BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________
Phan Thị Ngọc Bích
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHẦN PHI KIM HÓA HỌC THPT
THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________
Phan Thị Ngọc Bích
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHẦN PHI KIM HÓA HỌC THPT
THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC
Chuyên ngành:
Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số:
- Và cuối cùng là những người thân trong gia đình tôi, đó là những người luôn
động viên và tạo mọi điều kiện về cả thời gian, tinh thần, vật chất… để tôi có
thể hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn.
Tác giả
Phan Thị Ngọc Bích
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................ 4
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .............................................................................. 4
1.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học [8], [52], [59] ......................... 5
1.3. Tính tích cực .................................................................................................... 6
1.3.1. Khái niệm tư duy tích cực [58] ................................................................ 6
1.3.2. Vai trò của tính tích cực trong học tập [10] ............................................. 7
1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập [10] ................ 8
1.3.4. Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập [10] .............................. 9
1.4. Phương pháp dạy học tích cực ...................................................................... 10
1.4.1. Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực [34] ................................ 10
1.4.2. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực [14], [34] ................. 10
1.4.3. Các phương pháp dạy học tích cực [10], [33], [48], [52] ...................... 12
1.4.4. Lựa chọn phương pháp dạy học trong dạy học hoá học ........................ 15
1.5. Bài tập hoá học .............................................................................................. 15
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
dd
:
dung dịch
ĐC
:
đối chứng
ĐHSP
:
Đại học Sư phạm
đktc
:
điều kiện tiêu chuẩn
GS
:
phương trình hóa học
SGK
:
sách giáo khoa
THPT
:
trung học phổ thông
TN
:
thực nghiệm
TNSP
:
thực nghiệm sư phạm
Tp.HCM
:
Bảng 1.5.
Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học theo hướng dạy
học tích cực phù hợp với HS ................................................................ 23
Bảng 1.6.
Mức độ cần thiết của các biện pháp để xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
hóa học theo hướng dạy học tích cực có hiệu quả ................................ 23
Bảng 2.1
Cấu trúc hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho ................................ 31
Bảng 2.2
Cấu trúc hệ thống bài tập chương Cacbon -Silic .................................. 62
Bảng 3.1.
Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng ...................................... 87
Bảng 3.2
Phân phối kết quả bài kiểm tra số 1 ...................................................... 92
Bảng 3.3
Phân phối tần suất lũy tích của bài kiểm tra số 1 ................................. 92
Bảng 3.16 Phân loại kết quả của 3 bài kiểm tra ................................................... 104
Bảng 3.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng của 3 bài kiểm tra ........................... 104
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 1 ........................................... 93
Hình 3.2 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 2 ........................................... 93
Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 3 ........................................... 94
Hình 3.4 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 4 ........................................... 94
Hình 3.5 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 cặp 5 ........................................... 94
Hình 3.6 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 1 ........................................... 96
Hình 3.7 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 2 ........................................... 97
Hình 3.8 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 3 ........................................... 97
Hình 3.9 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 4 ........................................... 97
Hình 3.10 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 cặp 5 ......................................... 97
Hình 3.11 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 1 ......................................... 99
Hình 3.12 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 2 ....................................... 100
Hình 3.13 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 3 ....................................... 100
Hình 3.14 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 4 ....................................... 100
Hình 3.15 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 cặp 5 ....................................... 101
Hình 3.16 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1................................................. 103
Hình 3.17 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2................................................. 103
Hình 3.18 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3................................................. 103
Hình 3.19 Đồ thị đường luỹ tích 3 bài kiểm tra ..................................................... 104
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay các phương pháp dạy học (PPDH) nói chung và PPDH hoá học nói riêng đang
tìm cho mình những hướng đổi mới nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu
bài tập hóa học và vai trò của nó trong việc phát triển năng lực nhận thức của HS.
-
Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng bài tập hóa học phần phi kim theo hướng tích
cực ở trường THPT.
-
Xây dựng các nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng dạy học
tích cực.
-
Xây dựng hệ thống bài tập phần hóa học phi kim lớp 11 THPT.
-
Nghiên cứu đề xuất các phương pháp sử dụng hệ thống bài tập nhằm tích cực hoá hoạt
động học tập của HS trong dạy học phần hóa học phi kim lớp 11 THPT.
-
TNSP để đánh giá tính phù hợp của hệ thống bài tập đã xây dựng và hiệu quả của các
phương pháp sử dụng bài tập hóa học đã đề xuất.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
- Điều tra, thăm dò lấy ý kiến GV về chất lượng hệ thống bài tập và phương pháp sử
dụng chúng trong dạy học.
