trình này còn đề cập đến quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong quá khứ,
hiện tại, tương lai và triển vọng trong thế kỷ XXI.
Derek Da Cunha trong cuốn Southeast Asian Perspectives on Security
(Viễn cảnh an ninh Ðông Nam Á) đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về an
ninh khu vực Ðông Nam Á, xu hướng chiến lược và phát triển quân đội, phản
ứng của các quốc gia Ðông Nam Á đối với môi trường khu vực thời kỳ hậu
chiến tranh lạnh, vấn đề tranh chấp ở khu vực biển Ðông, nhận thức về Ðông
Nam Á của Nhật Bản và Trung Quốc.
Viết về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có một số bài viết tiêu biểu như sau:
Ang Cheng Guan (1998), Vietnam - China Relations since the End of the
Cold War (Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ khi kết thúc chiến tranh lạnh),
Institute of Defence and Strategic Studies, Singapore đã tập trung phân tích
sự phát triển trong quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc kể từ khi hai nước
bình thường hóa vào tháng 11 năm 1991. Tác giả đề cập chủ yếu đến bốn vấn
đề tác động đến quan hệ hai nước và cho rằng tất cả các vấn đề đó đều có liên
quan đến vấn đề biên giới và lãnh thổ. Ngoài ra tác giả còn nhận định vấn đề
Hoàng Sa và Trường Sa khó có khả năng giải quyết được trong thời gian ngắn.
Carlyle A. Thayer, The Structure of Vietnam - China Relations, 1991 2008 (Cấu trúc quan hệ của Việt Nam - Trung Quốc 1991 - 2008) tập trung
vào phân tích quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc bao gồm các cấu trúc đa
phương và song phương quan trọng ảnh hưởng đến mối quan hệ này. Ngoài ra,

University đã tái hiện tương đối đầy đủ cơ sở lịch sử, chính trị, chính sách đối
ngoại và chính sách thống nhất dân tộc của Hàn Quốc từ sau chiến tranh lạnh.
Tóm lại, thông qua việc trình bày lịch sử nghiên cứu về quan hệ chính trị
- ngoại giao giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á cho thấy, mặc
dù các công trình và bài viết ở trong và ngoài nước chưa bao quát toàn bộ nội
dung nghiên cứu của đề tài, chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề từ một
khía cạnh đơn lẻ hoặc một thời kỳ lịch sử cụ thể. Còn nhiều nội dung liên
quan đến đề tài chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ cần được tiếp tục tìm
hiểu như cơ sở hình thành, sự điều chỉnh chính sách của Việt Nam với các
nước trong khu vực, quá trình triển khai quan hệ trong thực tiễn cũng như
những thành công và hạn chế trong quá trình triển khai quan hệ chính trị ngoại giao nhưng vẫn là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng được tác giả sử
dụng, kế thừa có chọn lọc để hoàn thành luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trình bày bức tranh toàn cảnh về tiến trình quan hệ chính trị - ngoại
giao giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc thời kỳ 1986 đến
2015 từ đó đưa ra những nhận định và đánh giá
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày cơ sở hình thành quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt
Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á từ 1986 đến 2015.
- Trình bày quá trình triển khai và điều chỉnh đường lối, chính sách đối
ngoại của Đảng CSVN và Nhà nước Việt Nam đối với ba chủ thể lớn ở khu
6


vực Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc qua hai thời kỳ từ
1986 – 1991 và từ 1992 - 2015
- Đưa ra một số nhận định, đánh giá về quan hệ chính trị - ngoại giao
giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trong giai đoạn lịch sử

bình thường hóa vào tháng 11/1991, Nhật Bản khôi phục nguồn viện trợ phát
triển chính thức (ODA) vào tháng 11/1992 và quan hệ ngoại giao với Hàn
Quốc được thiết lập vào tháng 12/1992.
Mốc kết thúc của thời điểm nghiên cứu là năm 2015 là thời điểm kết
thúc nhiệm kỳ của Đại hội Đảng lần thứ XI, kết thúc kế hoạch phát triển kinh
7


