skkn các BIỆN PHÁP hạn CHẾ và sửa CHỮA SAI lầm của học SINH KHI GIẢI bài tập hóa học - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ VÀ
SỬA CHỮA SAI LẦM CỦA HỌC
SINH
KHI GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC

Người thực hiện: Nguyễn Minh Tấn
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục



Phương pháp dạy học bộ môn: ............................... 
Phương pháp giáo dục



Lĩnh vực khác: ......................................................... 
Có đính kèm:
 Mô hình
 Phần mềm

 Phim ảnh

 Hiện vật khác


CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ VÀ SỬA CHỮA
SAI LẦM
CỦA HỌC SINH KHI GIẢI BÀI TẬP HÓA
HỌC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Do yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học và chương trình hoá học phổ
thông. Đổi mới chương trình sách giáo khoa trong giáo dục phổ thông được đặt trọng
tâm vào việc đổi mới PPDH. Chỉ có đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học ta
mới có thể tạo ra được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp
người năng động sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước
trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Thực tiễn dạy học hoá học hiện nay, khi giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài
tập hoá học nói chung, chúng tôi nhận thấy HS còn hạn chế về kiến thức, chưa nắm
vững PP giải bài tập dạng cơ bản còn hay mắc sai lầm trong suy luận và tư duy. Nếu
không chú ý đúng mức đến việc phát hiện và sửa chữa vướng mắc, sai lầm cho HS
ngay trong các giờ học hoá học, trong các dạng BTHH cơ bản thì HS sẽ rơi vào tình
trạng: sai lầm nối tiếp sai lầm. Điều đó sẽ làm cho HS không hứng thú học tập và chất
lượng dạy học hoá học cũng giảm đi rõ rệt.
HS giải BTHH theo kiểu “giải toán” tức là chỉ vận dụng phép tính toán học để
tìm ra đáp số mà không cần làm sáng tỏ bản chất hoá học trong BTHH thì cũng dẫn
đến các sai lầm trong quá trình suy luận, tư duy, không vận dụng các kiến thức, quy
luật biến đổi trong hoá học để giải quyết vấn đề.
Theo chúng tôi, nếu giáo viên có khả năng dự đoán được các sai lầm (về cách
hiểu kiến thức lẫn kĩ năng thực hành) mà học sinh thường mắc phải, sẽ tạo nên được
các tình huống hấp dẫn trong bài tập mà ta có thể gọi là “bẫy”. Một giáo viên giỏi, có
kinh nghiệm trong dạy học, sẽ có khả năng dự đoán được nhiều sai lầm của học sinh,
làm cơ sở để xây dựng các bài tập hoá học có nội dung sâu sắc, kiểm tra được những
sai phạm mà học sinh mắc phải trong quá trình học tập môn hóa học, để từ đó điều
chỉnh quá trình dạy học nhằm khắc phục những sai lầm xảy ra.
Hiện nay việc sử dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong các kì thi tốt

cho các quan niệm của HS được bộc lộ rõ nhất, những sai lầm qua trải nghiệm trong
điều kiện có thể, từ đó sẽ giúp các em nhận biết vượt qua các quan niệm sai lầm để
thu nhận, biến đổi trong nhận thức một cách tích cực, tự giác các tri thức khoa học.
Như thế có nghĩa là đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc, cọ xát giữa hai nguồn
tri thức (tri thức khoa học và tri thức đời thường) và sẽ làm cho HS nhận ra chân lý
khoa học một cách tích cực, sâu sắc và các em sẽ phải tự điều chỉnh những quan niệm
của mình cho phù hợp với bản chất hoá học, hay vứt bỏ những quan niệm sai trái với
chân lý khoa học. Việc điều tra và phát hiện ra những quan niệm sai lầm của HS
trong quá trình dạy học là một công việc đòi hỏi tính khách quan và có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng dạy học hoá học trong trường phổ
thông.
Trong quá trình dạy học, người học nâng cao trình độ của mình qua việc hiệu
chỉnh những quan niệm sai và bổ sung hiểu biết nhờ đó mà ngày càng tiến gần tới chỗ
đạt được kết quả học tập lí tưởng. Quá trình này đòi hỏi phải có thực hành, được hiệu
chỉnh từ GV và bản thân người học tự hiệu chỉnh những sai lầm trong nhận thức của
chính mình.
Sự vận dụng của lí thuyết kiến tạo trong DH giúp HS nắm được PP học tập,
chủ động trong hoạt động học tập. HS phải tự tìm hiểu, khám phá, tự xây dựng kiến
thức bằng con đường riêng của mỗi cá nhân. Quá trình phân tích, tự đánh giá hoạt
động học tập của mình mà tự điều chỉnh quá trình học tập của chính mình, sửa chữa
những sai lầm trong nhận thức học tập và tự làm biến đổi nhận thức của chính mình,
5


