BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Lê Thị Mỹ Nhung
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TỈNH TÂY NINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Lê Thị Mỹ Nhung
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TỈNH TÂY NINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Địa Lí học
Mã số
: 603195
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................. 1
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài .......................................................................................... 2
4. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu ............................................................... 3
5. Cấu trúc của đề tài ..................................................................................................... 5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG SỬ
DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG ................................................................... 6
1.1. Lao động ................................................................................................................. 6
1.1.1. Một số khai niệm ............................................................................................. 6
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lao động ........................................................... 10
1.2.Vấn đề sử dụng lao động ....................................................................................... 16
1.2.1. Sử dụng nguồn lao động................................................................................ 16
1.2.2. Các loại hình sử dụng lao động .................................................................... 17
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn lao động........................... 18
1.3.Đặc điểm lao động ở Việt Nam ............................................................................. 22
Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở TÂY NINH .. 25
2.1. Khái quát về tỉnh Tây Ninh ................................................................................. 25
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng nguồn lao động ở Tây Ninh .......... 25
2.3. Thực trạng nguồn lao động tỉnh Tây Ninh .......................................................... 37
2.4. Thực trạng sử dụng lao động ở tỉnh Tây Ninh ..................................................... 52
2.4.1. Tình hình chung ............................................................................................. 52
2.4.2. Tình hình sử dụng lao động trong từng khu vực kinh tế ............................... 54
2.4.3. Nhận xét thực trạng sử dụng lao động Tây Ninh .......................................... 58
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, SỬ
DỤNG HỢP LÝ LAO ĐỘNG TỈNH TÂY NINH................................. 62
3.1.Cơ sở dự báo lao động ........................................................................................... 62
Bảng 3.6: Dự báo nhu cầu lao động và cơ cấu lao động theo ngành
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ 2.2:
Dân số Tây Ninh qua các năm
Dân số gia tăng tự nhiên của Tây Ninh giai đoạn 2000 – 2009
Biểu đồ 2.3:
Cơ cấu GDP Tây Ninh theo khu vực kinh tếx (1999-2009)
Biểu đồ 2.4:
Cơ cấu dân số tỉnh Tây Ninh trong độ tuổi lao động chia theo tình trạng hoạt
động (2005-2009)
Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ 2.6 :
Biểu đồ 2.7:
Biểu đồ 2.8:
Trình độ học vấn của nguồn lao động Tây Ninh
Cơ cấu lao động Tây Ninh theo trình độ chuyên môn
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Dân số tỉnh Tây Ninh trong độ tuổi lao động phân theo giới tính (2003 –
2005)
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng ta đã xác định rõ: “Lấy việc phát huy nguồn lực con
người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững” và “bảo đảm công ăn
việc làm cho người dân là mục tiêu xã hội hàng đầu”. Phát triển nguồn lao động trở thành
điều kiện đảm bảo cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước
ta hiện nay.
Hòa nhập với bước phát triển kinh tế của cả nước, Tây Ninh - tỉnh thuộc miền Đông
Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với thành phố Hồ Chí
Minh, là nơi có tiềm năng kinh tế năng động nhất trong cả nước. Tuy nhiên tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng còn gặp rất nhiều khó khăn; đội ngũ cán bộ còn thiếu về
số lượng và yếu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cơ sở hạ tầng còn kém so với các tỉnh
trong khu vực. Vì vậy bước vào thời kỳ phát triển mới, tỉnh Tây Ninh đứng trước nhiều thời
cơ thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế xã hội.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề, Tác giả luận văn chọn đề tài “Sử dụng lao động
tỉnh Tây Ninh: Thực trạng và giải pháp” làm luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích
- Nghiên cứu thực trạng lao động tỉnh Tây Ninh để nâng cao chất lượng lao động và
sử dụng hợp lý nguồn lao động trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lý luận và thực tiển về sử dụng nguồn lao động
Việt Nam, vận dụng nghiên cứu vào lãnh thổ cụ thể ở tỉnh Tây Ninh.
- Khảo sát thực tế, thu thập tư liệu, phân tích các nguồn lực, những lợi thế và thực
trạng sử dụng nguồn lao động ở tỉnh Tây Ninh.