- Phương pháp chuyên gia.
- Thực nghiệm sư phạm.
• Phương pháp xử lí thông tin: Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả
TNSP.
7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu lựa chọn và xây dựng được một hệ thống bài tập đa dạng, phong phú ở nhiều mức
độ nhận thức khác nhau cùng với các phương pháp sử dụng chúng theo hướng dạy học tích
cực thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập, năng lực phát hiện và giải
quyết vấn đề cho HS từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học ở trường
THPT.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
-
Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập phần hoá học phi kim lớp 11 THPT theo hướng
đa dạng hóa và tăng dần về mức độ nhận thức.
-
Nghiên cứu phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trên để thiết kế các hoạt động học tập
theo hướng tích cực.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đến với đề tài này, đối với tôi đó là một quá trình tích luỹ và có mầm mống từ lâu. Từ
ngày học THPT, tôi nhận thấy rằng nhiều bạn HS không học tập một cách tích cực, chủ
- Triệu Thị Kim Dung (2009), Vận dụng phương pháp dạy học bằng câu hỏi trong giảng
dạy nội dung dẫn xuất chứa oxi của hidrocacbon - chương trình hoá học lớp 11 – THPT
nâng cao góp phần tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, Khoá luận tốt nghiệp,
Trường ĐHSP Hà Nội.
- Tống Đức Huy (2010), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm
khách quan phần vô cơ 11 – chương trình nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường ĐHSP TP.HCM.
Các nghiên cứu trên đã trình bày khá đầy đủ về phần cơ sở lí luận của đề tài, ngoài ra
mỗi nghiên cứu đều có những đóng góp mới trong phạm vi nghiên cứu của mình. Tuy nhiên
các nghiên cứu trên còn có những hạn chế như: đa số các nghiên cứu chưa đưa ra các
nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập; các nghiên cứu trên hầu hết tập trung
vào việc xây dựng hệ thống bài tập mà chưa đề cập nhiều đến phương pháp sử dụng hệ
thống bài tập đã xây dựng sao cho hiệu quả trong quá trình dạy học. Mặt khác trong phạm vi
bài tập dùng cho chương trình hoá học lớp 11 THPT chưa có nhiều tác giả nghiên cứu.
1.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học [8], [52], [59]
Luật Giáo dục (2005) tại điều 28.2 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh”.
Để đáp ứng những yêu cầu đặt ra ở trên thì đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp bách của
ngành giáo dục nước ta trong những năm gần đây. Mục đích của việc đổi mới PPDH ở
trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo PPDH tích
cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen
và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống
khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập.
Ngoài ra PPDH tích cực còn giúp cho quá trình học trở thành quá trình kiến tạo tri thức, HS
tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết,
năng lực và phẩm chất. Dạy học cũng chú trọng đến việc hình thành các năng lực tự học,
chức năng của hệ miễn dịch (dễ bị lây bệnh/ung thư), các chất dẫn truyền bị ách tắc, dẫn tới
làm tê liệt đời sống cảm xúc, trí tuệ, vận động…
• Về mặt tâm lý
Tư duy tích cực là một bộ phận (lòng tự tin) giúp cá nhân tự khám phá ra tất cả những
tiềm năng (potential) vô tận vốn ẩn chứa trong sâu thẳm mỗi con người. Nhờ năng lượng
được hoạt hóa, được đánh thức (arousal), vô vàn tài năng được bộc lộ và có thể tạo ra vô
vàn của cải cho xã hội. Những năng lực, khả năng, tài năng đó ta thường gọi là nội lực
(inner resources), là điều kiện cốt lõi giúp con người tự vượt lên chính mình, vượt qua mọi
thử thách, tự khẳng định và trở thành một nhân cách tự chủ, độc lập. Ngược lại, tư duy tiêu
cực gây ức chế, tiến tới triệt tiêu mọi ước muốn, nhu cầu, mọi tiềm năng mà phần lớn không
được nhận ra, không dám khám phá, khiến con người tự đánh mất lòng tự tin, lòng tự trọng,
biến thành một nhân cách đầy mặc cảm, tự ti, sợ hãi, dồn nén, dao động, không tự quyết
đoán, dễ bị áp lực từ mọi phía, trở thành một nhân cách lệ thuộc, một sinh thể ký sinh, tự
đánh mất những phẩm chất đích thực của một con người.