sửa chữa những sai lầm trong nhận thức học tập của chính mình. GV là người tổ
chức, hướng dẫn, tạo điều kiện để HS phát hiện, sửa chữa những sai lầm của mình.
DH qua sai lầm được đánh giá một quan điểm dạy học tích cực
Đây là PPDH đòi hỏi GV phải tạo điều kiện cho HS trải nghiệm để HS tự thu
nhận kiến thức từ những trải nghiệm thành công và cả những trải nghiệm không
thành công. HS sẽ nhớ nhiều hơn về những sai lầm và biết phân tích tìm nguyên nhân



2. Nội dung
2.1. Các dấu hiệu để giúp HS tự phát hiện sai lầm
Để hạn chế được các sai lầm mà HS thường mắc phải khi giải bài tập hoá học
phần kim loại thì trước hết GV cần trang bị cho các em làm quen cách nhận biết
(Phân tích lời giải) của mình đúng hay sai thông qua các dấu hiệu cơ bản:
- Dấu hiệu 1: Kết quả lời giải của các HS khác nhau.
Nếu hai lời giải của một bài toán là khác nhau thì ít nhất phải có một lời giải
sai. Lúc đó các HS phải kiểm tra lại cách giải của mình (các phép biến đổi, các
phương trình hoá học, phương pháp giải...), đồng thời dùng suy luận logic để phân
tích lời giải nào sai. Thực tế cũng có khi cả hai lời giải đó đều sai.
- Dấu hiệu 2: Kết quả lời giải không có ý nghĩa thực tiễn, không đúng với các quy
luật hoá học.
Nếu bài tập đã cho phù hợp thực tiễn, nhưng kết quả lại mâu thuẫn với thực tế
thì chắc chắn lời giải đó là sai. Ví dụ như các kết quả bài toán thu được khi:
+ Tính ra hiệu suất phản ứng H > 100%, pH >14...
+ Hoá trị của các nguyên tố, khối lượng mol nguyên tử không phù hợp...
+ Tính ra C%, CM, n, m, M, V, d có giá trị âm...

2.2. Một số biện pháp khắc phục sai lầm của học sinh
Việc khắc phục những sai lầm của HS trong giải BTHH là công việc khó khăn
và lâu dài, đòi hỏi GV phải có tâm huyết và có kế hoạch cụ thể. GV phải hệ thống
phân loại các dạng bài tập, phân tích hiểu được ý nghĩa và dự kiến những sai lầm có
thể có của HS trong tư duy, suy luận khi giải quyết vấn đề, thống kê các sai lầm và
phân tích nguyên nhân dẫn đến các sai lầm của HS. Từ sự hệ thống và phân tích này
mà đề ra những biện pháp thích hợp rồi thử nghiệm chúng.
Trong quá trình lên lớp giáo viên thường phối hợp nhiều phương pháp cho mỗi
bài học, cho từng đơn vị kiến thức. Do đó, các biện pháp khắc phục sai lầm của HS
cũng được thể hiện rất phong phú và đa dạng (không trường hợp nào giống trường

tan duy nhất là NaOH vì Na2O + H2O → 2NaOH.
* Không áp dụng cho các trường hợp trộn lẫn các chất khác nhau hoặc có xảy ra
phản ứng hoá học giữa chúng như trộn HCl vào NaOH vì HCl + NaOH → NaCl +
H2O.
* Khi cô cạn hoặc pha loãng dung dịch có thể giải nhanh theo sơ đồ đường chéo
nếu quan niệm nước là một dung dịch có nồng độ chất tan bằng không (không có chất
tan).
Ví dụ: Cần trộn bao nhiêu gam dung dịch HCl 40% (m 1) với bao nhiêu gam dung
dịch dung dịch HCl 10% (m2) để được 15 ml dung dịch HCl 20% (d = 1,1 g/ml).
Dấu hiệu để lựa chọn phương pháp:
Từ đề bài ta thấy đây là bài toán trộn lẫn hai dung dịch của cùng một chất nên có thể
sử dụng phương pháp sơ đồ đường chéo để giải:
Từ sơ đồ đường chéo:
10 − 20
m1 40
m
10
⇒ = 1
20
20
m
40 − 20
2

