BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA
------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THIẾT KẾ HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG
TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ
LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TP HỒ CHÍ MINH− 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THIẾT KẾ HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG
TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ
LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trịnh Văn Biều
Người thực hiện: Lê Thị Bích Thảo
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .................................... 6
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ..................................................................................... 6
1.1.1. Trên thế giới ....................................................................................................... 6
1.1.2. Ở Việt Nam ........................................................................................................ 8
1.2. Đổi mới phương pháp dạy học............................................................................... 9
1.2.1. Phương pháp dạy học ......................................................................................... 9
1.2.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ..................................................... 10
1.2.3. Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học ................................................... 11
1.2.4. Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ............................................. 12
1.2.5. Những biểu hiện tích cực trong quá trình nhận thức của HS ........................... 13
1.3. Phương pháp dạy học bằng tình huống .............................................................. 14
1.3.1. Cơ sở tâm lý học của phương pháp dạy học tình huống .................................. 14
1.3.2. Tình huống dạy học.......................................................................................... 15
1.3.3. Phương pháp dạy học tình huống..................................................................... 18
1.3.4. Ưu điểm và hạn chế của PPDHTH .................................................................. 20
1.3.5. Phân loại và cách thức tạo nên các loại tình huống trong dạy học .................. 24
1.3.6. Hướng dẫn HS giải quyết vấn đề trong dạy học theo tình huống .................... 27
1.4. Thực trạng của việc ứng dụng PPDH tình huống ............................................. 30
Chương 2. THIẾT KẾ HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC
PHẦN HÓA HỮU CƠ 11 THPT ...................................................................... 36
2.1. Giới thiệu tổng quan về phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT ................................... 36
2.1.1. Nội dung phần hóa học hữu cơ chương trình lớp 11 ....................................... 36
2.1.2. Kiến thức trọng tâm phần hóa hữu cơ lớp 11 .................................................. 37
2.1.3. Một số điểm cần chú ý khi giảng dạy phần hóa hữu cơ ................................... 40
2.2. Các nguyên tắc và biện pháp thực hiện khi thiết kế hệ thống tình huống
phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT ............................................................................ 41
2.2.1. Nguyên tắc thiết kế tình huống dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 .................... 41
CTCT
:
Công thức cấu tạo
CTPT
:
Công thức phân tử
DH
:
Dạy học
ĐC
:
Đối chứng
ĐHSP
:
Đại học Sư phạm
HS
:
Học sinh
NXB
:
Nhà xuất bản
PPDH
:
Phương pháp dạy học
PPDHTC
:
Phương pháp dạy học tích cực
PPDHTH
:
Phương pháp dạy học tình huống
THPT
:
Trung học phổ thông
THCS
:
Trung học cơ sở
TN
:
Thực nghiệm
TNSP
:
Thực nghiệm sư phạm
TP.HCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2.5. Mật ong để lâu ....................................................................................................56
Hình 2.6. Quả gấc chín .......................................................................................................58
Hình 2.7. Màu vàng từ hạt dành dành ................................................................................58
Hình 2.8. Năng lượng khổng lồ từ băng cháy ....................................................................61
Hình 2.9. Xe Piaggio LX bốc cháy khi đang chạy ở Hà Nội. ............................................62
Hình 2.10. Nhựa mủ cao su được thu hoạch từ thân cây bị rạch nghiêng .........................65
Hình 2.11. Nến thơm ..........................................................................................................69
Hình 2.12. Nguồn nguyên liệu sản xuất xăng sinh học......................................................72
Hình 2.13. Chu kì cacbon ...................................................................................................73
Hình 2.14. Các loại cồn sát khuẩn......................................................................................73
Hình 2.15. Cồn khô và bếp cồn ..........................................................................................74
Hình 2.16. Xác động vật được ngâm trong fomon ............................................................76
Hình 2.17. Kinh hoàng tiết canh vịt chứa formanđehit ở tỉnh An Huy (Trung Quốc) ......76
Hình 2.18. Thử nghiệm hoá chất đối với cá mập ...............................................................79
Hình 3.1. Đồ thị đường tích lũy bài kiểm tra 1 ................................................................120
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra 1 .............................................................120
Hình 3.3. Đồ thị đường tích lũy bài kiểm tra 2 ................................................................122
Hình 3.4. Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra 2 .............................................................123
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, dẫn đến sự bùng
nổ thông tin trên mọi phương diện, lĩnh vực đòi hỏi phải đổi mới và hiện đại hóa nền
Giáo dục, Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý
giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung
phát từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ một sự ngạc nhiên hay một điều trăn trở. Tư
duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (X. L. Rubinstein). Thật vậy, dạy
học phải xuất phát từ các hành động của HS, mà HS chỉ thực sự hoạt động khi được
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
đặt trong tình huống học tập, các em phải tích cực, độc lập, chủ động suy nghĩ để tìm
ra kiến thức mới.