• Về mặt xã hội
Tư duy tích cực là nguồn sáng tạo trong mỗi con người, là khả năng sáng tạo của mọi cá
nhân. Trong một cộng đồng xã hội, hay trong phạm vi hẹp như gia đình, những thành viên
có tư duy tích cực sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh, một xã hội đầy tính nhân văn, giúp
xã hội đó tự nó tạo ra sức mạnh đầy quyền lực và lấn át những tư duy tiêu cực, mà có thể sẽ
không cần một sự can thiệp nào từ bên ngoài. Ngược lại, những tư duy tiêu cực nếu cứ tồn
tại ở đâu đó trong từng con người - từng cá nhân - không bị loại trừ hoặc hóa giải, sẽ có xu
hướng phát triển thành một môi trường bệnh hoạn, làm xói mòn nhiều giá trị, làm cạn kiệt
nguồn tài nguyên năng lượng của loài người….
Vì vậy, việc tư duy tích cực và thực hành tư duy tích cực là điều cần thiết cho tất cả mọi
người, mang lại lợi ích cho từng cá nhân, từng gia đình và cả cộng đồng thế giới.
1.3.2. Vai trò của tính tích cực trong học tập [10]
Theo I.U.C Babanxki, tính tích cực trong học tập được hiểu là: “sự phản ánh vai trò tích
cực của cá nhân HS trong quá trình học, nhấn mạnh rằng, HS là chủ thể của quá trình học
vật hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, sở thích, chủ thể sẽ hình thành niềm tin, ý chí hành
động. Đây là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người có hành động tích cực, giúp họ
vượt qua tất cả khó khăn trở ngại để đạt được mục đích đề ra. Và khi đã hình thành niềm tin,
ý chí chi phối được hành động thì cũng là lúc chủ thể xác định được động cơ thúc đẩy hoạt
động.
Các nhà tâm lí học thường chia các động cơ học tập ra làm 2 loại là động cơ bên trong
và động cơ bên ngoài:
-
Động cơ bên trong hay động cơ cá nhân: là sự hứng thú, ham thích của cá nhân muốn
hoàn thiện tri thức.
-
Động cơ bên ngoài hay động cơ xã hội: là nghĩa vụ của bản thân đối với sự kỳ vọng
hoặc các yêu cầu của gia đình, bạn bè, xã hội.
Với một số HS có nghị lực và ý chí cao, động cơ bên trong chiếm phần trội hơn, nhưng
với một số khác thì động cơ bên ngoài lại chiếm ưu thế. Các tác động từ bên ngoài có rất
nhiều dạng, ví dụ như: lo sợ bị trừng phạt hay vì phần thưởng có sức hấp dẫn, muốn làm vui
lòng cha mẹ, muốn giành được uy tín để khẳng định mình với bạn bè….
Tính tích cực trong học tập của HS đòi hỏi phải có động cơ từ bên trong bởi lẽ động cơ
bên trong có tính bền vững hơn. Các động cơ bên ngoài dạng tiêu cực nếu không được kiểm
soát sẽ dễ tạo sự căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt đến quá trình hình thành và phát
triển nhân cách.
Như vậy, động cơ và hứng thú học tập là một điều kiện rất quan trọng ảnh hưởng đến
tính tích cực của HS. Việc học tập nhất định phải có động cơ đúng đắn nhưng nếu không có
hứng thú học tập thì động cơ đó sẽ dễ dàng bị dập tắt. Hứng thú học tập là một yếu tố quan
vượt qua các khó khăn. Để xác định mức độ tính quyết tâm của HS người ta có thể dựa vào
thời gian tích cực trong hoạt động, cường độ hoạt động tích cực…
• Kết quả học tập
Kết quả học tập thể hiện rõ ràng nhất, có tính thuyết phục nhất về tính tích cực trong học
tập của HS. HS nắm vững các tri thức, hoàn thành tốt những bài tập được giao, vận dụng tốt
các kiến thức lĩnh hội được vào thực tế là nhờ quá trình học tập năng động, tự giác, sáng tạo.
1.4. Phương pháp dạy học tích cực
1.4.1. Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực [34]
Theo giáo sư Trần Bá Hoành, PPDH tích cực tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được
dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Từ “tích cực ở đây trái nghĩa với từ “thụ động”
chứ không phải trái nghĩa với “tiêu cực”. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích
cực của người học, chứ không phải tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người dạy.
PPDH tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học.