8


m2 10
⇒ m2 = 2m1 (1)
Mặt khác :

0

x1 a

x2

2a

x

Ta thấy x1 = 0,01 mol, x2 = 0,018 mol, a = 1,5.0,1 = 0,015 mol


x1 < a < x 2 ⇒ y max = 0,015mol

⇒ khối lượng kết tủa max là 1,5 gam.

c. Sử dụng phương trình ion thu gọn để giải BTHH
Các dạng toán để sử dụng phương trình ion thu gọn để giải liên quan đến các
phản ứng hoá học xảy ra trong dung dịch của các chất điện li với các hệ chất:
- Nhiều axit tác dụng với kim loại (một kim loại hoặc hỗn hợp kim loại).
- Nhiều bazơ tác dụng với Al, Zn, Al3+, Zn2+, H+...
9


- Nhiều muối chứa HCO3- tác dụng với dung dịch chứa OH - .
- Nhiều muối chứa HCO3- ( CO32- ) tác dụng với dung dịch chứa H + .
- Cu tác dụng với dung dịch hỗn hợp (NaNO3 và H2SO4).
Nói chung với các bài toán dung dịch hỗn hợp chất điện li, chúng ta nên biểu
diễn các phản ứng hoá học ở dạng phương trình ion thu gọn để làm rõ bản chất các

(KL khử ion NO3- trong môi trường axit, HNO3, H2SO4 đặc nóng).
- Oxit KL (hoặc hỗn hợp oxit KL), muối KL đa hoá trị tác dụng với axit (hoặc hỗn
hợp axit): HNO3, H2SO4 đặc.
- Các bài toán liên quan tới sắt (điển hình là bài toán để sắt ngoài không khí rồi lấy
sản phẩm tạo thành cho tác dụng với HNO3 hoặc H2SO4 đặc).
- KL khử ion KL khác (trong dung dịch muối).
- H2, CO, Al khử oxit kim loại, hỗn hợp KL tác dụng với hỗn hợp phi kim...
Nói chung bất kỳ bài toán nào liên quan tới các phản ứng hoá học có sự thay
đổi số oxi hoá của một số nguyên tố đều có thể giải được bằng phương pháp này.
Phương pháp này cho phép giải rất nhanh các bài toán về phản ứng oxi hóa khử mà không cần viết phương trình hoá học của phản ứng. Điều quan trọng nhất của
phương pháp này là phải xác định đúng chất oxi hoá, chất khử, môi trường, trạng thái
đầu và trạng thái cuối của các chất oxi hóa và chất khử.
10


Ví dụ: Cho V lít hỗn hợp khí ở đktc gồm O2 và Cl2 tác dụng hết với hỗn hợp A gồm
12 gam Mg và 20,25 gam Al. Sau phản ứng thu được hỗn hợp muối và oxit có khối
lượng 91,25 gam. Tính phần trăm (%) theo thể tích khí Cl2 trong hỗn hợp.
Giải
nAl = 0,75 mol ; nMg = 0,5 mol.
Gọi a, b lần lượt là số mol của O2 và Cl2, ta có:
Ta có các quá trình oxi hóa – khử là:
o

