thiết kế bài luyện tập môn hóa học lớp 12 thpt theo hướng dạy học tích cực - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trương Đăng Thái

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trương Đăng Thái

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. TRẦN LÊ QUAN

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi xin chân
thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Hóa trường ĐHSP TP.Hồ Chí
Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất.

1.3.4. Một số phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT ............................. 12
1.3.5. Ứng dụng dạy học tích cực trong lớp học .................................................. 14
1.4. Bài ôn tập và bài luyện tập môn hóa học ở trường phổ thông .......................... 14
1.4.1. Khái niệm ôn tập ........................................................................................ 14
1.4.2. Khái niệm luyện tập ................................................................................... 15
1.4.3. Phân biệt bài ôn tập với bài luyện tập ........................................................ 15
1.5. Thực trạng việc thiết kế và thực hiện bài luyện tập ở trường THPT ................ 15
1.5.1. Mục đích điều tra........................................................................................ 15
1.5.2. Đối tượng điều tra ...................................................................................... 15
1.5.3. Kết quả điều tra .......................................................................................... 16
Chương 2. THIẾT KẾ CÁC BÀI LUYỆN TẬP HÓA HỌC LỚP 12 THPT THEO
HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC ..................................................... 20
2.1. Tổng quan về chương trình môn hóa học lớp 12 THPT ................................... 20
2.1.1. Mục tiêu cơ bản của chương trình hóa học lớp 12 THPT .......................... 20
2.1.2. Cấu trúc chương trình................................................................................. 22
2.2. Định hướng khi thiết kế bài luyện tập theo hướng dạy học tích cực ................ 23


2.3. Các phương pháp dạy học thường được sử dụng nhằm phát huy tính tích

cực của

học sinh khi dạy bài luyện tập.......................................................................... 23
2.4. Qui trình thiết kế giáo án các bài luyện tập theo hướng dạy học tích cực ........ 24
2.5. Giáo án bài luyện tập hóa học lớp 12 THPT theo hướng dạy học tích cực ...... 24
2.5.1. Giáo án bài 4. Luyện tập: Este và chất béo ................................................ 24
2.5.2. Giáo án bài 7. Luyện tập: Cấu tạo và tính chất của cacbohiđrat ................ 29
2.5.3. Giáo án bài 12. Luyện tập: Cấu tạo của amin, aminoaxit và protein ......... 36
2.5.4. Giáo án bài 15. Luyện tập: Polime và vật liệu polime ............................... 40
2.5.5. Giáo án bài 22. Luyện tập: Tính chất của kim loại .................................... 43

Bà Rịa -Vũng Tàu

BTVN

:

bài tập về nhà

CTPT

:

công thức phân tử

CTCT

:

công thức cấu tạo

dd

:

dung dịch

ĐC

:


phương trình hóa học

SGK

:

sách giáo khoa

THPT

:

Trung học phổ thông

TN

:

thực nghiệm

Tp.HCM

:

Thành phố Hồ Chí Minh


DANH MỤC CÁC BẢNG
trang
Bảng 1.1. Danh sách các trường được điều tra thực trạng


DANH MỤC CÁC HÌNH
trang
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm 4

94

Hình 3.2. Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm 7

95

Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm 12

95

Hình 3.4. Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm 22

96

Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm 37

96


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng lần IX đã chỉ rõ : “ Đổi mới phương pháp dạy và học, phát
huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực
nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay...”. Điều 28 Luật Giáo dục
(2005) nước ta cũng đã nêu : “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích

lớp 12 THPT theo hướng dạy học tích cực.
- Thiết kế giáo án các bài luyện tập của SGK hóa học lớp 12 THPT theo hướng dạy
học tích cực.
- Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả và tính khả thi của những bài giảng đã
thiết kế.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Việc thiết kế giáo án bài luyện tập hóa học 12 ở trường THPT theo hướng dạy học
tích cực.

5. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: các bài luyện tập môn hóa học 12 chương trình chuẩn (
gồm 11 bài).
- Phạm vi thực nghiệm sư phạm : với giáo viên và học sinh ở một số trường THPT
thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 07 năm 2009 đến tháng 12 năm 2010.

