cảm hứng bi tráng trong tiểu thuyết tru tiên - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Yến Việt

CẢM HỨNG BI TRÁNG
TRONG TIỂU THUYẾT TRU TIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Yến Việt

CẢM HỨNG BI TRÁNG
TRONG TIỂU THUYẾT TRU TIÊN

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã ngành: 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH PHAN CẨM VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012



trong đó, tiểu thuyết Tru Tiên của tác giả Tiêu Đỉnh là tác phẩm đã để lại cho tôi
nhiều ấn tượng và cảm xúc nhất. Cùng với sự phổ biến và sức ảnh hưởng của nó
ở cả Trung Quốc và Việt Nam, tôi nhận thấy đây là một tác phẩm cần phải được
quan tâm và nghiên cứu. Bởi vậy tôi đã chọn đề tài “Cảm hứng bi tráng trong
tiểu thuyết Tru Tiên” để thực hiện luận văn nghiên cứu trong chương trình Cao
học của mình.
Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân, tôi đã từng
bước nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình đúng thời hạn mà trường Đại
học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã quy định. Luận văn của tôi đã được
Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân thông qua và đồng ý cho bảo vệ.
Để thực hiện luận văn của mình, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu từ các
nguồn khác như sách, báo, công trình nghiên cứu khoa học, Internet… nhưng chỉ
dưới dạng trang bị kiến thức cần thiết và trích dẫn hỗ trợ cho luận văn. Những
trích dẫn trong luận văn của tôi đều ghi chú nguồn cụ thể và chính xác.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình. Tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này.
Tuy nhiên, không có cái gì là hoàn hảo. Luận văn của tôi chắc chắn còn
nhiều điều sai xót, kính mong Hội đồng phản biện và những ai quan tâm đóng
góp ý kiến để luận văn này được hoàn thiện hơn.
Người thực hiện luận văn
Phạm Thị Yến Việt


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................ 3
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................... 4
MỤC LỤC ...................................................................................... 5
MỞ ĐẦU ........................................................................................ 7
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................7
2. Lịch sử vấn đề ...........................................................................................9

3.2. Thời gian nghệ thuật ........................................................................ 133
3.3. Nghệ thuật miêu tả các cuộc đấu .................................................... 140

KẾT LUẬN ................................................................................ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 151


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trung Quốc không chỉ tự hào và hãnh diện vì đất nước mình đã sản sinh ra
những nhà thơ nổi tiếng mà còn có những tiểu thuyết gia lớn với những tác phẩm
vang danh không chỉ trong nước và với thế giới như Tam quốc diễn nghĩa của La
Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Hồng lâu
mộng của Tào Tuyết Cần… Những kiệt tác này đã trải qua thời gian lâu dài và đã
chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của nó. Vào thế kỉ XX, tiểu thuyết Trung Quốc
lại thêm một lần nữa chinh phục độc giả khắp trong và ngoài nước với thể loại tiểu
thuyết võ hiệp cùng những tên tuổi lớn như Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long,
Ôn Thụy An, Hoàn Châu Lâu Chủ… Trong đó, Kim Dung cùng với hàng loạt tác
phẩm xuất sắc đã đưa ông lên vị trí “võ lâm minh chủ” trong thể loại này.
Tuy nhiên, “thời đại hoàng kim” của tiểu thuyết võ hiệp đã dần qua đi và
người Trung Quốc cảm thấy không mấy lạc quan về tiền đồ phát triển của tiểu
thuyết võ hiệp trong tương lai. Nhà văn Kim Dung đã nói: “Bản thân tiểu thuyết võ
hiệp là một thứ để giải trí, bất kể tác phẩm viết như thế nào thì thực ra việc phải
chăng nó có thể vượt ra khỏi sự hạn chế của bản thân hình thức là cả một vấn đề,
tiền đồ phát triển không lớn” [4, tr.517]. Tên tuổi của những cây bút đại thụ thế hệ
trước đã bao trùm một cái bóng quá lớn lên người cầm bút thế hệ sau muốn viết về
thể loại này.
Đến thế kỉ XXI, nhiều cây bút trẻ của Trung Quốc đã mạnh dạn “dấn thân”
vào sáng tác truyện võ hiệp, tiếp nối sự nghiệp của các vị tiền bối. Trong đó nổi bật