Al

0,75




4a + 2b = 3,25
(1)
Theo định luật bào toàn khối lượng:
32a + 71b = 91,25 – 12 – 20,25 = 59 (2)
Giải (1) và (2) ta được: a = 0,515; b = 0,6
Vậy % theo thể tích khí Cl2 trong hỗn hợp là 53,81%.
e. Phương pháp bảo toàn khối lượng
PP này có phạm vi áp dụng rộng cho cả hệ phản ứng oxi hoá khử và không oxi
hoá khử. Các dạng bài tập có các hệ chất phản ứng sau có thể sử dụng PP bảo toàn
khối lượng:
- Hỗn hợp oxit tác dụng với CO, H2, Al ở nhiệt độ cao.
- Hỗn hợp kim loại tác dụng với HCl (H2SO4).
- Hỗn hợp muối cacbonat (muối sunfit) tác dụng với dung dịch HCl (H2SO4).
Nói chung bất kì bài tập nào có n đại lượng trong phương trình hoá học mà biết
được (n - 1) đại lượng thì đại lượng thứ n sẽ tìm dễ dàng theo phương pháp này. Thực
tế các bài tập thường chỉ cho biết (n - 2) hoặc (n - 3) đại lượng dưới dạng tường minh,
còn các đại lượng khác phải tìm thông qua các phương trình hoá học.
Ví dụ 1: Cho luồng khí CO đi qua hỗn hợp X gồm các oxit (Fe 3O4, Al2O3, MgO,
CuO) nung nóng, sau một thời gian thu được hỗn hợp khí Y và 23,6 gam chất rắn Z.
Cho Y lội chậm qua bình đựng dung dịch nước vôi trong dư thấy có 40 gam kết tủa
xuất hiện.Tìm khối lượng của X ?
Giải
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 ↓ + H2O
(1)
0,4
0,4
o
X + CO, t : Al2O3, MgO không bị khử.
to
CuO + CO 

⇒ m X = (m Z + mCO2 ) − mCO = 23,6 + 44.0,4 - 28.0,4 = 30 gam.

Ví dụ 2: Hòa tan hoàn toàn 3,6 gam kim loại M hóa trị II bằng dung dịch H 2SO4
loãng thu được dung dịch X và 3,36 lít H 2 (đktc). Tìm khối lượng của muối khan thu
được khi cô cạn dung dịch X?
Giải
n H SO = n H = 0,15 (mol).
2

4

2

M + H2SO4 → MSO4 + H2 ↑
Theo định luật bảo toàn khối lượng :
mM + mH 2 SO4 = mMSO4 + mH 2
⇒ m MSO4 = (m M + m H 2 SO4 ) − m H 2 = 3,6 + 98.0,15 - 2.0,15 = 18 gam.

Ví dụ 3: Cho 24,4 gam hỗn hợp (Na2CO3 và K2CO3) tác dụng vừa đủ với dung dịch
BaCl2. Sau phản ứng thu được 39,4 g kết tủa. Lọc tách kết tủa, cô cạn dung dịch thu
được m (g) muối clorua. Tìm giá trị của m ?
Giải
Na2CO3 + BaCl2 → 2 NaCl + BaCO3 ↓
K CO
1 22 3 3
24,4 g

+ BaCl2 → 2{
KCl
123

0,1
0,2
NaOH + HCl → NaCl + H2O

(1)

2 NaOH + FeCl2 → Fe(OH)2 ↓ + 2 NaCl
0,1
0,1

(4)

(2)
(3)

3 NaOH + FeCl3 → Fe(OH)3 ↓ + 3 NaCl
(5)
(0,2 + 0,2) → 0,4
to
4Fe(OH)2 + 2 H2O + O2 
(6)
→ 4 Fe(OH)3

0,1
0,1
o
t
2 Fe(OH)3 
(7)
→ Fe2O3 + 3 H2O

 Fe(OH ) 3

o

t , kk

→ Fe2O3

Từ đó có thể sử dụng phương pháp phương pháp bảo toàn nguyên tố:
+ Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố đối với Fe
 Fe 2 O3: 0,1 mol
⇒ Fe2O3 (rắn D)

Fe
O
:
0,1
mol
3
4


+

∑ Fe (trong D)

= 0,1.2 + 0,1.3 = 0,5 mol

⇒ nD = 0,5/2 = 0,25 mol ⇒ mD = 0,25.160 = 40 gam.