tế xã hội 5 năm (2011 - 2015) đồng thời cũng là thời điểm tổng kết 30 năm
tiến hành công cuộc đổi mới của Việt Nam.
- Về nội dung, Luận án nghiên cứu quan hệ của Việt Nam với Trung
Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc với nội dung chính là tập trung vào quan hệ
chính trị - ngoại giao bao gồm: đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt
Nam, chính sách đối ngoại của Nhà nước CHXHCNVN, quá trình triển khai,
sự điều chỉnh chính sách đối ngoại từ 1986 đến 2015. Trên cơ sở đó đưa ra
những đánh giá và nhận định về kết quả của quá trình triển khai quan hệ chính
trị - ngoại giao giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận án, chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu chính sau đây:
Thứ nhất: Văn kiện của các kỳ Ðại hội Ðại biểu toàn quốc ÐCSVN chủ
yếu từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XI (2011), Nghị quyết của Bộ Chính trị
và Ban Chấp hành Trung ương Ðảng; các tác phẩm, diễn văn, bài phát biểu,
trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạo Ðảng và Nhà nước Việt Nam trong lĩnh
vực đối ngoại nói chung và các tài liệu liên quan đến các chuyến viếng thăm
cấp cao tại Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nói riêng.
Các văn bản của Chính phủ, Bộ Ngoại giao, tài liệu phân tích, đánh giá
và tổng kết, báo cáo tổng hợp của một số bộ, ngành liên quan đặc biệt là của
Bộ Ngoại giao và Vụ Đông Bắc Á.
Ngoài ra luận án còn khai thác các Văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản

Đây là một công trình nghiên cứu về quan hệ chính trị - ngoại giao
trên góc độ của khoa học lịch sử, chúng tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp thống kê
Ngoài ra, những phạm trù cơ bản của lý luận quan hệ quốc tế như vấn đề
chủ thể, quyền lực, công cụ và hệ thống trong quan hệ quốc tế, chủ quyền
quốc gia và lợi ích quốc gia – dân tộc được sử dụng như là các công cụ
phương pháp luận để phân tích các mối quan hệ quốc tế cụ thể.
Trong các phương pháp như vừa nêu trên, phương pháp lịch sử và
phương pháp logic là hai phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng để
nghiên cứu đề tài này.
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận án
6.1. Đóng góp mới của luận án
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam đặt vấn đề nghiên cứu
một cách toàn diện và hệ thống về quan hệ chính trị - đối ngoại giữa Việt
Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á (1986 - 2015), góp phần khỏa lấp
khoảng trống trong các nghiên cứu về quan hệ chính trị - ngoại giao của Việt
Nam thời hiện đại.
6.2. Ý nghĩa khoa học
- Khẳng định sự điều chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam đối với khu vực Đông Bắc Á cụ thể là với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn
Quốc trong giai đoạn này là đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của
quan hệ quốc tế ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng và trên thế
giới nói chung.
- Phân tích những thành tựu và hạn chế trong quan hệ giữa Việt Nam với các
nước khu vực Đông Bắc Á, đưa ra những kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện
chủ trương hội nhập với khu vực và thế giới trong đường lối và chính sách đối
ngoại của Việt Nam.

chuyển biến. Điều này đã chi phối lớn đến việc xây dựng đường lối đối ngoại
đổi mới của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia trên phạm vi toàn thế
giới nói chung.
1.1.1.1. Cách mạng khoa học - công nghệ và sự tăng tốc của
toàn cầu hóa
Quá trình đổi mới của Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ bởi sự bùng nổ
những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ bắt đầu từ giữa
thập niên 70 thế kỷ XX, đặc biệt là công nghệ thông tin đã tác động đến mọi
mặt đời sống quốc tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển
mạnh mẽ chưa từng thấy. Cuối những năm 80 thế kỷ XX, những tác động của
khoa học và công nghệ đã phát huy tác dụng làm thay đổi tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất, mở ra giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nhân
10