Cuộc sống là hệ thống các tình huống có vấn đề. Hằng ngày, mỗi HS luôn phải
tiếp xúc với biết bao tình huống trong học tập, công việc và gia đình. Điều quan trọng
là chúng tiếp nhận, phát hiện và giải quyết các tình huống ấy ra sao? Khi ngồi trên ghế
nhà trường, HS được tiếp thu rất nhiều kiến thức nhưng khi ra trường liệu các em có
còn nhớ và vận dụng các kiến thức đó không? Chắc chắn, có chăng các em chỉ học và
giữ lại các bước phát hiện, giải quyết và quyết định khi gặp một tình huống nào đó.
Hơn nữa, xã hội đang phát triển nhanh theo xu hướng thị trường, cạnh tranh gay gắt
thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một
năng lực bảo đảm cho sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt là trong kinh doanh. Vì
vậy, việc tập dượt cho HS biết phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, cuộc sống
của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà còn là mục
tiêu quan trọng của Giáo dục và Đào tạo.
Thật không sai khi chúng ta nói: “Giáo dục là sự chuẩn bị cho người học vào
việc giải quyết các tình huống của cuộc sống” (Soul B. Robinsohn – 1967). Trong quá
trình dạy học, việc GV đặt HS vào các tình huống học tập, hướng dẫn các em cách giải
quyết để đi đến kết luận đúng đắn là rất quan trọng bởi dần dần GV sẽ cung cấp hành
trang vững chắc về kiến thức, phương pháp làm việc và học tập suốt đời cho HS. Bằng
việc phát hiện và giải quyết các tình huống nảy sinh trong từng môn học, từng lĩnh vực
vào thực tiễn, đồng thời phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong hoạt
động học tập, qua đó nâng cao chất lượng dạy học hóa học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu lý luận về thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học hóa học.
- Thiết kế hệ thống tình huống và quy trình sử dụng tình huống để dạy học phần
hóa hữu cơ lớp 11 ban nâng cao.
- Thiết kế một số giáo án trong phần hóa hữu cơ lớp 11 ban nâng cao sử dụng
phương pháp dạy học tình huống.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả đạt được.
- Rút ra bài học kinh nghiệm.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
b. Đối tượng nghiên cứu
Việc thiết kế và sử dụng hệ thống các tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ
lớp 11 ban nâng cao THPT.
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
5. Phạm vi nghiên cứu
- Hệ thống tình huống dạy học sử dụng trong phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT.
- Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Trưng Vương (TP. HCM).
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2011 đến tháng 05/2012.
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
8. Điểm mới của đề tài
- Hoàn thiện lý luận về dạy học tình huống.
- Thiết kế hệ thống tình huống trong mỗi bài học để rèn luyện tính tích cực học
tập cho HS trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 11 THPT nâng cao.
- Đề xuất ý kiến và biện pháp để vận dụng có hiệu quả việc dạy học tình huống
trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT.
