BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Thanh Sang
NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN
CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN BẾN TRE
QUA MỘT SỐ THỂ LOẠI TIÊU BIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Thanh Sang
NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN
CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN BẾN TRE
QUA MỘT SỐ THỂ LOẠI TIÊU BIỂU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ QUỐC HÙNG
3
2.3.2. Qua tín ngưỡng địa danh……………………………………... 62
Chương 3: Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Bến Tre
qua một số thể loại tiêu biểu…………………………………………. 66
3.1. Những đặc điểm cấu trúc và giá trị nội dung của thể loại truyền
thuyết…………………………………………………………………. . 66
3.1.1. Vấn đề phân loại……………………………………………... 66
3.1.2. Truyền thuyết địa danh………………………………………. 67
3.1.3. Truyền thuyết lịch sử………………………………………… 74
3.1.4. Truyền thuyết sáng tạo văn hóa……………………………… 78
3.2. Những đặc điểm cấu trúc và giá trị nội dung của thể loại cổ tích…. 81
3.2.1. Truyện cổ tích thần kì………………………………………… 82
3.2.2. Truyện cổ tích sinh hoạt………………………………………. 89
3.3. Những đặc điểm cấu trúc và giá trị nội dung của thể loại truyện cười6
3.3.1. Nhận xét về đề tài……………………………………………... 96
3.3.2. Nhận xét về cấu trúc…………………………………………. 112
3.4. Một số đặc điểm và giá trị của thể loại ca dao………………….. 117
3.4.1. Nhận xét về các hình thức diễn xướng………………………. 117
3.4.1. Nhận xét về đề tài……………………………………………. 121
3.4.2. Nhận xét về kết cấu………………………………………….. 140
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………… 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… 154
4
PHẦN MỞ ĐẦU
được khảo sát chi tiết và có chiều sâu) đều tập trung vào công việc sưu tầm,
giới thiệu tác phẩm. Những thể loại có trữ lượng tác phẩm khá lớn và rất tiêu
biểu như: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười chưa được xem xét chi
tiết. Do đó, thiết nghĩ đi sâu vào xem xét, khám phá những thể loại tiêu biểu
này nhằm khái quát một số đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian Bến Tre là
một công việc rất cần thiết. Đó cũng là mục đích chính mà luận văn muốn
hướng đến.
2. Lịch sử vấn đề.
Tìm hiểu và khảo sát các tư liệu sẽ giúp cho chúng tôi định hướng được
hướng tiếp cận và giải quyết vấn đề. Chúng tôi còn xác định rằng ngoài các tư
liệu về văn học dân gian, các tư liệu về địa lí, văn hoá, lịch sử Bến Tre cũng
có liên quan và tác động không nhỏ đến sự tồn tại của văn học dân gian vùng
đất này. Do đó, tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi tiếp cận khảo sát tài liệu
theo các hướng sau đây: Thứ nhất là các tài liệu viết về đề tài mà luận văn
thực hiện: các tài liệu ghi chép tác phẩm văn học dân gian Bến Tre, những
công trình nghiên cứu về các thể loại, tác phẩm văn học dân gian Bến Tre;
Thứ hai, các tư liệu về lịch sử, địa chí, văn hoá ở Bến Tre nếu có liên quan
đến đề tài cũng được khảo sát. Từ những cứ liệu này, chúng tôi sẽ định hướng
cụ thể hơn cho nhiệm vụ khoa học của đề tài.
Sức sống của một vùng đất có nhiều truyền thống văn hoá đã có những
ảnh hưởng sâu rộng đến lòng nhiệt thành của các nhà nghiên cứu khiến việc
sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian Bến Tre có từ rất sớm. Có thể chia quá
trình sưu tầm nghiên cứu ấy thành hai thời kỳ: trước và sau năm 1975.