hình tượng nhân vật cũng mang đậm chất bi tráng này. Vì vậy, với sự gợi ý của
người hướng dẫn cùng với sự tâm đắc của bản thân, tôi quyết định chọn đề tài:
“Cảm hứng bi tráng trong tiểu thuyết Tru Tiên” để thực hiện luận văn tốt nghiệp
của mình.
Trong luận văn này, tôi không nhằm mục đích so sánh tiểu thuyết võ hiệp của
Kim Dung, Cổ Long, Lương Vũ Sinh… với tiểu thuyết Tru Tiên của Tiêu Đỉnh ai
hơn ai, bởi vì so với những “cây đại thụ” ấy thì tuổi đời của Tiêu Đỉnh còn quá trẻ
và tham gia sáng tác chưa nhiều. Thế nhưng có một điều không thể không công


nhận, đó là sức hút của tác phẩm này đối với độc giả trẻ, trong đó có không ít
những độc giả lớn tuổi hiện nay. Vì vậy, với đề tài: “Cảm hứng bi tráng trong tiểu
thuyết Tru Tiên”, tôi muốn phân tích cái hay về nội dung và đặc sắc về nghệ thuật
của tác phẩm đã góp phần làm nên sức hút cho thể loại tiểu thuyết võ hiệp tưởng
chừng đã “hết đất dụng võ” này.
Nghiên cứu đề tài này sẽ là cơ hội để người viết hiểu sâu thêm, biết rộng hơn
về tiểu thuyết võ hiệp và có được một cái nhìn tổng quát hơn về tình hình sáng tác
thể loại này vào thời “hậu Kim Dung” [4, tr.516] (chữ dùng của Ngô Tú Minh, Trần
Khiết). Qua đề tài này, tôi mong muốn làm một chiếc cầu nối giúp bạn đọc trẻ ngày
nay hiểu sâu thêm thể loại tiểu thuyết viết về câu chuyện của những người anh
hùng, võ hiệp trong thời xưa kết hợp với những yếu tố của thời kì đương đại, một
thể loại tiếp nối theo loại tiểu thuyết võ hiệp thời Kim Dung trước đây.

2. Lịch sử vấn đề
Bắt đầu ra mắt độc giả trên mạng Internet từ năm 2003, Tru Tiên lập tức “gây
sốt” trong cộng đồng cư dân mạng. Cùng với Phiêu Diểu Chi Lữ và Tiểu Binh
Truyền Kỳ, Tru Tiên được xem là “Tam đại kì thư Internet”. Đến năm 2004, Tru
Tiên mới được in thành sách ở Trung Quốc và phải đến ngày 12 tháng 3 năm 2007
mới được xuất bản ở Việt Nam. Là một tác phẩm mới, rất mới nên hầu như tiểu
thuyết này chưa được nghiên cứu. Có chăng chỉ là một số bài viết ngắn lẫn ý kiến

năm gần đây lại xôn xao với “cơn sốt” Tru Tiên của nhà văn Tiêu Đỉnh. Ảnh hưởng
của Tru Tiên đã kích thích cho việc nhiều cuộc thi sáng tác truyện võ hiệp Việt
được tổ chức trên các mạng chuyên về văn học võ hiệp.
Tác giả Xuân Thân trong bài viết “Văn học mạng – những bước đầu chập
chững” đã cho thấy tình hình văn học mạng hiện nay. Thông qua mạng Internet,
tác phẩm của nhiều nhà văn hay của những người mới tập tành viết được đến với
nhiều độc giả hơn, và do đó nhiều tác phẩm trở nên thành công hơn cả sự mong đợi.
Tác phẩm được sáng tác trên mạng, đến với độc giả qua mạng nhưng chính độc giả
cũng lại đóng vai trò không nhỏ trong việc góp phần sáng tác tác phẩm. Trong đó,
Tru Tiên của Tiêu Đỉnh là một hiện tượng tiêu biểu, có thể xem đây là tác phẩm
tiên phong cho hiện tượng sáng tác qua mạng của Trung Quốc vào Việt Nam.