- Dự báo, xây dựng định hướng chiến lược sử dụng và thu hút nguồn lao động ở tỉnh
Tây Ninh.
2.3. Phạm vi
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động các huyện
Vấn đề về lao động ở tỉnh Tây Ninh cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu của Sở Lao
động - Thương binh - Xã hội nhưng những công trình nghiên cứu trên chỉ chủ yếu tập trung
bàn về khái niệm nguồn lao động và việc làm nhưng chưa nêu rõ tính cấp bách, tầm quan
trọng của vấn đề lao động trong giai đoạn hiện nay.
Những đề tài nghiên cứu của các tác giả trên là tài liệu tham khảo vô cùng quý báu cho
tôi thực hiện đề tài này. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu đều có quy mô lớn, tổng hợp, đến
nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề lao động và sử dụng nguồn lao động
tỉnh Tây Ninh. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Sử dụng lao động tỉnh Tây Ninh: Thực
trạng và giải pháp”.
4. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Hệ quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm hệ thống
Nguồn lao động là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã hội. Sự phát triển
về số lượng, chất lượng lao động cũng như việc sử dụng lao động phụ thuộc vào một cơ cấu
kinh tế và một thể chế xã hội nhất định. Vì vậy phải xem các vấn đề lao động như một hệ
thống con trong hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn vận động và phát triển không
ngừng.
Tây Ninh là một hệ thống kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là một bộ phận của hệ thống
kinh tế - xã hội Việt Nam. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, các vấn đề
như: Vị trí, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, đường lối phát triển kinh tế - xã hội…
luôn có sự tác động qua lại với nhau. Do đó khi nghiên cứu vấn đề lao động ở Tây Ninh ta
cần phải đặt nó trong mối quan hệ mật thiết với các vấn đề khác.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp
Tất cả các yế tố tự nhiên và kinh tế - xã hội không hoạt động tách rời nhau mà có mối
quan hệ hữu cơ với nhau thúc đẩy hoặc ức chế sự phát triển của nhau.
Như ở thị xã Tây Ninh là nơi thuận lợi để phát triển các xí nghiệp công nghiệp, ngành
du lịch và thương mại. Đây là nơi tập trung lao động đông so với các huyện. Tuy nhiên điều
đó cũng gây sức ép đối với y tế, giáo dục, chất lượng cuộc sống.
4.2.2. Phương pháp thống kê, so sánh
Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý được triệt để khai thác phục vụ cho việc
nghiên cứu. Số liệu thu thập, tổng hợp, xử lý trên cơ sở dữ liệu và kết quả của các cuộc tổng
điều tra dân số và nhà ở, thống kê kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê
tỉnh Tây Ninh, cũng như từ các cơ quan quản lý của tỉnh Tây Ninh.
Sử dụng các nguồn số liệu của các tổ chức, ban ngành, số liệu thống kê về kinh tế, dân
cư, lao động của các vùng để phân tích. So sánh nguồn lao động của Tây Ninh so với các
địa phương, các vùng khác. Từ đó rút ra những kết luận có tính quy luật và tìm được nguyên
nhân chính để đưa ra những biện pháp nhằm phân bố lại nguồn lao động và sử dụng lao
động một cách hợp lý nhất.
4.2.3. Phương pháp biểu đồ, bản đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của nghiên cứu địa lý học, đề tài đã thành lập bản đồ
phân bố lao động theo ngành và theo lãnh thổ dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được và chồng
xếp các bản đồ chuyên đề, nhằm xác lập mối liên hệ giữa các đối tượng địa lý.
4.2.4. Phương pháp thực địa
Ngoài việc thu thập những số liệu thống kê, tác giả còn tiến hành điều tra thực địa đến
những cụm dân cư của huyện cũng như các xi nghiệp, nhà máy để khảo sát thực tế.
Đây là phương pháp giúp ta tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng,
thiếu cơ sở thực tiễn. Phương pháp này giúp đánh giá xác định lại một cách đầy đủ, chính
xác tài liệu đã có, đồng thời bổ sung kịp thời những nội dung mới được phát hiện trong quá
trình khảo sát thực địa.