Theo Nguyễn Phương Thảo – một người chuyên nghiên cứu văn hoá,
văn học dân gian ở Bến Tre thì người sưu tầm văn học dân gian Bến Tre sớm
nhất là Trương Vĩnh Ký với những công trình ra đời ở nữa cuối thế kỷ XIX
6
Tre, ông đã cung cấp một cái nhìn khá toàn diện và chi tiết về tỉnh Bến Tre
(từ 1757 đến 1945) ở các mặt như: hình thể,, nhân văn, lịch sử, hành chánh,
kinh tế, giáo dục, y tế, kể cả lịch sử về văn chương, các nhân vật lịch sử, danh
nhân trong tỉnh. Trong đó, ông đưa ra một số nhận định khá chi tiết về con
người Bến Tre và những điều kiện sinh hoạt của họ: “Họ sống về nghề trồng
tỉa, nhứt là làm ruộng, làm vườn, trồng giồng nhiều hơn đánh cá, thủ công
nghệ và thương mại. Họ có đức tính cần cù nhẫn nại. Với sức cần cù nhẫn nại
truyền thống ấy, họ lần lượt biến những rừng rậm thành ruộng đất phì nhiêu,
những giồng khô cằn cỗi thành vùng đất đai mầu mỡ”[96;24]. Về đặc điểm
địa lí Bến Tre, ông nhận xét: “Toàn vùng là một miền phẳng thấp nếu so với
mực nước biển thì cao độ không chỗ nào cao hơn năm thước. Điểm cao nhất
ở tỉnh này nằm ở vùng duyên hải Ba Tri và Thạnh Phú, nơi các dãi đất được
bồi lên tạo thành những “giồng” liên tiếp” [96; 24]. Trong chương giới thiệu
về văn chương bình dân, tác giả không đi vào phân tích đầy đủ về hình thức
cũng như nội dung mỗi tác phẩm. Theo tinh thần đó, tác giả giới thiệu 10
truyện dân gian (mà tác giả gọi là huyền thoại). Bên cạnh đó, tác giả còn giới
thiệu một số câu đố, ca dao, tục ngữ được tác giả chia theo từng thời kì: thời
kì quân chủ (1757 – 1867), thời kì Pháp thuộc ( 1867 đến đầu 1945), thời kì
chuyển mình (1945). Tuy chưa đi vào phân tích cụ thể các tác phẩm văn học
dân gian do mục đích tiếp cận vấn đề, thế nhưng những kiến thức khoa học đã
đưa ra trong công trình này thật sự có ý nghĩa đối với công việc nghiên cứu,
tìm hiểu văn học dân gian trên vùng đất Bến Tre.
Từ sau năm 1975, công việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian
có bước phát triển rất rõ. Nhiều nhà nghiên cứu với tâm huyết, lòng nhiệt
thành và tình cảm yêu mến vùng đất đã cho ra đời nhiều công trình có giá trị
lớn. Có thể nhắc đến các công trình sau:
8
và Mỏ Cày tỉnh Bến Tre trong gia đình lí con sáo ở Nam Bộ đều đạt được
trình độ thẩm mĩ như vậy, chúng là đặc sản của vùng Đồng bằng Cửu Long,
có tiếng nói riêng, có hình vóc riêng, có hơi thở và sức sống của người Nam
Bộ ở phía Nam đất nước” [143; 106]. Những so sánh này dựa trên nền âm
nhạc là chính. Tuy nhiên có thể tham khảo được một số vấn đề về lịch sử
chuyển hóa văn học dân gian vùng ngoài vào đàn trong từ nhiều thế kỉ trước.
Cũng trên cơ sở đó, các tác giả còn bước đầu đưa ra mối quan hệ, giao lưu
văn hoá Việt – Chăm và Việt – Khmer qua một vài làn điệu dân ca Nam Bộ ở
Bến Tre, đây thực sự là một gợi ý tích cực, quí báu. Có thể nói đây là công
trình nghiên cứu có giá trị đặc biệt ở góc độ âm nhạc. Tuy nhiên những đóng
góp tích cực của công trình còn có ý nghĩa lớn đối với những nhà nghiên cứu
văn học dân gian nói chung trên vùng đất Bến Tre. Nó có tác dụng mở đầu
cho những công trình sưu tầm, nghiên cứu tiếp sau rộng và sâu hơn.
Ở cấp độ rộng hơn, năm 1984 hai tác giả Lê Giang và Lư Nhất Vũ tiếp
tục cho ra mắt bạn đọc quyển sách Tìm hiểu dân ca Nam Bộ [135]. Tuy
nhiên, phần sưu tập những làn điệu dân ca ở Bến Tre trong công trình này
không có gì mới so với tư liệu được công bố năm 1981 trong công trình Dân
ca Bến Tre chúng tôi đã nói ở trên. Cũng trong năm 1984, các tác giả Bảo
Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị đã cho ra đời
quyển Ca dao Nam Bộ [34]. Công trình có một số bài nghiên cứu về ca dao –
dân ca Nam Bộ. Phần sưu tầm các bài ca dao – dân ca khá phong phú, trong
đó có một số bài nhắc đến địa danh của tỉnh Bến Tre, con người Bến Tre. Tuy
nhiên, các tác giả không ghi cụ thể nơi sưu tầm các bài ca dao – dân ca.
Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu một cách
khá toàn diện về diện mạo văn học dân gian ở Bến Tre của Nguyễn Phương
Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên năm 1988 – công trình Văn học dân gian Bến
Tre [114]. Sau gần 10 năm tiến hành nghiên cứu, sưu tầm điền giả, hai tác giả
11
sâu vào phân tích cụ thể các tác phẩm văn học dân gian để lí giải những nét
đặc trưng đó. Thứ hai, tác giả giới thiệu và chỉ ra một số đặc trưng về nghệ
thuật của một số thể loại văn học dân gian Bến Tre như: truyện cổ, truyện
cười, ca dao, đồng thời tác giả thể loại đó. Ở truyện cổ tác giả cho rằng: “Yếu
tố thần kì trong truyện cổ Bến Tre không đậm nét như truyện cổ vùng trung
châu và đồng bằng Sông Hồng, nơi dân tộc Việt định cư và xây dựng quốc
gia lâu đời. Chất hiện thực đậm nét hơn, ngay cả với hệ thống truyện về thời
kì khai phá” [114; 58]. Ở truyện cười, truyện trạng tác giả đánh giá: “Nét đặc
trưng truyện cười, truyện trạng ở Bến Tre là sự ngắn gọn. Tình tiết ít, tập
trung vào việc làm bật ra tiếng cười ở cuối truyện (…). Mặt khác biện pháp
phóng đại được dùng khá phổ biến trong truyện cười dân gian” [114; 59]. Về
ca dao ông nhận xét một số đặc trưng về thể thơ và ngôn ngữ: “Ca dao Bến
Tre tuy sử dụng những thể quen thuộc của dân tộc nhưng ở mức độ không
nhiều. Ngược lại một hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt
hình thức là hiện tượng những bài ca chỉ có ba dòng lời” [114; 60]. “Ca dao
Bến Tre đa số là những bài ca giàu chất xông xáo, phóng túng, tự do. Tính
cách, tâm lí của con người trên cù lao này rõ ràng tác động mạnh đến ngôn
ngữ của ca dao Bến Tre” [114; 69]. Tuy chưa đi vào phân tích và lí giải cụ
thể những đặc trưng đó, song những gợi ý tích cực trên thật sự có ý nghĩa đối
với người nghiên cứu văn học dân gian. Đó là những gợi ý quí báu giúp
chúng tôi tìm hiểu và gải quyết các vấn đề trong luận văn này.
Năm 1991 cuốn sách Địa chí Bến Tre [100] do Thạch Phương và Đoàn
Tứ chủ biên ra mắt bạn đọc. Đây là một quyển sách “thực sự có tầm cỡ”
(chữ dùng của GS. Lê Trí Viễn) giới thiệu một cách hệ thống, bao quát và
rành mạch về các đặc điểm tự nhiên, dân cư, lịch sử, kinh tế, văn hoá trong
tỉnh Bến Tre. Trong phần thứ tư , có một chương tác giả nói về văn hóa Bến
cũ và mới đan xen vào nhau và cùng tồn tại trong ca dao nơi đây (….). Mảng
thứ hai là những sáng tác xuất hiện trong quá trình con người khai phá, xây
13
dựng vùng đất mới. Thường thì loại ca dao thứ hai này ít chất mượt mà hơn,
óng chuốt hơn loại ca dao thứ nhất. Bù lại, loại thứ hai này lại có những nét
độc đáo riêng trong cách phô diễn, cấu trúc và vốn từ ngữ” [86; 63 – 67]. Tất
cả cung cấp thêm một cái nhìn toàn diện hơn về văn học dân gian Bến Tre.
