BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP.HCM
CON NGƢỜI NHÂN VĂN
TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM
SƠ KỲ TRUNG ĐẠI
Mã số: B 2005.23.69
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
í
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2006
MỤC LỤC
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP
BỘ .............................................................................................................................................. 1
SUMMARY ................................................................................................................... 2
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................ 3
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................ 5
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM .................................................. 5
1. Khái niệm "nhân văn": ....................................................................................... 5
2. Khái niệm "con ngƣời nhân văn " ...................................................................... 6
3. Khái niệm "sơ kỳ trung đại" .............................................................................. 7
4. Vấn đề "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại". ............ 10
CHƢƠNG 2. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÝ VỚI VẺ ĐẸP
MINH TRIẾT CỦA TRÍ TUỆ. ............................................................................................ 13
TRUNG ĐẠI
Mã số: B 2005.23.69
Chủ nhiệm đề tài: Đoàn Thị Thu Vân
Tel: 0918495982
E-mail:
Cơ quan chủ trì đề tài: Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP. HCM
Thời gian thực hiện: từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006.
Mục tiêu:
- Xác định sự có mặt "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại và
tìm hiểu xem nó đã đƣợc biểu hiện ở những phƣơng diện nào, với cách thức ra sao.
- Từ đó góp phần khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca Việt Nam
sơ kỳ trung đại.
Nội dung chính: Gồm 4 chƣơng
Chƣơng 1: Một số vấn đề về khái niệm.
Chƣơng 2: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lý với vẻ đẹp minh triết của trí tuệ.
Chƣơng 3: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Trần với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh.
Chƣơng 4: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lê sơ với vẻ đẹp tận tụy của ý thức
Trách nhiệm và sự thanh cao của khí tiết kẻ sĩ.
Kết quả chính đạt đƣợc:
- Xác định đƣợc sự có mặt của "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ
trung đại cùng những nội dung biểu hiện phong phú và đa dạng của nó trong từng thời kỳ,
từng tác giả khác nhau.
- Từ đó khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung
đại, cũng nhƣ những đóng góp của nó đối với những giá trị văn hóa và con ngƣời Việt Nam.
- Những kết quả này có thể ứng dụng vào việc giảng dạy chuyên đề ở cấp đại học và
sau đại học.
well as its contributions to Vietnamese culture and people has been affirmed.
- These results can be applied to teach as a major in undergraduate and postgraduate
levels.
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Văn học sơ kỳ trung đại (thế kỷ X - giữa thế kỷ XV) là giai đoạn đầu tiên của nền văn
học dân tộc thể hiện những giá trị đặc sắc của văn hóa và con ngƣời Đại Việt. Thơ ca, bộ
phận quan trọng nhất của văn học sơ kỳ trung đại, do đó cần đƣợc nghiên cứu từ nhiều
phƣơng diện để có thể giúp ngƣời đọc ngày nay đi sâu khám phá, tiếp cận ngày càng sâu sắc
hơn những thông điệp tinh thần của tiền nhân.
Tìm hiểu con ngƣời nhân văn trong thơ ca sơ kỳ trung đại là một trong những góc độ
nghiên cứu khả dĩ thiết lập đƣợc chiếc cầu nối giữa ngƣời xƣa và ngƣời sau để thế hệ hiện đại
có thể tìm thấy những gần gũi lạ kỳ trong suy tƣ, tình cảm, cảm xúc của ngƣời xƣa cách đây
hơn nửa thiên niên kỷ, những đồng cảm sâu sắc vƣợt thời gian về những vấn đề muôn thuở
của con ngƣời, từ đó giúp thế hệ trẻ hiểu cha ông mình nhiều hơn, vƣợt qua sự cách bức về
phƣơng diện hình thức (ngôn ngữ, thể loại, các biện pháp nghệ thuật trung đại...) để không
chỉ tự hào về những giá trị quý báu của văn học dân tộc mà còn có thể dùng những thể
nghiệm của ngƣời xƣa soi rọi vào cuộc sống hôm nay, lĩnh hội đƣợc nhiều điều thú vị, bổ ích
và có ý nghĩa.
2. Mục tiêu đề tài
- Xác định sự có mặt "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại và
tìm hiểu xem nó đã đƣợc biểu hiện ở những phƣơng diện nào, với cách thức ra sao.
- Từ đó góp phần khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ của thơ ca Việt Nam sơ kỳ
trung đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thơ ca Việt Nam từ thế kỷ X đến khoảng giữa thế
Nói đến "nhân văn", trƣớc hết không thể không quan tâm đến những thuật ngữ gần
nghĩa có liên quan mật thiết là "nhân bản" và "nhân đạo".
"Nhân bản" là lấy con ngƣời làm gốc. Chủ nghĩa nhân bản là chủ nghĩa coi trọng con
ngƣời với thực thể hiện hữu của nó - sự sống còn và bản chất ngƣời (bao gồm các bản năng
vốn có và những giá trị khác). Do vậy, có thể thấy, "chủ nghĩa nhân bản" nhấn mạnh đến khía
cạnh bản thể của con ngƣời.