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
“Học là việc chuẩn bị cho người học vào các tình huống của thực tiễn cuộc
sống” (Robinson). Việc học và lĩnh hội tri thức cần phải được gắn liền với các tình
huống của cuộc sống và thực tiễn nghề nghiệp. Trên Thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng cần đặt ra yêu cầu chặt chẽ: “Cần có cái gì đây để phân biệt một bên là
thợ dạy, bên kia là thầy giáo; một bên là thợ học, bên kia là HS”, không thể đánh đồng
giữa thợ với thầy, giữa người học theo lối “cầm tay chỉ việc” với người học theo kiểu
tìm tòi nghiên cứu. Trong công tác GD & ĐT, tình huống được biết đến như một sự
khởi đầu, như một đặc trưng cơ bản của các dạng dạy học tích cực. Chính vì vậy, các
nhà sư phạm từ rất lâu đã xây dựng và sử dụng tình huống trong công tác GD & ĐT.
1.1.1. Trên thế giới [12]
Năm 1919, trường đại học Western Ontario của Canada cũng đã bắt đầu áp
dụng PPTH trong giảng dạy kinh doanh (hai người khởi xướng là W. Sherwood Fox,
trưởng khoa cơ bản, và K.P.R Neville, trưởng phòng giáo dục).
Năm 1922, Ellis H. Morrow, một cựu sinh viên Havard đã được mời đến để
triển khai tại đây PPDHTH trong giảng dạy. Đến nay, trường Kinh doanh Richard Ille
của Đại học Western Ontarino đã trở thành cơ sở có uy tín số một ở Canada trong áp
dụng PPTH vào giảng dạy và là đơn vị lớn thứ hai trên Thế giới sản xuất tình huống.
Vào khoảng thời gian từ đầu thế kỉ XX trở lại đây, ở các nước phát triển, tình
huống đã được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng rộng rãi trong công tác GD & ĐT
nghề với vai trò như là một dạng, một PPDH tích cực.
• Ở Liên Xô và Ba Lan
Các nhà nghiên cứu: Machiuxkin A.M., Khalamop I.F., Kluglac M.I.,
Nhikitrenco V.N., Orlova E.N., Abbunhinna O.A., Okon V., Lecne I.Ia…thường tập
trung vào việc hướng dẫn HS xử lý tình huống và yêu cầu của việc xây dựng tình
huống. Còn việc xây dựng và sử dụng tình huống trong dạy học theo một qui trình chi
tiết, tuân thủ những nguyên tắc và những điều kiện khoa học thì hầu như chưa được đề
cập đến một cách đầy đủ, rõ ràng. Nếu có thì những hướng dẫn đó chủ yếu tập trung
vào hoạt động dạy của GV trong quá trình sử dụng tình huống.
Nhiều tuyển tập, SGK nghiên cứu PPDHTH phục vụ cho các giờ học có vận
dụng tình huống được biên soạn và xuất bản. Các ấn phẩm này phục vụ trong các lĩnh
vực quản lí, sản xuất, nghiên cứu khoa học, đào tạo nghề.
• Ở Mỹ và Hà Lan
Các nhà nghiên cứu: Van De L.F.A., Barendse G.W.J., Dolman D., Woods
D.R., Boud D. và Feletti G.I., Ooms Ir.G.G.H. và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu
việc xây dựng và sử dụng tình huống trong dạng học tập dựa trên vấn đề, học tập định
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
- Luận văn thạc sĩ, “Vận dụng lý thuyết tình huống trong dạy học một số nội
dung của chương trình hình học lớp 10 THPT” của học viên Nguyễn Thị Tâm, ĐHSP
Hà Nội (2008).
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
- Luận văn thạc sĩ “Vận dụng lý thuyết tình huống trong dạy học một số nội
dung của chương trình đại số lớp 11 THPT” của học viên Nguyễn Thị Định, ĐHSP
Hà Nội (2009).
- Luận văn thạc sĩ “Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học hóa học lớp 10
THPT” của học viên Ngô Nhã Trang, ĐHSP TPHCM (2011).