Không đi vào nghiên cứu trên diện rộng, Huỳnh Ngọc Trảng tiến hành
sưu tầm và nghiên cứu một thể loại dân ca được cho là mang dáng vẻ riêng
của Bến Tre so với khu vực đồng bằng Sông Cửu Long. Năm 1992, ông công
bố công trình Hát sắc bùa Phú Lễ [123]. Trong công trình này tác giả đi vào
phân tích đặc điểm và nguồn gốc của Hát sắc bùa Phú Lễ trên cơ sở phân tích
so sánh các bài hát sắc bùa ở đây trong mối tương quan với Hát sắc bùa miền
Nam Trung Bộ. Tác giả chỉ ra rằng: “Như vậy, qua các cứ liệu trình bày trên
cho thấy hát sắc bùa Phú Lễ có nguồn gốc từ hát sắc bùa miền Nam Trung Bộ
và có thể có gốc gác trực tiếp với hát sắc bùa Nghĩa Bình. Đây là những
chứng tích biểu hiện rõ nhất mối giao lưu văn hoá Trung Bộ - Nam Bộ”.
“Mặt khác sự xác định nguồn gốc Nam Bộ của hát sắc bùa Phú Lễ cũng
không nhằm phủ định những sáng tạo mới của hình thức diễn xướng này trên
vùng đất mới Phú Lễ” [123; 9]. Trong phần sau của công trình, tác giả công
bố một số bài Hát sắc bùa Phú Lễ đã sưu tập. Những đóng góp của Huỳnh
Ngọc Trảng trong công trình này làm phong phú thêm cho nền văn học dân
gian Bến Tre. Đồng thời, công trình này là tư liệu quí báu cho những người
nghiên cứu tìm hiểu văn học dân gian Bến Tre sau đó.
Theo hướng tiếp cận về văn hoá dân gian, năm 1997 Nguyễn Phương
Thảo cho ra mắt bạn đọc quyển Văn hoá dân gian Nam Bộ những phác thảo
[116]. Tuy viết về văn hoá dân gian Nam Bộ, song trong công trình này
là hai nhân vật “trạng” trong văn học dân gian ĐBCL. Nếu như Truyện Ông
Ó hướng vào xã hội với chủ đề gần với truyện trào phúng thì Truyện Bác Ba
Phi hướng về tự nhiên với quê hương U Minh giàu có sản vật, gần gũi với
truyện bông đùa. Trong dòng chảy của truyện trạng từ Bắc vào Nam, có thể
15
xem truyện Ông Ó là sự nối tiếp truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn” [69; 15 –
16].
Năm 2009, Lư Hội giới thiệu tập sách Di sản văn hoá Bến Tre [50].
Trong tập sách này tác giả giới thiệu một số nét về văn hoá Bến Tre như tín
ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôn giáo và phong tục của người Bến Tre. Ngoài
ra, tác giả còn trình bày về các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre như:
hò, lí, hát ru, hát sắc bùa, vè, nói thơ Vân Tiên và đờn ca tài tử. Trong đó, tác
giả giới thiệu một số tư liệu sưu tầm, tuy nhiên phần lớn tư liệu đều trùng với
các tài liệu trước đó.
Gần đây nhất, trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Khảo sát ca dao – dân
ca Bến Tre [25], Đặng Thị Thuỳ Dương đã đi vào khảo sát, phân tích khá chi
tiết nội dung và nghệ thuật của ca dao – dân ca Bến Tre. Về nội dung, tác giả
luận văn cho rằng ca dao – dân ca Bến Tre phản ánh sinh động cảnh quan
thiên nhiên như: địa hình, cây cối, loài vật và những đặc sản trên vùng đất. Ca
dao – dân ca Bến Tre còn phản ánh đậm nét chân dung con người Bến Tre
trong lao động sản xuất, trong chiến đấu và trong đời sống tình cảm hàng
ngày. Về nghệ thuật, tác giả đi vào khảo sát một số phương diện: thể thơ,
ngôn ngữ và kết cấu. Ở luận văn này tác giả quan tâm đi vào khảo sát khá chi
tiết đặc điểm chủ yếu về nội dung và nghệ thuật của ca dao Bến Tre. Vì mục
đích đó, tác giả không đi sâu vào phương diện nổi bật nhất trong nội dung và
nhệ thuật của ca dao – dân ca Bến Tre, vấn đề mà người viết sẽ cố gắng tìm
hiểu trong luận văn này.
gian, từ đó dẫn đến những kết luận khách quan.
- Phương pháp phân tích và so sánh:
Phân tích và so sánh để bước đầu thấy được những điểm tương đồng và
dị biệt của văn học dân gian Bến Tre so với các vùng khác và trong nền văn
học dân gian dân tộc.