4.2.5. Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo mà chúng ta sử dụng ở đây là phương pháp ngoại suy. Phương
pháp này dựa trên nghiên cứu lịch sử của đối tượng và sự chuyển động mang tính quy luật
đã được hình thành trong quá khứ và hiện tại để dự báo cho tương lai bằng phương pháp xử
lý chuỗi thời gian kinh tế
.
động có mục đích của con người, là hành động diễn ra giữa người với tự nhiên. Vì thế lao
động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, là một sự tất yếu vĩnh viễn,
là cầu nối quan trọng trong sự trao đổi vật chất giữa tự nhiên và con người.
1.1.1.2
. Nguồn lao động
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Nguồn lao động là toàn bộ những người
đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có
nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ
hưu trước tuổi theo quy định của Bộ Luật lao động)[5],[28].
Vậy nguồn lao động của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa phương là
tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có trong một thời điểm xác định. Tiềm
năng đó bao hàm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống
lịch sử, văn hóa của dân tộc) của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã
hội.
Trong nghiên cứu của mình, luận văn sử dụng quan niệm nguồn lao động của Liên
Hợp Quốc.
1.1.1.3. Dân số hoạt động kinh tế
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người
đang làm việc và cả những người không có việc làm (thất nghiệp) nhưng đang tích cực tìm
việc làm trong một ngành nào đó của nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định[5].
Theo Bộ Lao động - Thương binh xã hội, dân số hoạt động kinh tế (lực lượng lao
động) là bộ phận dân số từ 15 tuổi trở lên, đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng
có nhu cầu làm việc trong một khoảng thời gian xác định. [5]
Dân số hoạt động kinh tế trong tuổi lao động (lực lượng lao động trong độ tuổi lao
động) là những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 - 60 tuổi, nữ từ 15 - 55 tuổi), có khả
và là tiền đề quan trọng của sự phát triển nguồn lao động[11].
Hiện nay, trên 30 quốc gia có tỷ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở lên đạt 100%, có
khoảng 30 quốc gia (trong đó có Việt Nam) tỷ lệ người không biết chữ ở độ tuổi 15 tuổi trở
lên chỉ có 5%, nhưng cũng còn tới 25 quốc gia có tới trên 50% số người trong độ tuổi lao
động mù chữ.
- Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của lực lượng lao động: chỉ tiêu này được xem xét
bằng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo các cấp (công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp,
cao đẳng đại học trở lên) trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân.
Theo kinh nghiệm của thế giới, tương ứng với mỗi quốc gia phát triển của tiến bộ khoa học
kỹ thuật, cần có cơ cấu chất lượng lao động theo trình độ hợp lý tương ứng. Theo F.M
Harbison, trong một chu kỳ dài, tốc độ tăng nhu cầu lao động có kỹ thuật đã qua đào tạo
thường gấp 2, 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP). Còn theo kinh nghiệm của các nước
đang phát triển, tỷ lệ hợp lý giữa công nhân kỹ thuật và trung học chuyên nghiệp so với đại
học và cao đẳng là 7/3.
Trên thực tế, cơ cấu lao động đã qua đào tạo mà bất hợp lý sẽ kìm hảm sự phát triển
kinh tế của đất nước. Nền kinh tế hiện đại đang trầm trọng thiếu công nhân lành nghề và lao
động kỹ thuật, trong khi đó có hàng vạn cử nhân, thạc sĩ chưa có công việc phù hợp với
trình độ chuyên môn và rất nhiều lao động giản đơn không có việc làm, gây nên một sự lãng
phí rất lớn trong nguồn lao động xã hội.
Thực tế việc đào tạo nghề đang là vấn đề bức xúc đối với nguồn lao động ở các nước
đang phát triển trong đó có Việt Nam.
- Ngoài những tiêu chi trên, vấn đề sức khỏe người lao động là một trong những tiêu
chí đang được quan tâm. Chỉ tiêu này được xem là thước đo của chất lượng lao động. Lao
động muốn có năng suất cao thì đòi hỏi người lao động phải có thể lực tốt, sức khỏe tốt.
Do đó sức khỏe người lao động quyết định nhất về chất lượng lao động.