⇒ 0,5x = 0,15 ⇒ x = 0,3 mol. ⇒
M =
= 33,67

(1)

+

(2)

0,3

⇒ M1 = 23 (Na) < M= 33,67 < M2 = 39 (K)
⇒ Hai kim loại cần tìm là Na và K

2.2.2. Bổ sung, làm chính xác hoá các kiến thức lý thuyết thông qua các
câu hỏi định tính tương ứng
Trong học tập nếu HS nắm vững kiến thức và biết vận dụng linh hoạt thì các
em sẽ ít mắc sai lầm hơn. Vì vậy, trong từng tiết học, ngoài việc trang bị cho HS
những kiến thức bắt buộc GV cần lưu ý HS những kiến thức mở rộng, những kĩ năng
vận dụng kiến thức vào các tình huống khác. GV có thể dự đoán các kiến thức mà HS
thường không hiểu đầy đủ, dễ dẫn đến các suy luận sai lầm thì cần lựa chọn các câu
hỏi lí thuyết (định tính) để giúp HS nắm được bản chất các quá trình hoá học xảy ra
trong các hệ chất. Trong các câu hỏi này có các “bẫy” kiến thức để khắc phục sai lầm
của HS. Ví dụ như:
a. Khi dạy cho HS kiến thức về kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm thì
GV cần lưu ý cho HS một số vấn đề sau:
- KL kiềm và KL kiềm thổ tan trong nước tạo ra môi trường kiềm, muối cacbonat của
chúng tan trong nước cũng tạo môi trường kiềm yếu.
- Al, Zn, Al2O3, ZnO, Al(OH)3, Zn(OH)2... tan được trong môi trường kiềm.

7. Viết phương trình hoá học của phản ứng khi cho:
- Hỗn hợp bột (Na, Al) vào H2O
- Hỗn hợp bột (Na, Al) vào dung dịch NaOH
- Hỗn hợp bột (Na, Al) vào hỗn hợp dung dịch NaOH, KOH, Ba(OH)2
- Hỗn hợp bột (Na, Al2O3) vào H2O.
8. Hỗn hợp rắn X chứa Na2O, NH4NO3, NaHCO3 và Ba(NO3)2 có số mol mỗi chất đều
bằng nhau. Cho hỗn hợp X vào H 2O dư, đun nóng, dung dịch thu được chứa chất tan
gì ?
9. Cho luồng H2 dư đi qua các ống mắc nối tiếp nung nóng theo thứ tự:
ống 1 đựng 0,2 mol Al2O3, ống 2 đựng 0,1 mol Fe2O3, ống 3 đựng 0,15 mol Na 2O.
Đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn. Tìm chất rắn còn lại trong các ống sau phản ứng?
b. Khi dạy cho HS kiến thức về dãy điện hoá hoặc phần kim loại sắt, đồng, bạc
thì GV cần lưu ý cho HS một số phản ứng sau:
Fe + 2Fe3+ → 3Fe2+
Cu +2Fe3+ → Cu2+ + 2Fe2+
Fe2+ + Ag+ → Fe3+ + Ag đặc biệt: Fe(NO3)2 + AgNO3 → Fe(NO3)3 + Ag
GV có thể lựa chọn, xây dựng câu hỏi định tính cho HS vận dụng như:
1. Khi cho mảnh Cu vào dung dịch Fe3+ có hiện tượng gì xảy ra? Giải thích.

15


2. Vì sao để bảo quản Fe 2+ trong phòng thí nghiệm người ta lại cho vào dung dịch
Fe2+ một vài đinh sắt hoặc một ít bột sắt? Giải thích cơ sở khoa học của cách bảo
quản này.
3. Dung dịch AgNO3 được dùng để nhận ra ion Cl- trong dung dịch, nó có thể dùng để
phân biệt dung dịch Fe(NO3)2 không? Vì sao?
4. Viết phương trình hoá học của phản ứng khi cho:
- Fe dư vào dung dịch AgNO3
- Fe vào dung dịch AgNO3 dư

4. Để phân biệt dung dịch AlCl3 và ZnCl2 cần dùng dung dịch chất nào? Giải thích?
d. Khi dạy HS về tính chất của KL phản ứng với HNO 3 hoặc muối nitrat cần
lưu ý cho HS:
môi trường axit

NO 3−

môi trường trung tính

có tính oxi hoá mạnh như HNO3.
16


không có tính oxi hoá.
môi trường kiềm

bị Al, Zn khử đến NH3.