Hồng Hạc với những cảm xúc dạt dào trong bài viết “Chuyện tình trong
tiểu thuyết võ hiệp kì ảo Tru Tiên” đăng trên báo Thanh Niên đã giới thiệu và phân
tích về những tình cảm ban đầu lúc Trương Tiểu Phàm còn là một chàng thiếu niên
ngây ngô và chất phác: Tru Tiên “bàng bạc chất kì ảo võ hiệp và mênh mang màu
hoa nhớ muôn đời: màu của trái tim yêu” [95].
Lời của nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin: “Tru Tiên là tác phẩm đỉnh cao
của thể loại tiểu thuyết kì ảo Trung Quốc, cấu tứ kì diệu, khí thế mạnh mẽ, mị lực
tuyệt đối”[19].
Tuy nhiên, những dẫn chứng trên đây cũng chỉ mới là những ghi chép tản
mạn chứ chưa phải là những bài nghiên cứu hoàn chỉnh và đầy đủ. Đây là một khó
khăn đối với đề tài nhưng cũng đã mở ra những gợi ý rất lớn và hết sức quý báu đối
với người viết. Vì vậy, người viết sẽ phải cố gắng hết mình. Với tất cả lòng ngưỡng
mộ đối với tác phẩm, cùng với những gợi ý ít ỏi mà rất cần thiết từ phía báo chí và
bạn đọc Tru Tiên, người viết hi vọng sẽ hoàn thành tốt đề tài mà mình đã chọn.

3. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết võ hiệp đã có sức sống lâu bền trong lòng người đọc và có những

- Phương pháp so sánh: trên cơ sở những luận điểm, luận cứ đã phân tích, người
viết sẽ đưa ra sự so sánh để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong sự kế
thừa và cách tân về thể loại tiểu thuyết tân võ hiệp của những nhà văn trẻ đương đại
của Trung Quốc so với tiểu thuyết võ hiệp của những nhà văn thời trước.

5. Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu (7 trang), kết luận (3 trang), nội dung của luận văn (135
trang) được trình bày thành ba chương chính:
Chương 1 – Nguyên nhân ra đời dòng tiểu thuyết võ hiệp ở Trung Quốc
và tác phẩm Tru Tiên (36 trang): đề cập đến các vấn đề: ảnh hưởng của những học
thuyết tư tưởng Trung Quốc đến tiểu thuyết võ hiệp, từ Sử kí của Tư Mã Thiên đến
tiểu thuyết võ hiệp thời Kim Dung, sự ra đời của tiểu thuyết Tru Tiên và tác phẩm
Tru Tiên. Trong phần tác phẩm Tru Tiên sẽ nói đến tác giả Tiêu Đỉnh và tóm tắt tác
phẩm.


Chương 2 – Cảm hứng bi tráng trong Tru Tiên, những thể hiện về nội
dung (71 trang): là một trong hai chương trọng tâm (chương 2 và 3), tập trung phân
tích những thể hiện về nội dung của cảm hứng bi tráng trong tác phẩm. Chương này
sẽ chia ra 4 mục chính: bi kịch của định mệnh và sự thù hận, vượt lên giới hạn của
bản thân và thử thách của hoàn cảnh, trong hoàn cảnh éo le nhận ra tình đời, tình
người, sự chiêm nghiệm những triết lí.
Chương 3 – Cảm hứng bi tráng trong Tru Tiên, những thể hiện về nghệ
thuật (27 trang): đi vào tìm hiểu ba đặc điểm nghệ thuật thể hiện cảm hứng bi tráng:
không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nghệ thuật miêu tả các cuộc đấu.


Chương 1: NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI DÒNG TIỂU THUYẾT
VÕ HIỆP Ở TRUNG QUỐC VÀ TÁC PHẨM TRU TIÊN
1.1. Ảnh hưởng của các học thuyết tư tưởng Trung Quốc đến tiểu