loại dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế tri thức khiến cho nhu cầu giao lưu, học
hỏi và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên thiết yếu và không thể đảo ngược.
1.1.1.2. Liên Xô tan rã và sự chuyển biến từ trật tự thế giới cũ
sang trật tự thế giới mới
Quá trình khủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên
Xô cũng như sự tan rã của trật tự hai cực Yalta là chuyển biến quan trọng và to
lớn trong quan hệ quốc tế những năm cuối thế kỷ XX.
Đối với Việt Nam, Liên Xô sụp đổ khiến Việt Nam mất đi một chỗ dựa tin
cậy, một đồng minh chiến lược trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Thực tế đó khiến Việt Nam phải chủ động điều chỉnh đường lối, chính sách
đối ngoại của mình theo hướng vận động của tình hình thế giới và khu vực
theo xu thế đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế và hội nhập
kinh tế quốc tế.
1.1.1.3. Xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn và hợp tác khu vực
trong quan hệ quốc tế

Quốc đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Sự vận động và phát
triển của các nền kinh tế lớn ở khu vực này chi phối mạnh mẽ đến việc hình
thành những xu thế của quan hệ quốc tế hiện đại.
I.1.2.2. Khu vực Đông Nam Á
Trong tổng thể chính sách đối ngoại, Việt Nam luôn coi trọng và dành
ưu tiên cho quan hệ với các nước láng giềng, khu vực. Các nước ASEAN có vị
trí đặc biệt đối với Việt Nam vì có nhiều nét tương đồng về văn hóa, có quan
hệ láng giềng, truyền thống và gắn bó chặt chẽ về an ninh, chính trị kinh tế.
1.1.2.3. Việc giải quyết vấn đề Campuchia
Đây được xem là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc
chuyển biến trong quan hệ quốc tế tại khu vực Đông Nam Á nói riêng và khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung.
1.2.1. Nhu cầu phá thế bao vây, cấm vận và tăng cường quan hệ
đối ngoại
Từ nửa sau thập niên 70 của thế kỷ XX, Việt Nam rơi vào tình trạng bị
bao vây, cô lập trong quan hệ đối ngoại từ các thế lực bên ngoài. Sự đối đầu và
thù địch của Mỹ và các nước khác với Việt Nam sau năm 1975 và đặc biệt sau
sự kiện Việt Nam gửi quân tình nguyện sang giúp đỡ nhân dân Campuchia đã
tạo ra tình trạng căng thẳng, mất ổn định tại khu vực. Việt Nam bị rơi vào tình
thế bị bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã
hội nghiêm trọng. Thực trạng này đã dẫn đến một yêu cầu cấp bách đối với
Việt Nam là phải giải tỏa tình trạng căng thẳng, đối đầu thù địch, phá thế bao
vây, cấm vận tiến tới bình thường hóa mở rộng hợp tác với các nước tạo môi
trường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế.
1.2.2. Nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế
Sau năm 1975, khi Việt Nam chưa kịp khắc phục hậu quả nặng nề do
chiến tranh thì lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây
Nam và phía Bắc cùng tình trạng bị bao vây, cô lập ngặt nghèo.
Để chống nguy cơ tụt hậu, một mặt Việt Nam phải phát huy nguồn lực
trong nước, mặt khác phải tranh thủ các nguồn lực bên ngoài. Muốn giải tỏa

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đặc biệt sau sự kiện ngày
11/9/2001, đã làm cho thế giới bất an và chia rẽ sâu sắc hơn. Trong bối cảnh
phức tạp của thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã triệu
tập Hội nghị Trung ương lần thứ VIII khóa IX và ra Nghị quyết về “Chiến
lược bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới”. Nghị quyết thể hiện sự sáng tạo
trong việc nắm bắt kịp thời xu thế của thời đại, đặc biệt khi đề cập đến vấn đề
đối tượng và đối tác.
Tiếp đó Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) chỉ rõ: Việt Nam là bạn là đối
tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến
trình hợp tác quốc tế và khu vực. Đến Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt
Nam tiếp tục khẳng định Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước
Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa giàu mạnh”[46; 742]. Điểm mới trong chính sách
đối ngoại của Việt Nam được thể hiện qua Đại hội Đảng lần thứ X và XI là để
cập đến việc tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và là thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Để hoàn thiện chủ trương hội nhập quốc tế ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị
ra Nghị quyết số 22 về hội nhập quốc tế với quan điểm chỉ đạo chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
13