1.1.1.6
. Việc làm
Trong thị trường lao động, thất nghiệp là khái niệm dùng để chỉ những người trong lực
lượng lao động, có ý muốn đi làm (thể hiện qua những cố gắng đi tìm việc làm, hoặc đang
chờ để trở lại nơi làm việc cũ), nhưng hiện đang không có việc làm trong một khoảng thời
gian xác định.
Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “người thất nghiệp là những người không có
việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc”. Như vậy,
theo tổ chức Lao động Quốc tế thì những người thất nghiệp là những người hội tụ đủ 3 tiêu
thức sau đây: Có khả năng lao động, không có việc làm, đang tích cực tìm việc làm.
Nói một cách đơn giản, một người được coi là thất nghiệp nếu người đó trong độ tuổi
lao động có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang cố gắng tìm việc làm.
Trong những quy định điều tra thực trạng lao động và việc làm được áp dụng từ năm 1996
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành, xác định người thất nghiệp là người từ
đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế trong thời điểm điều tra không có
việc làm nhưng có nhu cầu làm việc[4].
Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng khái niệm thất nghiệp để làm công cụ nghiên cứu
nguồn lao động như sau: Người thất nghiệp là những người trong lực lượng lao động không
có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm[11].
Theo các lý thuyết kinh tế học lao động có rất nhiều dạng thất nghiệp khác nhau, dưới
đây là một số loại hình thất nghiệp chủ yếu:
- Thất nghiệp tự nguyện (tự nhiên) là tình trạng thất nghiệp của người lao động do
không tích cực tìm việc làm ở mức lương hiện hành. Thất nghiệp tự nhiên là dạng thất
nghiệp chấp nhận được của nền kinh tế, tức là với mức thất nghiệp này nền kinh tế vẫn giữ
được sự phát triển bình thường.
- Thất nghiệp dài hạn là tình trạng thất nghiệp có thời gian kéo dài từ 1 năm trở lên.
- Thất nghiệp chu kỳ là tình trạng thất nghiệp xảy ra trong một giai đoạn đình trệ của
chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi mất đồng bộ giữa cơ cấu lao
động và cơ hội làm việc do sự thay đổi cơ cấu nhu cầu tiêu dùng và công nghệ. Loại thất
• Khí hậu
Khí hậu chi phối mọi hoạt động sản xuất, nhất là nông - lâm - ngư nghiệp, ảnh hưởng
đến sinh hoạt của dân cư và lao động. Vùng nhiệt đới ánh sáng nhiều, nhiệt độ cao, cây
trồng vật nuôi sinh trưởng nhanh, năng suất cao, nuôi sống nhiều người nên đây cũng là nơi
tập trung dân cư và lao động.
Về mặt sinh học, con người vùng nhiệt đới có khả năng sinh đẻ lớn hơn vùng ôn đới
và hàn đới nên mức sinh ở các nước nhiệt đới cũng thường cao hơn nhất là những nước
nghèo, lạc hậu, làm cho mức gia tăng về dân số và lao động lớn.
Diễn biến mùa khí hậu góp phần hình thành tập quán canh tác, sinh hoạt và kinh
nghiệm sản xuất của người lao động từng địa phương. Khí hậu ở miền Nam nước ta có hai
mùa rõ rệt, mùa nắng luôn kéo dài làm chi phối thời vụ gieo trồng, ảnh hưởng năng xuất cây
trồng vật nuôi, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động.
• Đất đai
Mọi hoạt động kinh tế xã hội cần có đất đai, đất đai là yếu tố sản xuất quan trọng của
nông nghiệp. Sự tập trung dân cư và lao động đông đúc trước tiên là những vùng đất đai
màu mỡ, thuận lợi cho canh tác cây lương thực, thực phẩm.
Sự chuyển dịch dân cư - lao động sang các lĩnh vực phi nông nghiệp đều phải dựa vào
nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm từ những vùng sản xuất trọng điểm nơi có đất đai
thích hợp với cây lương thực, thực phẩm. Mọi sản xuất công nghiệp, dịch vụ đều cần có đất
đai. Do diện tích đất đai có hạn, người ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng cách đầu
tư thêm lao động vốn, kỹ thuật cao trên một đơn vị diện tích để tăng sản phẩm.