6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và tổ chức hợp lí bài luyện tập theo hướng dạy học tích cực sẽ hoạt động
hóa người học, rèn luyện được năng lực tự học cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng và
hiệu quả dạy học hoá học ở trường phổ thông.

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa.

Cách 2 : Dạy theo kiểu tiếp cận hợp tác hai chiều. Cách tiếp cận này dựa trên nguyên
tắc làm cho việc học được dễ dàng thông qua việc giúp trò phát triển kỹ
năng ‘giải quyết vấn đề’ và ‘tư duy sáng tạo’.
Việc học : Đó là hoạt động của trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm nắm vững kiến
thức, kỹ năng phát triển những năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan duy vật biện
chứng, đạo đức, nhân cách. Việc dạy và việc học là hai mặt của một quá trình thống nhất :
Sự dạy học. Việc dạy của thầy phải có tác động điều khiển (tổ chức, chỉ đạo, đánh giá) sự
học của trò nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, tự lực của trò. Dạy tốt là làm cho trò
biết học, biết biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo. Sự học một mặt phải biết dựa vào sự
dạy, mặt khác phải là quá trình tự giác, tích cực và tự lực của trò.
Ngày nay có thể coi việc học như là quá trình thu nhận, ghi nhớ, tích lũy, sử dụng,
liên kết, lí giải và xử lí thông tin, giải quyết vấn đề. Đó là cách tiếp cận việc học theo mô
hình thông tin, từ đó có thể định nghĩa việc học như sau :
«

Học, cốt lõi tà tự học, là quá trình phát triển nội tại. Trong đó chủ thể tự thể hiện và

biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình bằng cách thu nhận, xử lý thông tin
lấy từ môi trường sống xung quanh mình ».


1.2. Nhiệm vụ trí - đức - dục của môn hóa học ở trường phổ thông [5]
1.2.1. Cung cấp cho học sinh những cơ sở của học thuyết về các nguyên tố hóa học, về
các chất vô cơ và hữu cơ quan trọng nhất, về ứng dụng của hóa học trong sản xuất và
đời sống
Về mặt này, việc giảng dạy hóa học phải đảm bảo cho học sinh:
- Lĩnh hội một cách vững chắc, tự giác và có hệ thống những sự kiện, khái niệm cơ
bản, định luật và học thuyết hóa học (định luật tuần hoàn các nguyên tố hóa học, những kiến
thức mở đầu về lý thuyết cấu tạo nguyên tử, thuyết ion, thuyết cấu tạo hóa học) và ứng dụng
có hệ thống những hiểu biết đó vào trong học tập, lao động và trong việc giải quyết những

sống, xã hội, kinh tế và môi trường
1.2.4. Góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lao động và thẩm mỹ … giáo dục lòng yêu
nước và ý thức cộng đồng
Tóm lại, việc giảng dạy hóa học ở trường phổ thông có những nhiệm vụ cung cấp hệ
thống các kiến thức cơ bản; phát triển năng lực nhận thức, hình thành phương pháp nghiên
cứu khoa học, góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, thế giới quan cho học sinh.

1.3. Phương pháp dạy học tích cực [3], [5], [10], [22], [43]
1.3.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để
chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực
của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy
nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy
theo phương pháp thụ động.
1.3.2. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản như:
− Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học
trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết. Trong giờ
học HS được tổ chức, động viên tham gia vào các hoạt động học tập qua đó vừa nắm được
kiến thức, kỹ năng mới vừa nắm được phương pháp nhận thức, học tập. Trong phương pháp
dạy học tích cực việc tổ chức để HS học được tri thức, kỹ năng, phương pháp học tập luôn
gắn quyện vào nhau theo quá trình học kiến thức- hoạt động đến biết hoạt động và muốn
hoạt động qua đó mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo.