- Khi kim loại phản ứng với HNO 3 thì sản phẩm khử của HNO3 là chất khí, đối
với một số kim loại có tính khử mạnh có thể khử HNO 3 để tạo ra sản phẩm khử có
NH4NO3.
- Khi giải bài tập dạng: kim loại phản ứng với HNO 3 thì HS có thể xem xét để
sử dụng phương pháp bảo toàn (e) hoặc phương pháp ion - electron.
Các bán phản ứng oxi hoá xảy ra:
10H +

+ 8e




NO2 +

(5)

NO 3− +

NO 3− + 4H +
NO 3− +

2H +

+ 3e
+ 1e

+ 3H2O

H2 O

(1)

Từ (1), (2), (3), (4) và (5) ta thấy:
n HNO3 = n H + = 10.n NH4 NO3 + 12n N2 + 10n N 2O + 4n NO + 2n NO2

ne nhận =

8.n NH 4 NO3 + 10n N 2 + 8n N2O + 3n NO + n NO2

m(muối) = m KL + 62( 8.n NH 4 NO3 + 10n N 2 + 8n N 2O + 3n NO + n NO2 ) + 80. n NH NO
4


n NaOH
Nếu đặt : T = nCO thì ta có :
2
NaHCO3
NaHCO3 NaHCO3

CO2

Na2CO3

Na2CO3

Na2CO3

1

NaOH dư

2

T

Có thể nhận biết sự có mặt của muối axit bằng cách đun nóng dung dịch sau
phản ứng có sủi bọt khí thoát ra.
t
2NaHCO3 →
Na2CO3 + CO2 ↑ + H2O
0

Trường hợp: CO2 (SO2) Tác dụng với dd kiềm thổ M(OH)2 (Ba(OH)2, Ca(OH)2)...


< 1 thì tạo được hai muối.

CO2 + M(OH)2 → MCO3 ↓

+

H2 O

Sau đó vì CO2 dư nên có hiện tượng hòa tan kết tủa.
CO2 +

MCO3 + H2O → M(HCO3)2

Sau phản ứng có MCO3 còn lại và M(HCO3)2 sinh ra.
Cũng có thể nhận biết sự có mặt của muối axit bằng 2 dữ kiện sau:
Lọc bỏ kết tủa đun nóng nước lọc lại có kết tủa suất hiện.
t
M(HCO3)2 →
MCO3 ↓ + CO2 ↑ + H2O
0

Dung dịch sau phản ứng tác dụng với dung dịch bazơ tạo kết tủa.
M(HCO3)2 + 2OH- → MCO3 ↓ + CO32- + 2H2O
18


2.2.3. Xây dựng bài tập chứa các "bẫy" sai lầm
a. Hệ thống bài tập chứa các "bẫy" sai lầm
Xây dựng các bài tập để học sinh vướng phải một số sai lầm và khi phát hiện

hóa học sau: X + 2YCl3 → XCl2 + 2YCl2 và Y + XCl2 → YCl2 + X.
Phát biểu đúng là
A. Ion Y2+ có tính oxi hóa mạnh hơn ion X2+.
19


B. Kim loại X khử được ion Y2+.
C. Kim loại X có tính khử mạnh hơn kim loại Y.
D. Ion Y3+ có tính oxi hóa mạnh hơn ion X2+. *
Câu 5: Muối Fe2+ làm mất màu dung dịch KMnO4 trong môi trường axit tạo ra ion
Fe3+. Còn ion Fe3+ tác dụng với I- tạo ra I2 và Fe2+. Sắp xếp các chất oxi hoá Fe3+, I2 và
MnO4- theo thứ tự mạnh dần?
A. Fe3+, I2, MnO4-.
B. I2, Fe3+, MnO4-. *
C. I2, MnO4-, Fe3+.
D. MnO4- , Fe3+, I2.
Câu 6: Để chứng minh tính oxi hóa của O3 mạnh hơn O2, người ta dùng hóa chất nào
sau đây?
A. Dung dịch NaOH.
B. Dung dịch AgNO3.
C. Dung dịch KI có pha thêm hồ tinh bột. * D. Que đóm.
Câu 7: Có phản ứng: 2HX + H2SO4 đặc → X2 + SO2 + 2H2O.
Phân tử HX có thể là
A. HCl, HF.
B. HCl, HBr.
C. HBr, HI. *
D. HCl, HI.
Câu 8: Để điều chế X2 (X là nguyên tố halogen), người ta cho MnO2 (rắn) tác dụng
với dung dịch HX đặc, đun nóng. X2 có thể là:
A. F2, Cl2, Br2, I2.