thương tất cả). Mặc gia đề cao chữ “nghĩa”, chủ trương không giết hại người vô cớ,
yêu thương tất cả, không làm điều bất nghĩa nhưng cũng chủ trương có thể dùng
bạo lực để trừ bạo, bảo vệ chính nghĩa. Những chủ trương này trở thành kim chỉ
nam cho suy nghĩ và hành động của những người theo Mặc gia. Vì vậy, người ta
cũng thường gọi “những người theo Mặc gia là ‘Mặc hiệp’ và cho họ là những hiệp
khách đầu tiên” [36, tr.292].
Mặc gia cũng đề ra những tiêu chuẩn cho kẻ hiền sĩ như: dùng sức mạnh để
giúp người, đem của cải để chia cho người, đem đạo dạy cho người. Ba tiêu chuẩn
này về sau trở thành những tiêu chí dùng để đánh giá nhân cách của hiệp khách.
Ngoài Mặc gia, văn hóa Trung Quốc còn bị chi phối bởi ba hệ tư tưởng chính
là Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Trong đó, Nho và Đạo là hai tôn giáo có nguồn
gốc bản địa, còn Phật giáo lại được du nhập từ Ấn Độ. Qua quá trình lịch sử lâu dài,
ba hệ tư tưởng Nho, Đạo, Phật đã cấu thành quan hệ tam giác và phát triển cùng với
nhau. Không chỉ ảnh hưởng đến đời sống, văn hóa, xã hội… mà ba hệ tư tưởng này
còn có ảnh hưởng lớn đến văn học Trung Quốc, đặc biệt ảnh hưởng đối với tiểu
thuyết võ hiệp là khá toàn diện và sâu sắc. Những ảnh hưởng đó thể hiện trên nhiều
bình diện từ ý thức hệ tư tưởng đến cảm hứng sáng tác, từ kiểu thức tư duy, triết lý,
cách nhìn nhận con người và xã hội đến tổ chức kết cấu tác phẩm, quá trình xây
dựng hình tượng nhân vật...
Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ được truyền vào Trung Quốc từ những
năm đầu Công nguyên, được lưu truyền và phát triển cho đến nay đã thúc đẩy sự
phát triển của triết học, luân lí học, văn học, nghệ thuật… của nước này. Tuy nhiên,
với đặc điểm của mỗi nước mỗi khác, Phật giáo muốn tồn tại ở Trung Quốc – vốn
là một đất nước đã có hai hệ tư tưởng truyền thống là Nho và Đạo phát triển lớn
mạnh – thì nó phải thích ứng với tâm lí, tư tưởng, tình cảm, tập quán và yêu cầu của
nhân dân Trung Quốc. Phật giáo khi đặt chân lên đất nước này đã kết hợp với
truyền thống, hay nói khác đi là được “Trung Quốc hóa”, từ đó mà có những sự bổ
sung cho văn hóa truyền thống và trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn
hóa này. Vì vậy mà “Phật giáo Trung Quốc đến từ Ấn Độ, mang nét đặc biệt về Ấn


nhưng cũng có thể do đời trước (cha, mẹ, ngoại, nội...) đem đến, thế là hiệp khách


phải dành thời gian, công sức… cả một đời để thực hiện cho được việc báo ân báo
oán ấy, không sao tránh được. Rồi đến đời sau, đời sau nữa, ân oán lại chất chồng
ân oán, “oan oan tương báo, bao giờ tiêu tan”. Những mối ân cừu triền miên ấy đã
tạo nên kịch tính cho tình tiết của tiểu thuyết võ hiệp và càng làm tăng thêm mỹ bi
kịch cho số phận nhân vật. Tuy nhiên, Phật giáo cũng bảo rằng: “Làm thiện thì
được thiện báo, làm ác thì có ác báo, chẳng phải là không báo mà là chưa đến
lúc”. Quan niệm này khuyên người ta nên làm việc thiện, như vậy mới có được kết
quả tốt lành. Điều này cũng được thể hiện ở kết cục số phận của các nhân vật trong
tiểu thuyết võ hiệp.
Phật giáo là một tôn giáo lớn nên có rất nhiều tín đồ. Những tín đồ của Phật
giáo như ni cô, hòa thượng,… thường xuất hiện trong tiểu thuyết võ hiệp với võ
công cao cường và nhân cách cao thượng, trở thành những nhân vật chỉ đường cho
những nhân vật khác ra khỏi bến mê, phán xét thị phi, hóa giải ân cừu.
Quan niệm nhà Phật coi cái chết là nơi trở về, an tĩnh tự nhiên, không còn oán
hận lo âu. Hiệp khách chịu ảnh hưởng của quan niệm này nên không hề sợ chết,
nhất là những tăng ni thì đều bình tĩnh trước cái chết. Tình nghĩa bạn bè, chính
nghĩa ở đời, hiệp nghĩa giang hồ, tình yêu… đối với người hiệp khách còn quý hơn
cả sinh mệnh. Hiệp khách không sợ chết mà chỉ sợ chết một cách vô nghĩa, không
có giá trị gì vì họ hi vọng lấy cái chết để khẳng định giá trị sinh mệnh, “hổ chết để
da, người chết để tiếng”. Sự bình tĩnh, ung dung trước cái chết là một trong những
đặc trưng tính cách của hiệp khách.
Đạo giáo là tôn giáo có nguồn gốc bản địa. Thời điểm Đạo giáo chính thức
xuất hiện dưới danh nghĩa là một tôn giáo là vào khoảng cuối Đông Hán – Ngụy
Tấn. Đạo giáo bắt nguồn từ thuật phù thủy và phương thuật thần tiên lưu hành trong
thời cổ đại ở Trung Quốc. Do tư tưởng Hoàng Lão (Hoàng đế - Lão Tử) hay tư
tưởng Đạo gia, vu thuật và khát vọng “trường sinh bất tử” đã dẫn đến hình thành
tôn giáo này.