− Những phương pháp dạy học có chú trọng rèn luyện kỹ năng, phương pháp và thói
quen tự học, từ đó mà tạo cho học sinh sự hứng thú, lòng ham muốn, khao khát học tập,
khơi dậy những tiềm năng vốn có trong mỗi học sinh để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc

học và hình thức tổ chức dạy học.
1.3.3.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động học tập tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh, chống lại thói quen học tập thụ động. Đổi mới phương
pháp dạy học bao gồm đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh,
đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học, đổi
mới kĩ thuật dạy học với định hướng :
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông ;
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể ;
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh ;
- Phù hợp với cơ sở vật chất và các điều kiện dạy học của nhà trường ;
- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học ;
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, hiệu quả các phương pháp dạy
học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học
truyền thống ;
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến
những ứng dụng của công nghệ thông tin.
1.3.3.2. Sự đổi mới mục tiêu
Từ yêu cầu của xã hội hiện đại, mục tiêu giáo dục cũng cần được thay đổi để đào tạo
những con người thích ứng với xã hội phát triển, với bản thân người học.
Trong mục tiêu giáo dục của các cấp bậc học đã có điểm mới là tập trung hơn nữa
vào việc hình thành năng lực cho học sinh đó là: năng lực nhận thức, năng lực hành động
(năng lực giải quyết vấn đề), năng lực thích ứng với điều kiện xã hội.
Trong mục tiêu của môn hoá học đã xác định rõ: ngoài những kiến thức, kỹ năng hoá
học cơ bản mà học sinh phải đạt được cần chú ý nhiều hơn tới việc hình thành các kỹ năng
vận dụng kiến thức, kỹ năng tiến hành nghiên cứu khoa học hoá học như: quan sát, phân
loại, thu thập thông tin, dự đoán khoa học, đề ra giả thuyết, giải quyết vấn đề, tiến hành thí
nghiệm từ đơn giản đến phức tạp…để học sinh có khả năng tự phát hiện và giải quyết một
cách chủ động sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hoá học.
1.3.3.3. Sự đổi mới hoạt động dạy của giáo viên



+ Dự đoán, phán đoán, suy luận trên cơ sở lí thuyết, đề ra giả thuyết khi giải
quyết một vấn đề mang tính lí luận.
+ Tiến hành thí nghiệm, quan sát, mô tả, giải thích và rút ra kết luận.
+ Trả lời câu hỏi, giải bài toán hoá học.
+ Thảo luận vấn đề học tập theo nhóm và rút ra kết luận.
+ Báo cáo kết quả hoạt động cá nhân, nhóm hoặc phát biểu quan điểm, nhận định
của mình về một vấn đề học tập.
- Vận dụng kiến thức, kỹ năng đã biết để giải thích, tìm hiểu một số hiện tượng hoá
học xảy ra trong thực tế đời sống.
- Đánh giá việc nắm kiến thức, kỹ năng hoá học của bản thân và các bạn trong lớp.
Như vậy việc đổi mới phương pháp dạy học hoá học là phải tác động vào học sinh để
học sinh được hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn; tích cực chủ động trong các hoạt
động chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng hoá học, có ý thức và biết cách vận dụng kiến thức hoá
học vào thực tế đời sống. Thông qua các hoạt động học tập tích cực thì học sinh không chỉ
nắm vững các kiến thức, kỹ năng hoá học mà còn nắm được phương pháp học tập, kỹ năng
hoạt động tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề học tập một cách linh hoạt và sáng tạo.
1.3.3.5. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học
Hình thức tổ chức dạy học lớp – bài được thay đổi đa dạng, phong phú hơn để phù
hợp với hoạt động học tập tìm tòi cá nhân, hoạt động theo nhóm và toàn lớp học.
Địa điểm học của học sinh không chỉ diễn ra trên lớp mà còn được thực hiện ở phòng
bộ môn, phòng học đa phương tiện, ở ngoài trường học… Học sinh không chỉ thu nhận
thông tin qua sách giáo khoa mà còn qua sách tham khảo, các phương tiện thông tin,
phương tiện kĩ thuật (băng, đĩa, mạng internet) và tham gia các hoạt động chia sẻ thông tin
thu được.
Các phương tiện dạy học được đa dạng hoá, không chỉ là phấn, bảng, sách vở… mà
còn dùng dụng cụ, hoá chất, mô hình, mẫu vật, biểu bảng hình vẽ, băng hình, bản trong,
máy chiếu, máy vi tính, phần mềm ứng dụng dạy học hoá học.


sinh cụ thể và điều kiện cơ sở vật chất của từng địa phương.


