Bài giảng phân tích thiết kế hệ thống thông tin ngô thị tú quyên - Pdf 32

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
tRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TOÁN

Học phần:

PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG
THÔNG TIN
Biên soạn: Ngô Thị Tú Quyên

THÁI NGUYÊN - 2011


Học phần:

PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN

Số tín chỉ: 3
Khối lượng kiến thức: 45 tiết
Trong đó: Lý thuyết: 30 tiết
Bài tập: 15 tiết


Điều kiện:
Đã học xong học phần: Ngôn ngữ lập trình bậc cao. hệ
quản trị cơ sở dữ liệu, nhập môn cơ sở dữ liệu.

Nội dung tóm tắt:
Sinh viên được học các buớc của quá trình phát triển hệ
thống thông tin, những phương pháp và công cụ để phân tích và
thiết kế một hệ thống thông tin theo hướng cấu trúc.

1.5. Xây dựng thành công HTTT


1.1. Định nghĩa về hệ thống thông tin
1.1.1. Hệ thống
1.1.1.1. Định nghĩa về hệ thống
a. Định nghĩa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống thông tin. Dưới
đây là một vài định nghĩa trong số đó [3]:
- Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ bên trong với
nhau.
- Hệ thống có thể đơn giản được xác định như một nhóm các phần
tử có quan hệ và tương tác qua lại với nhau hình thành nên một
thể thống nhất.


- Hệ thống thông tin bao gồm:
+ Tập hợp các phần tử (không phân biệt bản chất của nó).
+ Tập hợp các mối quan hệ giữa các phần tử đó (các quan
hệ có nhiều dạng rất khác nhau. Có thể kể ra một vài dạng
như các quan hệ cơ học, năng lượng, thông tin và các
quan hệ khác ràng buộc bởi: kinh tế, thân hữu, pháp luật
và có thể xác định qua các mặt như : số lượng, chiều
hướng và cường độ của chúng).
+ Tạo thành một thể thống nhất để có được những chức
năng hay mục tiêu (của chính nó hay được con người gắn
cho) của hệ thống.
Nhờ tạo thành một thể thống nhất mà hệ thống có được
các đặc tính mà từng phần tử riêng rẽ không thể có được. Các
đặc tính này gọi là các đặc tính trồi. Định nghĩa này có thể


* Hệ thống mở (Open System) là HT có tác động qua lại với các
HT khác thuộc môi trường. Nếu một hệ thống có sự trao đổi những
“đầu vào” và “đầu ra” với môi trường thì có thể nói rằng nó liên hệ
với môi trường qua các giao diện vào - ra (Input - Output Interface)
nếu một HT có khả năng thay đổi bản thân mình hay thay đổi môi
trường để tồn tại thì nó được gọi là HT thích nghi (Adaptive Sytem).
Những đặc trưng của một hệ thống cho phép nhận biết được hệ
thống ở các thời điểm khác nhau được gọi là trạng thái của nó. Đối
với những hệ thống vận động trong không gian, vị trí của nó trong
không gian có thể xem là trạng thái của nó trên quỹ đạo.


b. Một số tính chất cơ bản của hệ thống
- Tính nhất thể (tạo thành hệ thống).
- Tính tổ chức có thứ bậc
- Tính cấu trúc
- Tính biến đổi theo thời gian, không gian.
- Tính hướng mục tiêu
- Tính thích nghi và tính ỳ


1.1.1.2. Phân loại các hệ thống
Có thể phân loại các hệ thống theo nhiều cách. Mỗi cách
phân loại thường dựa trên một cách nhìn nhận. Chẳng hạn:
- Theo nguyên nhân xuất hiện ta có:
+ Hệ thống tự nhiên (có sẵn trong tự nhiên)
+ Hệ thống nhân tạo (do con người tạo ra)
- Theo quan hệ với môi trường:
+ Hệ thống đóng (không có trao đổi với môi trường)



1.1.1.3. Mục tiêu nghiên cứu hệ thống
- Để hiểu biết rõ hơn về hệ thống (nhất là đối với hệ thống phức
tạp)
- Để có thể tác động lên hệ thống một cách có hiệu quả
- Để hoàn thiện hệ thống hay thiết kế những hệ thống mới
Tuỳ thuộc vào mỗi loại hệ thống và mục tiêu nghiên cứu mà ta
có thể sử dụng các phương pháp và các công cụ khác nhau để nghiên
cứu hệ thống và có thể thu được kết quả tốt.


1.1.1.4. Nội dung nghiên cứu một hệ thống
Việc nghiên cứu một hệ thống bao gồm hai giai đoạn: Tiếp
cận hệ thống và phân tích hệ thống.
- Tiếp cận hệ thống: Là tổng thể cách thức và phương pháp
luận để đi đến hiểu biết đúng đối tượng nghiên cứu (được xem
như là một hệ thống). Thông thường tiếp cận hệ thống dựa trên
những quan điểm nhất định. Chẳng hạn tiếp cận từ cái chung đến
các riêng, từ trên xuống,...
- Phân tích hệ thống: Là việc sử dụng các phương pháp và
công cụ để nhận thức và hiểu biết được hệ thống, tìm các giải
pháp giải quyết các vấn đề phức tạp đặt ra cho hệ thống được
nghiên cứu.


* Nội dung phân tích hệ thống bao gồm:
- Phân tích mục tiêu
- Phân tích phạm vi và môi trường của hệ thống
- Phân tích cấu trúc

lý phân tích các vấn đề, cho phép nhìn thấy được một cách trực
quan những đối tượng phức tạp, tạo ra những sản phẩm mới.


1.1.2.2. HTTT quản lý (Management Information System - MIS)
Đối tượng phục vụ của HTTT quản lý thực sự rộng hơn rất
nhiều so với ý nghĩa của chính bản thân tên gọi của các từ này.
Đối tượng của nó không chỉ là các nhà quản lý, mà còn bao gồm
cả những người trong một tổ chức làm việc trên HTTT, những
người làm công tác phân tích, thiết kế HTTT. Chính xác hơn
HTTT quản lý là HTTT của một tổ chức (Organizational System IS). Vì vậy có định nghĩa: HTTT quản lý là sự phát triển và sử
dụng HTTT có hiệu quả trong một tổ chức. Một HTTT được xem
là hiệu quả nếu nó giúp hoàn thành được các mục tiêu của những
con người hay tổ chức sử dụng nó.


* Những yếu tố cấu thành của HTTT quản lý:
Việc mô tả HTTT quản lý một cách tường minh theo quan
điểm hệ thống (gồm các phần tử, các mối quan hệ) là không thể,
do sự đa dạng của các quan hệ được thiết lập trong mỗi HTTT cụ
thể, vì sự không nhìn thấy của nhiều mối liên hệ trong hệ thống
vốn chỉ được hình thành khi nó hoạt động. Cho nên, người ta chỉ
có thể nêu ra các yếu tố cấu thành nó.
Năm yếu tố cấu thành của HTTT quản lý xét ở trạng thái
tĩnh là: Thiết bị tin học - phần cứng (máy tính, các thiết bị, các
đường truyền,…), các chương trình (phần mềm), dữ liệu, thủ tục quy trình và con người.


Trích đoạn Phõn tớch hệ thống về dữ liệuPhõn tớch hệ thống về dữ liệu Phõn tớch hệ thống về động thỏiPhõn tớch hệ thống về động thỏ Cỏc chiến lược phõn tớch một hệ thống SART BÀI TẬP PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HTTT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status