• Nguồn nước
Nguồn nước cần thiết cho sự sống của mọi sinh vật, cần thiết cho hoạt động của nông
nghiệp. Sự phân bố lao động chịu ảnh hưởng gián tiếp của nguồn nước. Vùng khô hạn
không đủ nước cho cây trồng vật nuôi phát triển thì dân cư lao động cũng thưa thớt. Trái lại,
nơi có nguồn nước phong phú thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, nguồn lao động tập
trung đông đúc. Bất kỳ ngành công nghiệp nào cũng cần có nước. Vì vậy, các nhà máy công
nghiệp thường được phân bố trên những sông lớn và lao động công nghiệp cũng được phân
Khi mức gia tăng dân số cao, thu nhập quốc dân dành cho tiêu dùng và đầu tư vào các
phúc lợi công cộng phục vụ cho số dân đó sẽ tăng lên, thu nhập đầu tư cho tái sản xuất và
tái sản xuất mở rộng giảm đi, dẫn tới khó khăn cho mở rộng đầu tư việc làm. Điều đó ảnh
hưởng đến số lượng và chất lượng của lực lượng lao động.
Ngược lại, khi quy mô lực lượng lao động lớn, nhất là số người trong độ tuổi lao động
chiếm tỷ lệ cao trong dân số, dẫn tới quy mô dân số đặc biệt là dân số nữ trong độ tuổi sinh
đẻ lớn. Với cơ cấu dân số đó, đặc trưng về trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp của lực
lượng lao động thường thấp dẫn đến việc kiểm soát hành vi sinh đẻ còn hạn chế, mức sinh
cao.
- Gia tăng cơ học của dân số và quy mô lực lượng lao động
Người dân di chuyển từ nơi có mức sống thấp sang nơi có mức sống cao, từ nơi có ít
cơ hội kiếm được việc làm hoặc việc làm thu nhập thấp không ổn định sang nơi có nhiều cơ
hội kiếm được việc làm hoặc việc làm có thu nhập cao ổn định. Như vậy, dòng di dân với
các đặc trưng trên sẽ làm tăng quy mô lực lượng lao động nơi nhập cư và giảm quy mô lực
lượng lao động nơi xuất cư.
Nơi nhập cư: Nếu bộ phận lực lượng lao động nhập cư có trình độ văn hóa và trình độ
nghề nghiệp thấp thì khó có thể tham gia vào khu vực kinh tế hoặc không tìm được việc
làm, từ đó tạo thêm gánh nặng thất nghiệp cho những nơi nhập cư.
Nơi xuất cư: Việc xuất cư sẽ làm giảm bớt sự tập trung dân số, giảm được số người
thất nghiệp trong lực lượng lao động. Nhưng nếu bộ phận lực lượng lao động có trình độ
nghề nghiệp và học vấn cao tham gia xuất cư thì sẽ mất đi bộ phận tinh túy nhất của nguồn
lao động. Đó cũng là một trong những trở ngại cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nơi xuất
cư.
Ngược lại, do quy mô lực lượng lao động lớn, sự phát triển kinh tế - xã hội không đủ
việc làm cho người lao động nên đã dẫn tới hiện tượng thừa lao động, chủ yếu là những lao
động có trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp thấp, khiến họ phải di chuyển tới những
nơi có cơ hội kiếm được việc làm. Đồng thời, khi quy mô lực lượng lao động lớn, việc tạo
ra nhiều việc làm sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng tiến bộ công nghệ kỹ thuật. Điều đó
tâm thương mại.
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là những thành phố có lịch sử khai thác lâu đời, có
cơ sở hạ tầng khá phát triển, là nơi tập trung đông dân cư, nguồn lao động lớn, đội ngũ lao
động có trình độ cao.
• Cơ sở hạ tầng
Ở đâu có cơ sở hạ tầng phát triển, ở đó nền kinh tế thịnh vượng, dân cư lao động tập
trung đông. Giao thông vận tải, thông tin liên lạc là những yếu tố quan trọng hàng đầu
trong cơ sở hạ tầng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cần đảm bảo thông tin nhanh
nhạy, lưu thông hàng hóa kịp thời.