1.3.4. Một số phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT [3], [10], [30]
1.3.4.1. Phương pháp trực quan
Trong việc dạy học môn hóa học ở trường THPT, để nghiên cứu những hiện tượng
hóa học và rèn luyện kỹ năng giải quyết các bài tập thực hành, chúng ta phải sử dụng các
phương tiện trực quan. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hóa học là một phương
pháp dạy học rất quan trọng, góp phần quyết định cho sự lĩnh hội môn hóa học. Phương
pháp này gọi theo nghĩa đầy đủ là phương pháp dạy học sử dụng phương tiện trực quan hay
thường gọi tắt là phương pháp trực quan.
Phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dung, thiết bị kỹ thuật từ đơn giản
đến phức tạp dùng trong quá trình dạy học, với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực
khách quan (sự vật và hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về sự vật và hiện tượng đó, làm
cơ sở và tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo về hiện thực đó cho học
sinh.
Các phương tiện dạy học cơ bản phổ biến trong nhà trường gồm 3 loại:
- Phương tiện kỹ thuật dạy học (các phương tiện nghe nhìn và máy dạy học)
- Phương tiện trực quan (đồ dùng dạy học trực quan)
- Thí nghiệm nhà trường
Đối với hóa học thì thí nghiệm nhà trường là phương tiện dạy học quan trọng nhất.
1.3.4.2. Phương pháp sử dụng bài tập
Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh kiến thức, cả con đường để giành lấy kiến
thức, cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa
là nội dung, vừa là phương pháp hiệu nghiệm.
Để học sinh lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng cần thiết qua quá trình dạy-học thì giáo
viên nên soạn hệ thống bài tập đủ các dạng, từ dễ đến khó, phù hợp với thực tế,… và nhất là
sử dụng các bài tập phải phù hợp với trình độ học sinh.
Đây cũng là một phương pháp học tập tích cực đối với học sinh. Ngoài ra, bài tập hóa
học còn được sử dụng nhiều trong quá trình chuẩn bị nghiên cứu các kiến thức mới.

đám đông, bước đầu tập nghiên cứu khoa học.
1.3.4.6. Phương pháp trò chơi
Đây là phương pháp giúp học sinh học mà chơi, chơi mà học, tiết học sẽ rất sôi nổi
và học sinh sẽ rất hứng thú trong học tập và yêu thích bộ môn.
1.3.4.7. Vấn đáp
Vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời hoặc tranh
luận, thông qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học.
Vấn đáp có 3 mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích và vấn đáp tìm tòi.


1.3.5. Ứng dụng dạy học tích cực trong lớp học
Sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực trong lớp học có thể gây ra một số khó khăn cho
giáo viên và những học sinh chưa quen với cách học này. Giáo viên cần đưa ra một số quy
tắc trong lớp học khi trở thành người tạo điều kiện học tập và học sinh cần tăng cường vai
trò của mình không chỉ ở việc học cái gì mà còn học như thế nào. Ứng dụng dạy học tích
cực trong lớp học đòi hỏi học sinh phải làm việc. Có thể sử dụng những kỹ thuật sau để tạo
cơ hội cho học sinh trong lớp tham gia tích cực vào việc học:
- Chia lớp thành từng cặp học sinh. Cho các cặp này suy nghĩ về một chủ đề và thảo
luận với bạn trong cặp này rồi chia sẻ kết quả với phần còn lại của lớp.
- Cho học sinh ghi các kết quả tổng hợp ra giấy, cho phép học sinh có một vài phút
để trả lời những câu hỏi ra giấy. Điều này nâng cao chất lượng của tiến trình học tập và
cung cấp cho giáo viên các phản hồi từ học sinh về những chủ đề mà giáo viên đưa ra.
- Đưa ra các hoạt động dựa trên các phiếu học tập để học sinh tìm hiểu và thảo luận.
- Bắt buộc học sinh phải suy nghĩ cũng là một kỹ thuật đơn giản để đưa cả lớp vào
cuộc thảo luận.
- Các trò chơi liên quan đến chủ đề học cũng có thể dễ dàng đưa vào giờ học để nâng
cao tích tích cực và lôi cuốn học sinh tham gia.
- Những cuộc tranh luận trong lớp có thể là biện pháp hiệu quả để động viên học sinh
suy nghĩ về những khía cạnh của vấn đề.
- Làm việc theo nhóm cho phép học sinh được nói, chia sẻ quan điểm và phát triển kỹ