Chương 2
Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông
Bắc Á từ 1986 đến 1991
2.1. Khái quát quan hệ giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông
Bắc Á trước năm 1986
2.1.1. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là mối quan hệ đặc biệt do hai nước

của Nhật Bản thời kỳ cận đại.
Năm 1940, Nhật đưa quân vào chiếm đóng Việt Nam, sau năm 1954,
14


Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, Nhật Bản chỉ có quan hệ với Việt Nam
Cộng hòa không thiết lập quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau khi Hiệp Paris được ký kết tháng 01/1973, Việt Nam thiết lập quan
hệ ngoại giao chính thức với Nhật Bản vào tháng 09/1973. Sau năm 1975, hai
bên trao đổi Đại sứ và ký Thoả thuận về việc chính phủ Nhật Bản bồi thường
chiến tranh cho Việt Nam, dưới danh nghĩa viện trợ không hoàn lại của chính
phủ Nhật Bản, với tổng số tiền là 13,5 tỷ Yên tương đương khoảng 49 triệu
USD. Đầu năm 1976, Nhật Bản và Việt Nam đã thành lập Đại sứ quán ở thủ
đô mỗi nước và tiến hành đàm phán giải quyết các vấn đề tồn đọng trong quá khứ.
Có thể nói quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ sau năm 1975 đến năm 1986
là thời kỳ phát triển không bình thường. Một mặt, Nhật Bản cùng với Mỹ và
các nước ASEAN chống đối Việt Nam xoay quanh vấn đề Campuchia nhưng
cũng đã phản đối việc Trung Quốc tấn công Việt Nam vào tháng 02/1979.
Nhật Bản đã sớm nhìn thấy vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của
mình ở Châu Á – Thái Bình Dương nên vẫn giữ quan hệ nhất định với Việt
Nam.
2.1.3. Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc
Việt Nam – Hàn Quốc có mối quan hệ bang giao từ rất sớm, ngay từ thời
kỳ trung đại nhân dân hai nước đã có những hiểu biết nhất định về nhau. Đến
thời cận - hiện đại, hai nước đều nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực
dân, cùng trải qua những năm tháng gian khổ của sự chia cắt đất nước và sau
đó bắt tay tái thiết đất nước trên sự đổ nát hoang tan do chiến tranh để lại.
Sau năm 1954, Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Cộng hòa, trở thành đồng minh của Mỹ và đưa quân tham chiến trong cuộc
chiến tranh Việt Nam và không thiết lập quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

2.3. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các
nước ở khu vực Đông Bắc Á
2.3.1. Đối với Trung Quốc
Trung Quốc vừa là một nước lớn vừa là láng giềng của Việt Nam. Trong
cả bốn ưu tiên của Việt Nam khi xây dựng chính sách đối ngoại thời kỳ đổi
mới, Trung Quốc hội tụ đầy đủ các yếu tố ưu tiên đó. Xuất phát từ lợi ích quốc
gia - dân tộc, trong chính sách đối ngoại của mình, Việt Nam luôn mong muốn
phát triển tốt quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc.
Trong Đại hội lần thứ VI (12/1986), Việt Nam chủ trương phấn đấu bình
thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam kêu gọi và khẳng định sẵn
sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ cấp nào, bất cứ ở đâu nhằm lợi ích của
hai nước. Tiếp theo, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) chỉ rõ cần có
chính chính sách lâu dài và toàn diện để khắc phục tình trạng đối đầu trong
quan hệ với Trung Quốc.
Trong báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng
lần thứ VII (6/1991) chỉ rõ: “Thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với
Trung Quốc, từng bước mở rộng sự hợp tác Việt – Trung, giải quyết những
vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng” [46; 215].
2.3.2. Đối với Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có tiềm lực kinh tế to lớn, có vai trò quan trọng
trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, phát triển tốt quan hệ với Nhật Bản
sẽ là cầu nối để Việt Nam nâng cao uy tín và có được tiếng nói ủng hộ trong
quan hệ quốc tế ở khu vực.
Đại hội VI (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới chính sách đối ngoại
rộng mở, khẳng định “Nhà nước ta chủ trương tăng cường và mở rộng quan
hệ hữu nghị với…(…) Nhật Bản trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi” [46; 84].
Tiếp đó Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) lần đầu tiên Việt Nam nêu
rõ: “ta cần có chính sách tích cực thúc đẩy quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật
16


Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên một quan chức cấp Bộ trưởng của Nhật
Bản viếng thăm Việt Nam kể từ khi Nhật Bản thiết lập Đại sứ quán tại Việt
Nam năm 1976.
2.4.3. Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc vẫn chưa thiết lập quan
hệ chính trị - ngoại giao. Tuy không có quan hệ chính thức nhưng trong thực
tế giữa hai nước vẫn duy trì một số quan hệ không chính thức trên lĩnh vực
kinh tế, cụ thể trong quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian Hồng Kông và
Nhật Bản.
Năm 1991, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu bàn đến vấn đề bình
thường hóa quan hệ hai nước thông qua Đại sứ Hàn Quốc tại Thái Lan. Ngày
17


23 - 12 – 1991, phái đoàn đàm phán thiết lập quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam
do Đại sứ Hàn Quốc tại Thái Lan là Jeong Ju Nyon dẫn đầu đã đến Việt Nam.
Phái đoàn đã thực hiện cuộc hội đàm lần thứ nhất với Thứ trưởng Ngoại giao
Việt Nam Lê Đức Cang. Tháng 01/1992, chính phủ Hàn Quốc lần đầu tiên cho
phép doanh nghiệp của nước mình trực tiếp đầu tư vào Việt Nam. Từ ngày
30/3 đến ngày 2/4/1992, hai bên tiếp tục có cuộc hội đàm lần thứ hai tại Việt
Nam. Kết quả của cuộc hội đàm là Việt Nam và Hàn Quốc đã ký thỏa thuận
trao đổi Văn phòng liên lạc vào ngày 20/4 /1992. Ngày 22/12/1992 Bộ trưởng
Ngoại giao Hàn Quốc thay mặt cho chính phủ Hàn Quốc chính thức ký kết các
hiệp ước hợp tác và đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Việt Nam.
Chương 3
Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam với các nước
khu vực Đông Bắc Á từ 1992 đến 2015
3.1. Nhân tố tác động đến quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt
Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á
3.1.1. Sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nước lớn ở khu vực

trên thế giới” [46; 363]
Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam đã thể hiện chủ trương hội nhập khu
vực trong Báo cáo của BCHTW Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) về
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 chỉ rõ: Châu Á – Thái Bình
Dương vẫn là khu vực phát triển năng động. Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006),
vẫn khẳng định xu thế hòa bình hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng tiếp tục gia tăng, hợp tác
trong khu vực ngày càng mở rộng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của mỗi quốc gia.
Trong Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ
XI (4/2011) tiếp tục khẳng định nhận thức về vai trò của khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương trong đó có khu vực Đông Nam Á vẫn là khu vực phát triển
năng động.
Như vậy chủ trương hội nhập khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với
hai đầu tầu kinh tế là Đông Bắc Á và Đông Nam Á - được thể hiện trong quá
trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng bắt đầu từ Đại hội VII (6/1991) - là
yếu tố quan trọng tác động mạnh mẽ đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam nói
chung đồng thời cũng là tiền đề dẫn đến việc điều chỉnh và triển khai quan hệ
chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam với các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc từ năm 1992 đến nay.
3.2. Sự phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các
nước khu vực Đông Bắc Á
3.2.1. Với Trung Quốc
Sau khi bình thường hóa quan hệ Việt – Trung vào năm 1991, quan hệ hai
nước bước vào thời kỳ phát triển mới, tuy nhiên, Việt Nam vẫn luôn nhìn nhận
mối quan hệ này ở tính hai mặt vừa hợp tác vừa đấu tranh trong quan hệ đối
ngoại song phương. Mặc dù Việt Nam đã rất linh hoạt trong việc điều chỉnh
chính sách với Trung Quốc nhằm duy trì quan hệ hữu nghị giữa hai nước, song
vấn đề nổi cộm diễn ra trong nhiều năm là tranh chấp biên giới lãnh thổ trên
Biển Đông vẫn là một trở ngại không nhỏ trong việc duy trì quan hệ hai nước.