Đạo giáo đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng: con người có rất nhiều những
hoài bão, ước mơ, lí tưởng cao đẹp nhưng khó lòng đạt tới; đời người sinh sinh tử
tử, có biết bao khổ nạn, bao khốn cảnh con người không thể nào tránh khỏi trong
thế giới hiện thực (hay thế giới vật chất), vậy thì tại sao không thực hiện những
điều ấy trong thế giới tinh thần? Ta không thể có tự do về vật chất, vậy thì hãy tìm


đến tự do về tinh thần. Trong thế giới tinh thần ấy, con người có thể tha hồ thực
hiện những mộng tưởng của mình. Trên ý nghĩa đó, tiểu thuyết võ hiệp đã “đem lại
cho chúng ta một thế giới tinh thần có thể kí thác tâm tình” và “đạt được một thứ
tự do tinh thần và hoàn chỉnh cá tính” [36, tr.301-302]. Tiểu thuyết võ hiệp đã xây
dựng nên một cảnh giới nhân sinh tự do siêu thoát, phóng túng khoáng đạt của các
hiệp khách.
Đạo gia nói: “Bậc Chân nhân không trái với ai dù là thiểu số, không cầu
công, không cầu danh, người như vậy, mất không tiếc, được không mừng” (Cổ chi
Chân nhân bất nghịch quả, bất hùng thành, bất mộ sĩ. Nhược nhiên giả, quá nhi bất
hối, đương chi bất tại đắc dã); họ “không ưa sống, không ghét chết, lúc ra không
hăm hở, lúc vào không do dự, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi. Không quên
lúc bắt đầu, không cần lúc sau chót” [12, tr.38-39]. Vì vậy, người hiệp khách trong
tiểu thuyết võ hiệp thường là những người coi thường công danh, coi rẻ sự phàm
tục, không ham cao sang quyền quý, thậm chí được làm ăn mày (như những người
trong Cái Bang) cũng là một vinh dự. Họ thích sống tự do thoải mái, tôn trọng cá
tính và sở thích của chính mình, “thà đùa nghịch thoải mái trong ngòi nước đục
chứ không để quốc gia trói buộc” [36, tr.302]. Hiệp khách tiêu dao tự tại, sống với
gió núi mây ngàn, nhưng khi thấy chuyện bất bình thì sẵn sàng ra tay cứu giúp,
không hề nghĩ đến thiệt thòi cho bản thân. Họ quan niệm “tề sinh tử” (sống chết
như nhau) nên đối với họ “cái chết nhẹ tựa lông hồng”.
Lão Tử có viết: “Vận động của đạo là trở về” (phản giả, đạo chi động) [36,
tr.302]. Khác với tiểu thuyết cổ điển có sự phân biệt tuyệt đối, rạch ròi giữa chính
và tà, trong tiểu thuyết võ hiệp, nhất là trong tiểu thuyết Kim Dung, không hề có

chính một khi đã nắm vững “đạo” thì lại tiến triển một cách dễ dàng và đạt đến
cảnh giới chỉ trong một thời gian ngắn, có khi chỉ trong tích tắc mà thôi.
Đạo gia cũng nêu ra những cách thức tu luyện để đạt được cảnh giới siêu
phàm và gọi đó là tu luyện Đạo giáo thần tiên như: luyện nội đan và ngoại đan.
Luyện nội đan là luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô
(tức trở về Đạo), hành khí, bát đạo cẩm, Thái cực quyền, khí công, dưỡng sinh…
Bởi vậy, hiệp khách trong tiểu thuyết võ hiệp muốn có võ công cao cường phải
thường xuyên rèn luyện thân thể, học tập võ công… để đạt đến cảnh giới võ công
cao siêu để hành tẩu giang hồ. Trong luyện nội đan, Đạo giáo cũng cho rằng:


“Người ta ăn lương thực tích trong bụng thành phân, bẩn thỉu, tắc nghẽn, cho nên
không thể diên niên trường thọ. Không ăn lương thực nhưng phải phục thực bằng
nước trái cây, nước dược vật gọi là uống nước tương, làm được như thế thì đạo
dẫn, khinh thân, thân thể nhẹ nhàng, cơ thể bay bổng, đi nhanh như bay” [12,
tr.48]. Quan niệm này của Đạo giáo đã được các tiểu thuyết gia võ hiệp phát huy,
các hiệp khách trong tiểu thuyết được kể thường không ăn uống gì mà chỉ “nuốt
khí, tịch cốc” (tịch cốc không phải là không không ăn gì, mà chỉ là không ăn lương
thực) [12, tr.48] trong thời gian dài mà vẫn sống ung dung tự tại và hoạt động như
bình thường.
Bên cạnh luyện nội đan là luyện ngoại đan, tức luyện tiên đan (thuốc tiên)
uống vào có thể trừ được bách bệnh, giúp lành bệnh ngay và cao hơn nữa là uống
vào có thể thành tiên, trường sinh bất tử. Chuyện luyện ngoại đan này thì trong lịch
sử Trung Quốc đã quá phổ biến. Ngô Thừa Ân đã kể chuyện Tôn Ngộ Không trong
Tây du kí ăn đào tiên, uống tiên đan do Thái Thượng Lão Quân luyện đã trở nên bất
tử cùng trời đất. Đến tiểu thuyết võ hiệp, chỉ cần uống đan dược là có thể lành bệnh
ngay, hay có thể chống lại tà khí, hắc khí hay các loại kịch độc… uống đan dược
cũng làm tăng công lực, giúp võ công tiến triển nhanh chóng và làm tăng tuổi thọ.
Vì vậy, các phe phái võ lâm bên cạnh việc truy tìm bí kíp võ công thì cũng ra sức
tìm kiếm các phương thức luyện đan, luyện độc để tăng thêm uy thế của mình trên

giữa tồn tại xã hội và thân tâm cá thể, thực hiện sự cứu đời và hoàn thiện tự ngã
ngay trong cuộc sống này”[36, tr.296]. Tư tưởng này có liên hệ với đạo nghĩa của
hiệp khách. Hiệp khách sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình vì việc nghĩa, chẳng
nề sinh tử, “biết không làm được mà vẫn cứ làm” [36, tr.298], một lời đã nói ra, đã
hứa thì sống chết cũng phải thực hiện cho bằng được, “nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan
truy” (một lời nói ra thì bốn ngựa khó đuổi), đó mới là người “tín nghĩa”. “Giàu
sang không làm sa đọa, nghèo hèn không thể làm đổi thay, uy vũ không khuất phục,
như thế gọi là đại trượng phu” [36, tr.297]. Vì vậy, người hiệp khách rong ruổi
chốn giang hồ, ngoài rèn luyện võ công cao cường còn phải tu thân, dưỡng đức, tức
phải có nghị lực phi thường và phẩm chất cao quý. Để có được điều ấy, không phải
tự nhiên trời sinh ra đã có. Theo Nho gia: “trước hết phải làm cho tâm chí của nó
khổ sở, gân cốt mệt mỏi, đói khát yếu đuối, khiến con người ta có lòng kiên trì nhẫn