tiết ôn tập không.
- Tìm hiểu xem giáo viên thường dạy phần kiến thức cần nhớ trong bài luyện tập như
thế nào.
- Tìm hiểu xem giáo viên có giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị trước về bài luyện
tập hay không.
- Tìm hiểu xem thực tế khi dạy bài luyện tập giáo viên thường sử dụng các phương
pháp dạy học nào.
- Các phương pháp dạy học nào được giáo viên đánh giá là có nhiều tiềm năng trong
việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong giờ luyện tập.
1.5.2. Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra : Các giáo viên dạy môn hóa học ở trường THPT thuộc địa bàn
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.


Bảng 1.1. Danh sách các trường được điều tra thực trạng
Trường THPT

Stt

Số phiếu

1

THPT Chuyên Lê Quý Đôn

6

2

THPT Vũng Tàu


4

8

THPT Trần Nguyên Hãn

5

9

THPT Trần Văn Quan

6

10

THPT Xuyên Mộc

6

11

THPT Trần Quang Khải

4

12

THPT Đinh Tiên Hoàng


7

18

THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm

4

19

THPT Võ Thị Sáu(ĐĐ)

5

20

THPT Hoà Bình

6

21

THPT Nguyễn Văn Cừ

5

22

THPT Trần Phú


5

Tổng số phiếu

134

1.5.3. Kết quả điều tra
Bảng 1.2. Kết quả điều tra thực trạng các bài luyện tập


Số GV

Tỉ lệ %

5
74
55

03,73%
55,22%
41,03%

44
60
30

32,83%
44,78%
22,39%

- Vấn đáp
- Thuyết trình

24
102
38
14
0
20
70
16

17,91%
76,12%
28,35%
10,45%
0%
14,92%
52,23%
11,94%

Theo thầy (cô) những phương pháp dạy học
nào có nhiều tiềm năng trong việc phát huy
tính tích cực học tập của học sinh trong giờ
luyện tập (nhiều lựa chọn) ?
- Phương pháp trực quan
Câu 6
- Phương pháp sử dụng bài tập
- Dạy học nêu vấn đề
- Grap dạy học

Câu 2
- giống như tiết sửa bài tập.
- khác ôn tập và sửa bài tập.
Khi dạy bài luyện tập, thầy (cô) có giao nhiệm vụ cho
HS chuẩn bị trước ở nhà không ?(chỉ 1 lựa chọn)
- Thường xuyên.
Câu 3
- Thỉnh thoảng.
- Chưa từng.
Thầy (cô) thường dạy phần ‘‘I. Kiến thức cần nhớ’’
trong bài luyện tập như thế nào ?(chỉ 1 lựa chọn)
- Yêu cầu HS tự đọc SGK.
- Đặt câu hỏi để HS trả lời theo nội dung
Câu 4
trong SGK.
- Thiết kế các phiếu học tập cho HS thảo
luận nhóm.


-

Vấn đáp
Thuyết trình

3

02,23%

Qua kết quả ở bảng 1.2 chúng tôi nhận thấy:
- Phần lớn GV đã quan tâm đến dạy học tích cực, tuy nhiên số áp dụng vào dạy học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status