(3) Flo đẩy được clo ra khỏi dung dịch muối NaCl.
(4) Tính axit tăng dần từ: HF, HCl, HBr, HI.
A. 1, 2, 3.
B. 2, 3.
C. 2, 4. *
D. 1, 2, 4.
+X
+Y
+Z
Câu 13: Cho sơ đồ chuyển hoá: CaO →
CaCl2 →
Ca(NO3)2 
→ CaCO3
Công thức của X, Y, Z lần lượt là:
A. HCl, HNO3, Na2CO3.
B. Cl2, HNO3, CO2.
C. HCl, AgNO3, (NH4)2CO3. *
D. Cl2, AgNO3, MgCO3.
Câu 14: Nhận xét nào sau đây là sai?
A. Axit HF yếu nhưng có khả năng ăn mòn thủy tinh.
B. Tính axit tăng dần theo trật tự: HF, HCl, HBr, HI.
C. Khí F2 oxi hóa được tất cả các kim loại.
D. Khí F2 cháy trong hơi nước tạo ra HF và O2. *
Câu 15: Dãy mà mỗi chất trong dãy đều bị oxi hoá bởi khí Cl2 là:
A. dung dịch KBr, H2O, Na, SO2.
B. Fe, H2, dung dịch NaOH, dung dịch NaI.
C. Cu, H2, dung dịch FeCl2 , dung dịch HI.
*
D. Mg, dung dịch H2SO4, dung dịch NaF, dung dịch KOH


B. có kết tủa trắng
D. không có hiện tượng.

Dạng 2: Vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lí và triệt
để trong việc giải các bài tập hoá học
Câu 21: Cho dung dịch chứa 22,44 gam hỗn hợp gồm hai muối NaX và NaY (X, Y
là hai nguyên tố có trong tự nhiên, ở hai chu kì liên tiếp thuộc nhóm VIIA, số hiệu
nguyên tử ZX < ZY) vào dung dịch AgNO3 dư, thu được 34,44 gam kết tủa. Phần trăm
khối lượng của NaX trong hỗn hợp ban đầu là
A. 37,43%. *
B. 62,57%.
C. 53,48%.
D. 34,84%.
Câu 22: Cho hỗn hợp gồm 6,72 gam Mg và 0,8 gam MgO tác dụng hết với dung
dịch HNO3 dư. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 0,896 lít một khí X
(đktc) và dung dịch Y. Làm bay hơi dung dịch Y được 46 gam muối khan. Khí X là
A. NO2.
B. N2O.
C. N2. *
D. NO.
Câu 23: Cho 2,16 gam Al tác dụng với dung dịch HNO3 dư. Sau khi phản ứng xảy ra
hoàn toàn thu được 0,02 mol khí N2 và dung dịch X. Khối lượng muối nitrat tạo thành
trong dung dịch X là
A. 17,44 gam. *
B. 14,78 gam.
C. 11,36 gam.
D. 17,04 gam.
Câu 24: Cho 0,28 mol Al tác dụng với dung dịch HNO3 dư. Sau khi phản ứng xảy ra
hoàn toàn thu được a mol khí NO và dung dịch chứa 62,04 gam muối. Giá trị của a là

lượng) vào dd HNO3. Sau khi phản ứng hoàn toàn thu được 4,8 gam chất rắn, dung
dịch Y. Lượng muối trong dung dịch Y là
A. 22,7 gam.*
B. 7,2 gam.
C. 28,9 gam.
D. 28,5 gam.
Câu 29: Dung dịch A gồm 0,4 mol HCl và 0,05 mol Cu(NO 3)2. Cho m gam bột Fe
vào dung dịch cho tới khi phản ứng kết thúc thu được chất rắn X gồm 2 kim loại có
khối lượng 0,8m gam. Giá trị của m là (biết chỉ sinh khí NO)
A. 40. *
B. 80.
C. 45.
D. 65.
Câu 30: Cho 10 gam hỗn hợp gồm Fe và Cu (trong đó Cu chiếm 10% về khối
lượng) vào dd HNO3. Sau khi phản ứng hoàn toàn thu được 1,6 gam chất rắn, dung
dịch Y và 2,24 lít khí (đktc) khí NO duy nhất. Lượng muối trong dung dịch Y là
A. 24,2 gam.
B. 27,0 gam. *
C. 37,0 gam.
D. 22,4 gam.
Dạng 3: Không xét hết các trường hợp dẫn đến “thiếu nghiệm”
Câu 31: Sục V lít CO2 (điều kiện chuẩn) vào 200 ml dung dịch X gồm Ba(OH) 2 1M
và NaOH 1M . Sau phản ứng thu được 19,7 gam kết tủa, giá trị của V là
A. 2,24.
B. 2,24 hoặc 11,2. *
C. 6,72.
D. 5,6 hoặc 11,2.
Câu 32: Thổi V ml (đktc) khí CO 2 vào 300ml dd Ca(OH)2 0,02M thì thu được 0,2
gam kết tủa. Giá trị của V là
A. 44,8 hoặc 89,6.