nại để làm những việc khó làm”. Tư tưởng này đã lí giải cho ta lí do tại sao trong
tiểu thuyết võ hiệp, tác giả lại xây dựng rất nhiều tình huống oái ăm, éo le, khổ cực,
cùng cực, nan giải… để hiệp khách phải trải qua sự sống chết, tai nạn, xung đột, tội
nghiệt, ân cừu… rồi mới ngộ được ý vị của cuộc đời để đạt tới thành quả và hạnh
phúc lớn lao như vậy.
Tư tưởng Nho gia đặc biệt coi trọng “nhân” và “nghĩa”. Trong đó, chữ
“nhân” là nguyên lí đạo đức cơ bản, trung tâm của các chuẩn mực trong tư tưởng
Nho gia. Chịu ảnh hưởng này nên “Trong thế giới võ hiệp, trách nhiệm và tình cảm
của nam nhi là ‘nhân nghĩa làm đầu’. Nhân là quan tâm đối với những nỗi đau
khổ, oan khuất của đại chúng, nghĩa là gắng tận lực làm những việc nên làm, suy
rộng ra là ‘vì nước vì dân là việc lớn của trang hiệp khách’” [36, tr.226]. “Nghĩa”
trở thành nguyên tắc tối cao và là trụ cột tinh thần của hiệp khách. Là người của
một nước thì phải tuân theo luật pháp, thế nhưng cái luật pháp ấy không là gì đối
với hiệp khách. Hiệp khách có thế giới riêng của họ và hành xử theo “đạo nghĩa
giang hồ”. Họ “đơn thương độc mã” ngao du thiên hạ, trời đất là nhà, nhưng khi
gặp người hợp ý thì kết nghĩa làm huynh đệ, thầy trò… tình như cốt nhục, sẵn sàng

tắc lâm nguy thì ra tay trừ xâm lược, lúc người nghèo khổ, yếu đuối gặp nạn thì ra
tay giúp đỡ. Về phương diện nào đó của nhân cách, hiệp khách “trở thành những
điển hình của nhân cách đạo đức truyền thống” [36, tr.204].
Trong tiểu thuyết võ hiệp, ta thường thấy các hiệp khách hầu như không phải
lo cái ăn cái mặc và hầu như lúc nào cũng có sẵn tiền. Vậy tiền ấy ở đâu ra hay từ
trời rơi xuống? Theo quan niệm của tiểu thuyết gia, đã là anh hùng nghĩa hiệp thì
chỉ lo ngao du thiên hạ, thế thiên hành đạo, dẹp bất bình. Là hiệp khách thì phải lo
việc lớn, chứ ba cái việc như lo cơm áo gạo tiền thì quá cỏn con nên người hiệp
khách không cần lo đến. Hiệp khách là những bậc anh phong hiệp cốt nên nếu nói
đến tiền bạc thì sẽ trở nên phàm tục. Đây là một đặc điểm mang dấu ấn của Nho
gia. Khổng Tử từng nói: “Quân tử lo đạo, không lo ăn”[36,tr.257], quan niệm
không coi trọng vấn đề kinh tế, tiền của chỉ là vật ngoài thân. Đạo đức kinh tế của
Nho gia đề xướng tinh thần “Vô hằng sản nhi hữu hằng tâm” (không có tài sản
phong phú nhưng có cái tâm giàu chính nghĩa cảm) [36, tr.258]. Người đời chạy
theo danh lợi hão huyền mà chà đạp lên đạo lí, chỉ vì lợi ích cá nhân mà làm tổn
hại biết bao nhiêu người. Nho gia coi thường và phê phán những hạng người đó.


Chỉ có hiệp khách chân chính mới không bị chữ “lợi” làm lung lạc ý chí và thay đổi
khí tiết. Hiệp khách không theo đuổi lợi ích vật chất mà coi trọng chữ “nghĩa” hơn
chữ “lợi”, không vì lợi ích riêng mà làm tổn hại đến người khác, có thể sẵn sàng hi
sinh lợi ích cá nhân để làm việc nghĩa. Đó mới là tinh thần hiệp nghĩa của hiệp
khách.
Nguyễn Công Trứ từng nói:
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
(Chí làm trai)
Hiệp khách trong tiểu thuyết võ hiệp học võ công, dù đạt đến cảnh giới nào
cũng đều “dấn thân” vào thế giới giang hồ, tuy biết rằng thế giới ấy đầy ánh đao,
bóng kiếm rất nguy hiểm nhưng họ không hề sợ hãi mà sẵn sàng “dấn thân” vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status