- Phương pháp loại hình lịch sử:
17
Tìm hiểu tác phẩm trong cơ cấu thể loại của nó để khám phá những nét
riêng của văn học dân gian Bến Tre.
- Phương pháp hệ thống:
Đặt những tác phẩm văn học dân gian Bến Tre trong cùng một hệ thống
như hệ thống tác phẩm văn học dân gian Nam Bộ hoặc cả nước để thấy được
nét chung cũng như nét riêng của nó.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Những kiến thức của nhiều ngành khác nhau như: địa lí, lịch sử, dân
tộc học, văn hóa học… giúp chúng tôi lí giải những đặc điểm riêng của một
số thể loại văn học dân gian tiêu biểu ở Bến Tre.
5. Đóng góp của luận văn.
Dựa trên sự tổng hợp các công trình tản mạn trước đó, luận văn sẽ tập
trung giải quyết được:
- Phác hoạ diện mạo chung của Văn học dân gian Bến Tre.
- Làm rõ một số đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian Bến Tre thông
qua việc chỉ ra đặc trưng cấu trúc và giá trị nội dung của một số thể loại tiêu
biểu như truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ca dao.
6. Kết cấu luận văn.
Luận văn bao gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết
luận. Trong đó, phần nội dung gồm ba chương:
đó những tổ chức”. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Chúa Nguyến Phúc
Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng thẳng,
19
rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các qua giám quân, cai bộ và
ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố”
[Dẫn theo Địa chí Bến Tre; 242]. Jules Sien cũng đã nhận xét rằng “Trước
khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó
những tổ chức, những nóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở
chung với người Cao Miên” [117; 10]. Cùng với đó, còn có một nhóm lưu
dân người Hoa xin được đến nơi đây để cư trú và sinh sống. “Năm 1679,
chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa “phản Thanh phục
Minh” theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú
chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho” [100; 242]. Như vậy, có thể
nói rằng kể từ thế kỷ XVII trở đi vùng đất Bến Tre đã bắt đầu có sự biến đổi
mạnh. Đây cũng là một đặc điểm chung của nhiều vùng đất khác ở Nam Bộ.
Các tài liệu lịch sử cho biết rằng những lưu dân người Việt đến vùng
đất cù lao Bến Tre không sớm cũng không muộn hơn bao nhiêu so với các
điểm định cư ở phía Bắc sông Tiền, hay các vùng Tân Bình, Biên Hòa, Bà
Rịa. Họ hầu hết là những người từ các tỉnh miền Trung, gồm nhiều thành
phần khác nhau. Đó là những người nông dân nghèo khổ bị chế độ phong
kiến đàn áp làm cho bần cùng lại phải gánh chịu bao phen chà xát của cuộc
nội chiến phong kiến liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn.
Có thể nói đây là thành phần đông đảo nhất. Một thành phần khá lớn khác
cũng lưu lạc đến nơi đây sinh sống, đó là những người “trốn lính và lính
trốn”, những tù nhân bị lưu đày viễn xứ. Thành phần còn lại trong số lưu dân
người Việt đến đây là những người có tiềm lực kinh tế theo lời kêu gọi của
chúa Nguyễn, họ vào nơi đây để mở rộng kinh doanh, gia tăng sản xuất để tạo
đất Phước Thạnh (thuộc Châu Thành) của nhóm người Hoa vượt sông từ Mỹ
Tho đến định cư. Trong thế kỷ XVIII có một vùng đất được khai phá mạnh và
là vùng đất trù phú bậc nhất của Bến Tre, đó là vùng Ba Việt (tức vùng Ba
Vát, huyện Mỏ Cày ngày nay). Tuy nhiên, vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII
21
vùng đất này bị suy tàn dần vì cuộc chiến tranh giữa quân Tây Sơn và chính
quyền phong kiến Nguyến Ánh. Một số vùng đất khác cũng được mở rộng
khai phá vào thế kỷ XVIII như vùng ven rạch Sóc Sãi, rạch Mỹ Lung (Bến
Tre) trên cù lao Bảo, vùng ven sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, song Bình Đại trên
cù lao An Hóa. Như vậy, đến cuối thế kỷ XVIII vùng đất Bến Tre đã được
khai phá khá rộng.