Quan hệ giữa hai Đảng cầm quyền là kênh quan trọng hàng đầu trong
việc thúc đẩy, xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, là cơ sở
để định hướng cho các quan hệ khác phát triển.
3.3.1.1.2. Quan hệ Nhà nước
Từ sau khi bình thường hóa quan hệ cho tới năm 2015, quan hệ về
mặt Nhà nước giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra thường xuyên và liên tục.
Các cuộc viếng thăm cấp cao có ý nghĩa quan trọng, tác động mạnh mẽ đến sự
hợp tác và phát triển của hai bên. Điều đó hoàn toàn phù hợp với nhu cầu phát
triển của cả hai nước đồng thời vừa phù hợp với xu thế phát triển của quan hệ
quốc tế, khu vực và thế giới. Đây là tiền đề nâng cấp quan hệ Việt Nam –
Trung Quốc từ quan hệ hợp tác toàn diện lên quan hệ đối tác chiến lược.
3.3.1.1.3. Quan hệ về vấn đề biên giới và lãnh thổ
Có thể nói, vấn đề gai góc nhất do lịch sử để lại trong quan hệ chính
trị - ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc chính là vấn đề biên giới lãnh
thổ trong đó bao gồm vấn đề biên giới trên đất liền và biên giới trên biển.
Trong vấn đề biên giới trên biển còn tồn tại hai vấn đề còn tranh chấp là biên
giới trên Vịnh Bắc bộ và vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Vì vậy, sau khi
bình thường hóa quan hệ vào tháng 11/1991, lãnh đạo cấp cao hai nước đã
20


quyết tâm giải quyết các vấn đề biên giới và lãnh thổ còn tồn tại giữa hai nước.
Biển Đông là vấn đề gai góc nhất còn tồn tại lâu dài trong quan hệ
song phương Việt Nam – Trung Quốc. Trong nhận thức của Đảng và Nhà
nước Việt Nam, Biển Đông là một phần trong quan hệ giữa Việt Nam với
Trung Quốc. Vì vậy khi xử lý những bất đồng, Việt Nam luôn chủ trương tôn
trọng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng và tôn
trọng lẫn nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định của khu
vực và thế giới, không ảnh hưởng đến đại cục.
Nhìn chung, trong giai đoạn từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước

Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung chủ yếu ở các tổ chức quốc tế hiện
21


đang tồn tại và hoạt động ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà Việt Nam
và ba quốc gia nói trên đều là thành viên, cụ thể là các cơ chế và tổ chức như
ASEAN + 3, Diễn đàn An ninh khu vực Đông Nam Á (ARF), Diễn đàn Hợp
tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Hội nghị cấp cao Đông Á
(EAS) và tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP), Hội đồng Hợp tác An ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP) Hội
nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng ADMM+ gồm 10
nước ASEAN và 8 nước đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN là Trung Quốc,
Nga, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand, Hội nghị
Cấp cao An ninh Châu Á – Thái Bình Dương hay còn gọi là Đối thoại Shangri
– La (Shangri – La Dialogue – SLD) ra đời năm 2002 theo sáng kiến của Viện
Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế London (IISS) quy tụ các quan chức quốc
phòng hàng đầu của 28 nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong
đó có các nước lớn như Mỹ, Nga,Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,
Australia…
Như vậy nếu trong giai đoạn 1986 – 1991, quan hệ chính trị - ngoại giao
giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á chứa đựng nhiều thăng trầm
do sự vận động từ thời kỳ căng thẳng đến bình thường hóa, khai thông và thiết
lập quan hệ ngoại giao thì đến giai đoạn 1992 – 2015, quan hệ chính trị - ngoại
giao giữa Việt Nam và các nước Đông Bắc Á là thời kỳ thúc đẩy, nâng cấp và
phát triển quan hệ theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tuy nhiên, bản thân mối
quan hệ này vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Những trở ngại này biểu hiện ở
mỗi đối tác mà Việt Nam triển khai quan hệ có khác nhau. Về cơ bản, đối với
Nhật Bản và Hàn Quốc thì quan hệ là đồng thuận nhưng đối với Trung Quốc
quan hệ này vẫn còn chứa đựng nhiều thăng trầm, bất đồng chủ yếu xoay
quanh vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển cụ thể là vấn đề tranh