- Luận văn thạc sĩ “Vận dụng lý thuyết tình huống trong dạy học chương Nitơ
lớp 11 THPT” của học viên Quách Vũ, ĐHSP TPHCM (2011).
- Luận văn thạc sĩ “Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học phần hóa hữu
cơ lớp 11 trung học phổ thông” của học viên Nguyễn Thị Vân Anh, ĐHSP TPHCM
(2011).
- Luận văn thạc sĩ “Sử dụng phương pháp tình huống trong dạy học hoá học ở
trường THPT” của học viên Phan Thị Như Lê, ĐHSP TPHCM (2012).
- Luận văn thạc sĩ “Sử dụng thí nghiệm xây dựng tình huống có vấn đề trong
day học hóa học THPT” của học viên Khúc Thị Thanh Huê, ĐHSP TPHCM (2012).
Những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã cung cấp nhiều kinh
nghiệm quí báu về sử dụng tình huống trong dạy học. Những kết quả nghiên cứu này
được coi là cơ sở khoa học cho việc thực hiện đề tài của khóa luận.
Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy việc xử lí tình huống hay
giải quyết THCVĐ có thể vận dụng vào nhiều hoạt động khác nhau trong học tập và
(4-1999).
Luật Giáo dục điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng
lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy học là hướng tới hoạt động học tập chủ động,
chống lại thói quen học tập thụ động.
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập
cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống
truyền thụ một chiều các kiến thức sẵn có. Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học
suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin. Tăng cường học tập cá thể phối hợp với hợp
tác. Định hướng vào người học được coi là định hướng chung trong đổi mới phương
pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện theo các định hướng sau:
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
−
Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông.
−
thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” (PPDHTC) nhằm
giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả
năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác
nhau trong học tập và thực tiễn; tạo niềm vui, niềm tin, hứng thú trong học tập. Làm
cho “học” là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác
và xử lý thông tin,…tự hình thành hiểu biết, năng lực phẩm chất. Tổ chức hoạt động
nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lý. Chú trọng hình thành các năng lực (tự
học sáng tạo, hợp tác…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách
học. Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều
đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển của xã hội.
PPDHTC được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt
động, thụ động. PPDHTC hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS,
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ
hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy.
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy. Cách dạy quyết định cách học,
tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy.
Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn học theo PPDHTC nhưng GV chưa đáp
ứng được. Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì dạy theo PPDHTC, tổ
chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành
thói quen cho HS. Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự
phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả. PPDHTC hàm chứa cả
phương pháp dạy và phương pháp học.
1.2.4. Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
1.2.5. Những biểu hiện tích cực trong quá trình nhận thức của HS
Theo PGS-TS Trịnh Văn Biều [10], những biểu hiện tích cực trong quá trình
nhận thức của HS được thể hiện qua:
1. Sự hăng hái
Tính tích cực trong học tập trước hết thể hiện trong việc hăng hái tham gia vào
mọi hình thức của hoạt động học tập: giơ tay phát biểu ý kiến, xung phong lên bảng,
tích cực tìm tòi, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống; hăng hái
trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn. Sự hăng hái còn thể hiện
ở tính tò mò, phê phán trong tư duy, sự hiếu động, linh hoạt, sáng tạo trong hành vi…
2. Sự chuyên cần
Tính tích cực học tập còn thể hiện ở sự huy động với mức độ cao các chức năng
tâm lý để giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Tính chuyên cần thể hiện ở sự cố gắn sức
trong hoạt động học tập: chịu khó học bài, đọc thêm, làm thêm các bài tập khác; thực
hiện đầy đủ các nhiệm vụ được giao.
3. Sự quyết tâm trong học tập
Tính tích cực học tập thể hiện trong việc HS quyết tâm, nỗ lực vượt qua khó
khăn, kiên trì hoàn thành công việc.