1.4.2. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực [14], [34]
• Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh
Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động dạy đồng thời là chủ thể của
hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo. Thông
qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu
những trí thức đã được GV sắp đặt ra theo cách suy nghĩ của mình. Từ đó, vừa nắm được
kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập
theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì
GV không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn tổ chức hướng dẫn hoạt động học tập.
• Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPDH tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện
pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin khoa hoc, kĩ thuật,
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc
gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho
HS.
• Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trọng quá trình
giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới
phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục
tiêu giáo dục.
Trước đây GV thường giữ độc quyền đánh giá HS. Trong phương pháp tích cực, GV
phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với
điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn
nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành
đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.
1.4.3. Các phương pháp dạy học tích cực [10], [33], [48], [52]
HS chỉ đạt kết quả cao trong học tập khi các em có ý thức về nhiệm vụ học tập của bản
thân. Vì vậy để giáo dục ý thức học tập, hình thành sự tích cực trong hoạt động chiếm lĩnh
kiến thức của HS, GV cần có PPDH thích hợp. Sau đây là một số PPDH tích cực tiêu biểu:
• Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu rất có hiệu quả trong việc phát huy tính tự lực, tích cực, sáng
tạo của HS. Trong phương pháp này GV đóng vai trò quan trọng là hướng dẫn, tổ chức và
HS sẽ tự lực nghiên cứu khám phá và giải quyết vấn đề học tập. HS đóng vai trò là người
nghiên cứu, đưa ra giả thuyết khoa học, đề xuất phương pháp giải quyết vấn đề và thực hiện
hoạt động nghiên cứu, sau đó kiểm nghiệm xác nhận tính xác thực của giả thuyết, kết luận
vấn đề và vận dụng kiến thức mới thu được.
Phương pháp này giúp HS có khả năng tư duy, suy luận một cách độc lập.Vì thế kiến
thức tiếp thu được rất vững chắc. Hơn nữa, sự hứng thú say mê khi tự bản thân giải quyết
được vấn đề sẽ là nguồn động lực giúp HS hăng say học tập. Tuy nhiên quá trình HS tự lực
giải quyết cấn đề luôn gặp phải những vấp váp và cần sự kiểm tra, đánh giá, uốn nắn của
thuẫn, nghịch lý để hướng HS giải quyết vấn đề. Tuy nhiên phương pháp này rất tốn thời
gian, chúng ta nên đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS tìm tòi vào các phiếu học tập để khắc
phục hạn chế này.
• Phương pháp sử dụng bài tập
Bài tập là một phương tiện dạy học quan trọng của người GV. Bài tập không những giúp
HS hệ thống các kiến thức cơ bản mà còn rèn luyện cho các em năng lực tư duy sáng tạo, kỹ
năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề.
Để HS lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng cần thiết qua quá trình dạy-học thì GV nên soạn
hệ thống bài tập đa dạng, từ dễ đến khó, phù hợp với thực tế và phải phù hợp với trình độ
HS. Thông qua hệ thống những bài tập hấp dẫn, có tính thách đố, gợi trí tò mò, GV sẽ giúp
HS phát huy tính tích cực, sáng tạo có hiệu quả.
• Phương pháp kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy-học đồng thời là một biện
pháp thúc đẩy tính tích cực học tập của HS. Tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm của HS dù
cao đến đâu cũng không thể xem nhẹ việc kiểm tra đôn đốc của GV. GV cần phải theo sát
HS, uốn nắn, sửa chữa kịp thời những sai sót của các em, giúp các em vượt qua những trở
ngại trong học tập.
Kiểm tra đánh giá phải được tiến hành một cách nghiêm túc trong suốt quá trình học tập
của HS. Không những đánh giá qua điểm số các bài kiểm tra mà còn phải đánh giá ở thái độ
tích cực và quá trình học tập của HS. GV không chỉ đánh giá HS mà cần khuyến khích tạo
điều kiện để HS tham gia vào quá trình đánh giá hoạt động của bản thân và của các bạn
cùng lớp.
• Phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan là PPDH có sử dụng phương tiện trực quan [53].
Phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến
phức tạp dùng trong quá trình dạy học, với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực khách
quan (sự vật và hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về sự vật và hiện tượng đó, làm cơ sở
và tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo về hiện thực đó cho HS. [53]
Người ta chia phương tiện trực quan trong dạy học hoá học thành ba nhóm:
-
-
Năng lực của GV.