Muốn phân bố lại lực lượng lao động trên lãnh thổ, phải quan tâm xây dựng cơ sở hạ
tầng, trước hết là đường giao thông mạng lưới thông tin, nhà ở, sau nữa là trường học, trạm
y tế, điện, nước… Những vùng đồng bằng, những trung tâm thành phố tập trung đông người
do cơ sở hạ tầng ở đó phát triển thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt.
• Đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
Đường lối đổi mới phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với các chính sách
hợp lý thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nguồn vốn của các tổ chức và cá nhân trong nước đưa
vào sản xuất, tận dụng được tiềm năng lao động. Các chính sách tạo sự công bằng xã hội
như khuyến nông, xóa đói, giảm nghèo… tạo cơ hội cho nông dân. Những người nghèo có
vốn sản xuất, có việc làm nhằm nâng cao mức sống, tăng sức khỏe người dân nói chung,
người lao động nói riêng. Các chính sách về giáo dục, y tế sẽ tác động trực tiếp đến việc
nâng cao chất lượng lao động.
• Giáo dục
Giáo dục có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển tiềm năng con người. Giáo
dục cung cấp những tri thức phổ thông hiện đại, những kiến thức khoa học kỹ thuật
chuyên ngành cho người lao động. Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào sức khỏe
người lao động, vào công nghệ sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào trình độ hiểu biết của
người lao động. Kết quả của giáo dục là làm tăng lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn cao, thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ.
trong nông nghiệp: Cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, điện khí hóa…
Đối với những nước phát triển, có diện tích đất canh tác lớn, hình thức tổ chức nông
nghiệp phổ biến là các trang trại với quy mô lớn, chuyên môn hóa về sản phẩm cây trồng và
vật nuôi. Mức độ CNH ở các nước ngày càng cao nên tỷ lệ lao động nông nghiệp thấp.
Ở những nước đang phát triển như nước ta, lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực
nông nghiệp. Việc làm của lao động nông nghiệp bị tính chất mùa vụ chi phối. Vào thời vụ
gieo trồng, thu hoạch thì chiếm đông lao động nhưng những lúc nông nhàn thì lao động
chiếm tỷ lệ rất thấp.
Nhìn chung, cùng với quá trình CNH, HĐH nền kinh tế nông nghiệp có những thay
đổi nhất định. Tỷ lệ lao động nông nghiệp ở những nước đang phát triển và phát triển có xu
hướng giảm dần. Đồng thời, lao động nông nghiệp cũng cần có trình độ chuyên môn kỹ
thuật để trực tiếp tham gia sản xuất bằng các loại máy móc và thiết bị hiện đại.
1.2.2.2. Sử dụng lao động trong ngành công nghiệp
Lao động trong công nghiệp là lao động của loại hình sản xuất tiên tiến, sử dụng máy
móc hiện đại, năng suất lao động cao. Với đặc điểm là sản xuất theo dây chuyền, chuyên
môn hóa và tự động hóa ngày càng cao, quy trình công nghệ hiện đại đòi hỏi người lao động
phải tuân thủ theo các thao tác lao động một cách chính xác kịp thời. Tạo cho người lao
động có tác phong công nghiệp và kỷ luật cao.
Phát triển công nghiệp tạo ra khả năng sản xuất, mở rộng thị trường lao động và tạo ra
nhiều việc làm mới. Công nghiệp càng phát triển, càng thu hút nhiều lao động từ khu vực
nông nghiệp, góp phần quan trọng trong việc giảm sức ép lao động nông nghiệp ở các nước
đang phát triển. Do đó muốn giải quyết việc làm cho người lao động thì phải có sự tăng
trưởng về kinh tế, tích lũy vốn và mở rộng sản xuất bằng con đường công nghiệp hóa.
1.2.2.3. Sử dụng lao động trong ngành dịch vụ
Lao động trong ngành dịch vụ mang tính xã hội cao. Nhiều loại hình dịch vụ không
cần vốn lớn, thời gian chuẩn bị ngắn mà lại tạo nhiều việc làm cho người lao động. Nền
kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ lao động trong ngành dịch vụ càng cao.