Sang đầu thế kỷ XIX, công cuộc khẩn hoang mở đất, lập phố trên vùng
đất Bến Tre càng được phát triển hơn. Công cuộc tự khai phá của nhân dân
vẫn được tiếp tục trong lúc chính quyền nhà Nguyễn bấy giờ đứng ra tổ chức
việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền, khai hoang, lập ấp. Từ đó
đất Bến Tre càng được phát triển hơn. Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh
Hoài Đức có viết: “Ở phía Đông sông Hàm Luông, cách phía đông trấn 103
dặm rưỡi, rộng 18 tầm, sâu 11 thước ta. Vào sông này đi xuống hườn đông ba
dặm, nơi phía bờ bắc là chợ Bến Tre (Trúc Tân), quán xá dày đặc; 3 dặm
rưỡi bên bờ nam là chợ Mỹ Lồng, phố xá liền nhau, buôn bán đông đúc. Có
những vườn cau rậm như rừng, quả lớn lại sai, nên cau Mỹ Lồng rất nổ tiếng.
Xuốn phía đông năm dặm chảy ra cửa sông Phước Thạnh (Tục gọi là Cái
Sậy, thuộc địa phận thôn Phước Thạnh) cửa sông rộng 3 tầm, sâu 2 tầm vào
nam chảy ra biển Ba Lai” [Dẫn theo tài liệu 117; 13]. Điều đó chứng minh
rằng sang thế kỷ XIX diện mạo vùng đất Bến Tre đã có bước phát triển khá
mạnh mẽ.
Về mặt địa lí hành chính, sang đầu thế kỷ XIX vùng đất Bến Tre cũng
cuộc chiến đấu ấy, tuy nhiên, không vì thế mà người dân Bến Tre nản lòng.
Tinh thần yêu nước và ý chí chống giặc ngoại xâm vẫn âm ỉ cháy trong lòng
bao thế hệ con người vùng đất xứ dừa kiên cường. Và với tinh thần, ý chí
mãnh liệt ấy, cùng với sự dũng cảm, mưu trí nhân dân Bến Tre đã góp chung
niềm vui chiến thắng cùng cả nước khi giành lại được chính quyền từ tay thực
dân Pháp vào tháng 8 năm 1945.
23
Độc lập, tự do chưa được bao lâu, đất nước lại phải đối diện với muôn
vàn khó khăn. Tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp lại nổ súng xâm lược đất
nước ta lần hai, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa nhất tề đứng lên chống
giặc. Nhân dân Bến Tre bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lần hai trong
điều kiện đã được chuẩn bị tương đối về nhiều mặt trên nền chính trị là khối
đại đoàn kết toàn dân. Trong hoàn cảnh tương đối thuận lợi ấy, nhân dân Bến
Tre đã thể hiện tinh thần xung kích mạnh mẽ. Với nhiều trận đánh và bước
đầu mang lại những thắng lợi nhất định tiêu biểu như trận đánh tiêu diệt căn
cứ Vàm Nước Trong ở Định Thủy huyện Mỏ Cày năm 1947, chiến thắng
Thạnh Phú năm 1953… Như vậy từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954
nhân dân bến Tre cùng với đồng bào cả nước tiến hành cuộc kháng chiến đầy
gian khổ nhưng vô cùng anh dũng. Có thể nói những chiến thắng ở Bến Tre
và các tỉnh Nam Bộ khác đã góp tiếng nói mạnh mẽ buộc thực dân Pháp ký
hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7 năm 1975 lập lại hòa bình ở Đông Dương, công
nhận độc lập chủ quyền của đất nước Việt Nam.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc, nhân dân Bến Tre
lại cùng cả nước tiếp tục chống đế quốc Mỹ. Tinh thần anh dũng, kiên cường
lại tiếp tục được phát huy trên vùng đất xa xôi phương Nam này. Trong
những năm đầu củ cuộc kháng chiến quân dân Bến Tre tiến hành đấu tranh
chính trị, đòi Mỹ, Diệm thực thi đúng theo Hiệp định Giơ-ne-vơ đồng thời đòi
vừa mang những nét chung của lịch sử dân tộc, đồng thời nó lại vừa mang
những nét riêng do hoàn cảnh lịch sử nơi đây quy định. Văn học dân gian Bến
Tre phát triển trong tiến trình lịch sử ấy tất yếu sẽ phản ánh diện mạo xã hội,
con người mà nó đi qua.
25