Trong thực tế không có một PPDH nào là toàn diện bởi mỗi phương pháp có một thế
mạnh và hạn chế riêng vì thế mỗi bài dạy luôn có sự phối hợp các PPDH khác nhau. Ngoài
ra việc chọn PPDH còn phụ thuộc vào đối tượng HS và chính năng lực của người GV, thậm
chí còn phụ thuộc vào tâm sinh lí của các thành viên tại thời điểm diễn ra quá trình dạy
học.Vì thế là không thể có PPDH tích cực thích hợp chung cho mọi nội dung, mọi đối tượng
dạy học. Vì vậy xu hướng chính hiện nay là tích hợp các PPDH tích cực trong 1 giờ học để
có thể bổ sung cho nhau, hạn chế những nhược điểm của từng phương pháp dạy học cụ thể.
1.5. Bài tập hoá học
1.5.1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học [56]
Bài tập hóa học có những tác dụng đức dục và trí dục to lớn sau đây:
-
Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng được các kiến thức đã học, biến những kiến thức
tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình. Khi vận dụng
được một kiến thức nào đó HS sẽ nhớ lâu những kiến thức đó.
-
Đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ có
vận dụng kiến thức vào việc giải các bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc.
-
Ôn tập, cũng cố và hệ thống hóa kiến thức một cách thuận lợi nhất. Trong khi ôn tập nếu
chỉ đơn thuần nhắc lại kiến thức HS sẽ chán vì không có gì mới, hấp dẫn. Thực tế cho thấy,
-
Bài tập định tính
-
Bài tập định lượng
• Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành
-
Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
-
Dạng bài xác định thành phần phần trăm trong hỗn hợp
-
Nhận biết, phân biệt, tách các chất
-
Điều chế
-
…
• Dựa vào nội dung có thể chia thành
1.5.3. Các dạng bài tập có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức [52], [48]
Thực tế dạy học cho thấy bài tập hoá học nói chung dù ít, dù nhiều đều giúp HS rèn
luyện và phát triển tư duy một cách tích cực. Khi giải bài tập thì HS đã hoạt động một cách
tự lực, tích cực, sáng tạo để trau dồi kiến thức của mình. Vì thế ở đây ta chỉ nêu lên một số
dạng bài tập có tác dụng tích cực hóa hoạt động tư duy của HS nhất.
• Sử dụng bài tập có thao tác tư duy so sánh
Trong các thao tác tư duy và phương pháp logic thường dùng trong việc dạy học hoá học
thì so sánh giữ vai trò hết sức to lớn. So sánh là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa
các chất và hiện tượng với nhau và giữa những khái niệm phản ánh chúng. Muốn thực hiện
được việc đó thì so sánh phải kèm sự phân tích và tổng hợp: ta phân tích các mặt, những
thuộc tính của một chất, một hiện tượng hay khái niệm, đối chiếu với những điều đã biết về
những đối tượng cùng loại, rồi sau đó tổng hợp tất cả lại xem các đối tượng cùng loại đó
giống nhau và khác nhau ở đâu. Như vậy, sự so sánh không những phân biệt và chính xác
hóa kiến thức mà còn giúp hệ thống chúng lại.
• Bài tập dùng phép quy nạp để hình thành phán đoán
Phép quy nạp là cách phán đoán dựa trên sự nghiên cứu nhiều hiện tượng, sự vật đơn
nhất để đi đến kết luận chung, tổng quát về những tính chất, những mối liên hệ và tương
quan bản chất nhất và chung nhất. Trong phép quy nạp, sự nhận thức đi từ cái đơn nhất,
riêng biệt đến cái chung. Điều kiện cần thiết chi phối phép quy nạp là sự tri giác cảm tính
những tính chất và tương quan của các chất, là sự nghiên cứu TN các chất (quan sát thí
nghiệm). Những số liệu của TN được phân tích, mô tả, so sánh và trên cơ sở đó đi đến kết
luận chung.
• Bài tập dùng phép suy diễn để hình thành phán đoán
Trong phương pháp này nhận thức đi từ một nguyên lí chung đúng đắn tới một két luận
thuộc về một trường hợp riêng lẻ đơn nhất. Trong dạy học hoá học phương pháp này được
sử dụng rất nhiều trong các phần dạy về các học thuyết, các định luật có tính khái quát cao.
Ngoài ra chúng ta cũng có thể kết hợp cả phép quy nạp và suy diễn để hình thành phán
đoán.
• Bài tập dùng phép loại suy để hình thành phán đoán
Loại suy là phép phán đoán đi từ cái triêng biệt này đến một cái riêng biệt khác để tìm ra