4. Sự tự giác
Một dấu hiệu quan trọng của tính tích cực là sự tự giác. Đó là việc quan tâm
đến việc học, tự giác học tập không cần phải ai nhắc nhở; không cần sự động viên từ
bên ngoài (gia đình, bạn bè, xã hội); chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải
quyết những vấn đề mới nảy sinh.
5. Sự chú ý, say mê trong học tập
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
cho cá nhân khả năng đồng hóa.
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
- Do việc sử dụng những tri thức, kĩ năng và phương pháp mới. Trong
trường hợp này, những tri thức thu được từ việc giải quyết thành công tình huống dẫn
đến sự cải tổ những tri thức đã có, tạo thành tri thức mới. Khi đó, việc giải quyết tình
huống mang lại cho cá nhân khả năng điều ứng.
Dạy học bằng tình huống là dạy HS cách hành động để tạo ra năng lực thích
ứng.
• Thứ hai: Học tập là hành động tìm tòi, khám phá, phát minh của học sinh.
Đó là quá trình người học tự xây dựng cho mình các tri thức khoa học và kĩ
năng hành động trong những tình huống nhất định.
Nói tóm lại, học là công việc tự lực của người học.
• Thứ ba: Hành động học tập của người học có thể được tiến hành trong môi trường bị
khúc xạ qua bài giảng của GV, nhưng tốt nhất là trong môi trường hàm chứa nội dung
dạy học.
Đó chính là những tri thức, kĩ năng và phương pháp giải quyết một tình huống
cụ thể. Vì vậy, các tình huống học tập chính là môi trường học tập.
1.3.2. Tình huống dạy học
1.3.2.1. Khái niệm
Ở cấp độ phổ quát nhất, mọi tình huống đều có giá trị dạy học. Đơn giản là vì
trong bất kì tình huống nào cũng hàm chứa những tri thức về các sự kiện, tri thức về kĩ
mà việc giải quyết được mô hình đặc trưng đó cho phép người học có được tri thức
khái quát, hàm chứa tri thức của các tình huống trong cùng họ. Mô hình đặc trưng này
tiêu biểu cho càng nhiều tình huống trong cùng họ càng tốt.
Các sự kiện trong mỗi tình huống được cấu trúc sao cho người học có câu trả
lời ngay từ đầu, nhưng câu trả lời đó phải mau chóng trở thành không đầy đủ hoặc
không hiệu quả (thậm chí sai), khiến người học phải điều chỉnh hệ thống kiến thức của
mình để giải đáp vấn đề đặt ra (đồng hóa hoặc điều ứng).
Các vấn đề phải do chính bản thân tình huống gợi ra chứ không phải do GV gợi
ý từ bên ngoài.
Trong các tình huống phải hàm chứa những khó khăn hoặc trở ngại, mà để giải
quyết thành công tình huống, người học phải vượt qua khó khăn hoặc trở ngại đó. Một
tình huống hàm chứa khó khăn là tình huống trong đó vấn đề được giải quyết mà
không đòi hỏi phải cấu trúc lại những tri thức đã có (mức đồng hóa), còn một tình
huống có trở ngại là tình huống mà khi giải quyết vấn đề người học buộc phải cấu trúc
lại những quan điểm, tri thức, phương pháp đã có (mức điều ứng).
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
SVTH: Lê Thị Bích Thảo
Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
1.3.2.3. Các yếu tố cấu thành nên tình huống
Cho dù hình thức diễn đạt có khác nhau như trực tiếp dưới dạng một câu hỏi
hay được gián tiếp truyền tải đến người học qua một vở hoạt cảnh thì nói một cách
đơn giản, dạy học bằng phương pháp tình huống là đặt ra cho người học câu hỏi “Bạn
sẽ làm gì trong tình huống này?”. Theo Christensen (1981), tình huống dạy học
thường bao gồm ba yếu tố cơ bản sau:
- Một ngữ cảnh thật: Các tình huống trong giảng dạy thường được thiết kế trên