B. 2,24 hoặc 2,48.
C. 1,12 hoặc 3,84.
*
D. 2,24 hoặc 3,84.
Câu 37: Hòa tan hoàn toàn 11,2 gam CaO vào nước được dung dịch X. Cho khí CO 2
qua dung dịch X, sau khi kết thúc thí nghiệm thu được 2,5 gam kết tủa. Thể tích khí
CO2 dã tham gia phản ứng là
A. 8,40 lít.
B. 0,56 lít.
C. 4,48 lít.
D. 8,40 lít hoặc 0,56 lít. *
Câu 38: Trộn V lít dung dịch Ba(OH)2 0,9M với 80 ml dung dịch Al2(SO4)3 0,65M
thu được 40,014 gam kết tủa. Giá trị của V là
A. 270.
B. 156.
C. 270 hoặc 348.
D. 156 hoặc 205. *
Câu 39: Hòa tan m gam ZnSO4 vào nước được dung dịch B.
Tiến hành 2 thí nghiệm sau:
TN1: Cho dung dịch B tác dụng với 110 ml dd KOH 2M thu được 3a gam kết tủa.
TN2: Cho dung dịch B tác dụng với 140 ml dd KOH 2M thu được 2a gam kết tủa.
Giá trị của m bằng
A. 14,49.
B. 16,10. *
C. 4,83.
D. 80,50.
Câu 40: Cho 31,7 gam CrCl3 vào 920 ml dung dịch NaOH 1M thu được dung dịch
A. Tính thể tích dung dịch HCl 0,5M cần thêm vào dung dịch A để lượng kết tủa là
10,3 gam?
A. 0,20 lít.

A. 11,20 và 78,8.
B. 20,16 và 148,7.
C. 20,16 và 78,8.
D. 11,20 và 148,7. *
Câu 45: Trộn 100 ml dung dịch A (KHCO3 1M, K2CO3 1M) vào 100 ml dung dịch
B (NaHCO3 1M, Na2CO3 1M) thu được dung dịch C. Nhỏ từ từ 100 ml dung dịch D
(H2SO4 1M, HCl 1M) vào dung dịch C thu được V lít khí CO 2 và dung dịch E. Cho
dung dịch Ba(OH)2 dư vào dung dịch E thu được m gam kết tủa. Giá trị của m và V
lần lượt là
A. 59,1 và 2,24.
B. 82,4 và 2,24. *
C. 59,1 và 6,72.
D. 43,0 và 6,72.
Câu 46: Có 2 cốc riêng biệt: cốc 1 đựng dung dịch chứa 0,2 mol Na 2CO3 và 0,3 mol
NaHCO3; cốc 2 đựng dung dịch chứa 0,5 mol HCl. Khi nhỏ từ từ cốc 1 vào cốc 2
thấy thoát ra V lít khí CO2 (đktc). Giả sử tốc độ phản ứng của Na 2CO3 và NaHCO3
với dung dịch HCl là như nhau. Giá trị của V là
A. 6,72.
B. 7,84.
C. 8,00.
D. 8,96.
Câu 47: Trộn V lít dung dịch Ba(OH)2 0,9M với 80 ml dung dịch Al2(SO4)3 0,65M
được 40,014 gam kết tủa. Giá trị của V là:
A. 312 hoặc 410
B. 156 hoặc 205. *
C. 270 hoặc 348
D. 234 hoặc 308.
Câu 48: Hoà tan hết m gam Al2(SO4)3 vào nước được dung dịch X. Cho 300 ml dung
dịch NaOH 1M vào X, thu được a gam kết tủa. Mặt khác, nếu cho 400 ml dung dịch
NaOH 1M vào X, cũng thu được a gam kết tủa. Giá trị của m là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status