4.1.2.3. Trong quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn
còn tồn tại một số vấn đề mà hai bên cần khắc phục để đi đến nhận thức chung.
4.2. Nhận định về quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam với
các nước khu vực Đông Bắc Á
Trên cơ sở phân tích những thành tựu và hạn chế trong quan hệ chính trị ngoại giao giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á, chúng tôi bước
đầu đưa ra một số nhận định sau đây
4.2.1. Đổi mới tư duy trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là yếu
tố đảm bảo cơ bản cho quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam với khu
vực Đông Bắc Á hình thành và phát triển
4.2.2. Trong khuôn khổ các quan hệ đối tác chiến lược, Việt Nam với
Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều có mục tiêu chung là hướng đến lợi
ích quốc gia.
4.2.3. Việt Nam cần tránh rơi vào tình trạng bị chi phối bởi chính sách
đối ngoại của các đối tác trong quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Bắc Á
4.2.4. Những điểm tương đồng và khác biệt trong quan hệ chính trị ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc
4.2.4.1. Điểm tương đồng
Thứ nhất, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều là những đối tác
đã có quan hệ lâu dài với Việt Nam trong lịch sử.
Thứ hai, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều hướng đến mục
tiêu là lợi ích quốc gia khi tiến hành quan hệ với Việt Nam.
Thứ ba, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều là các đối tác chiến
lược quan trọng của Việt Nam trong quá trình triển khai quan hệ chính trị ngoại giao.
23


4.2.4.2. Điểm khác biệt
Thứ nhất, quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam với các đối
tác là quan hệ giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau.
Thứ hai, quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác là quan hệ giữa một
nước đang phát triển với các cường quốc ở khu vực nói riêng và trên thế giới

nội dung chính là thực hiện ngoại giao cân bằng, trung lập và đa phương đối
với các nước khu vực Ðông Bắc Á. Có thể khẳng định rằng việc Đảng Cộng
24


sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh chính
sách đối ngoại và triển khai khá tích cực, năng động với các nước Trung Quốc,
Nhật Bản và Hàn Quốc theo đường lối đối ngoại rộng mở, độc lập tự chủ, đa
dạng hóa và đa phương hóa là hoàn toàn đúng đắn. Từ đó đã đem lại những
kết quả to lớn, góp phần quan trọng vào việc phá thế bao vây cấm vận, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, hội nhập khu vực và quốc tế nhằm nâng
cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Ðứng trước những vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế của khu vực
Đông Bắc Á như phát triển vũ khí hạt nhân, bất đồng do lịch sử để lại, tranh
chấp chủ quyền biển đảo, Việt Nam cần tỉnh táo, khôn khéo, biết điều hòa sức
mạnh giữa các cường quốc nhưng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng
đầu. Ðẩy mạnh hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa – xã hội nhằm xoa dịu căng
thẳng, mở rộng hiểu biết và thắt chặt tình hữu nghị với các nước Ðông Bắc Á
vì an ninh, ổn định của hai quốc gia và toàn khu vực.
3. Nhìn lại chặng đường gần ¼ thế kỷ phát triển quan hệ ngoại giao giữa
Việt Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á cho thấy bên cạnh những thành
tựu đạt được, trong quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác chiến lược vẫn còn
tồn tại những khó khăn, thách thức nhất định. Cho đến nay trong quá trình
điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam chủ yếu chỉ dừng lại đối với các
quốc gia riêng lẻ chưa định hình chính sách đối với toàn bộ khu vực có lợi ích
chiến lược đối với Việt Nam như khu vực Đông Bắc Á. Quá trình triển khai
chính sách cho thấy, chưa có sự cân bằng trong quan hệ giữa Việt Nam với các
đối tác, ngoài ra với bất đồng nổi cộm là tranh chấp chủ quyền Biển Đông
giữa Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam chưa đưa ra được những giải pháp
đủ mạnh để giảm bớt những hoạt động khiêu khích, gia tăng căng thẳng từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status