"Nhân đạo" là đƣờng đi của con ngƣời. Con đƣờng đó còn gọi là đạo lý. Đó là đạo lý
phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của con ngƣời, không đƣợc xâm phạm đến sinh mệnh,
thân thể, tự do tƣ tƣởng, tình cảm của con ngƣời. "Chủ nghĩa nhân đạo" đòi hỏi sự thƣơng
yêu, quý trọng và bảo vệ con ngƣời. Có thể thấy thuật ngữ này nhấn mạnh đến khía cạnh đạo
đức.
Về thuật ngữ "nhân văn", hiểu theo ý nghĩa từng từ tố, "nhân" là ngƣời, "văn" là vẻ
đẹp. "Nhân văn" có thể hiểu nhƣ là những giá trị đẹp đẽ của con ngƣời. Một tác phẩm văn
học có tính nhân văn là tác phẩm văn học thể hiện con ngƣời với những nét đẹp của nó, đặc
biệt là những giá trị tinh thần nhƣ trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách... Tác phẩm đó
hƣớng đến khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con ngƣời.
"Chủ nghĩa nhân văn", theo Từ điển thuật ngữ văn học, có thể hiểu ở hai cấp độ, cấp
độ thế giới quan và cấp độ lịch sử.
Ở cấp độ thế giới quan, "chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tƣ tƣởng, quan điểm,
tình cảm quý trọng các giá trị của con ngƣời nhƣ trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ
đẹp. Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần, mà còn bao hàm cả
cách nhìn nhận, đánh giá con ngƣời về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất...) trong
các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại" (1).
(1)
Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – NXB Giáo dục, HN,
2004, tr, 88.
Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – NXB Giáo dục, HN,
2004, tr, 89.
7
tƣ tƣởng, văn hóa của thời đại đó. Tìm hiểu "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca của một thời
đại là để thấy ở đó, các nhà thơ đã bộc lộ những vẻ đẹp - con ngƣời nhƣ thế nào và bộc lộ ra
sao. "Con ngƣời nhân văn" ấy đã đóng góp gì cho thơ ca thời đại và cho văn học cũng nhƣ
văn hóa dân tộc nói chung. Điều này cũng là một tiêu chí để đánh giá giá trị thơ ca của một
thời đại, đồng thời cho thấy thiên hƣớng nghệ thuật của thơ ca thời đại đó. Mặt khác, qua đó,
thơ ca cũng giúp ngƣời đọc hiểu thêm về thời đại, có thể góp phần lý giải những vấn đề xã
hội, chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng có liên quan.
Thơ ca là nghệ thuật của cái đẹp, nên bản thân nó đã mang tính nhân văn (ngoại trừ
những gì chƣa đáng đƣợc gọi là thơ, chƣa đƣợc công chúng và thời gian khẳng định), thế
nhƣng không phải lúc nào vấn đề con ngƣời nhân văn cũng đƣợc đặt ra. Vậy vấn đề ở đây là
tại sao lại đƣa ra tìm hiểu "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại"? Tại
sao khi nói đến thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại lại đề cập đến "con ngƣời nhân văn" mà
không phải là một vấn đề gì khác. Điều này sẽ đƣợc lý giải sáng tỏ ở phần tiếp sau.
3. Khái niệm "sơ kỳ trung đại"
Văn học trung đại đã đƣợc hầu hết các nhà nghiên cứu thống nhất là bắt đầu từ thế kỷ
thứ X (thế kỷ bắt đầu mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ của đất nƣớc, và từ đó, bắt đầu hình
thành một nền văn học dân tộc) và kết thúc vào cuối thế kỷ XIX (cùng với việc chấm dứt
dùng văn tự Hán - Nôm với những thể cách truyền thống trong thi cử, sáng tác, cũng nhƣ
trong nhiều sinh hoạt xã hội nói chung, để thay bằng chữ quốc ngữ và những thể cách mới
ảnh hƣởng từ văn minh phƣơng Tây). Tuy nhiên, về phân kỳ văn học trung đại, trƣớc nay có
khá nhiều ý kiến khác nhau, về đại thể có thể kể ra nhƣ sau:
- Phân chia văn học trung đại làm 5 giai đoạn (theo bộ sách Văn học Việt Nam của
Trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội và bộ sách Lịch sử văn học Việt Nam của Trƣờng Đại học
4. Nửa cuối thế kỷ XIX
+ Bộ sách 2 phân chia văn học trung đại làm 2 giai đoạn:
1. Từ thế kỷ X đến hết thế ky X VII
2. Từ thế ky XVIII đến cuối thế kỷ XIX
Mỗi cách phân kỳ trên đều có những lý do hợp lý riêng của nó. Suy nghĩ về cơ sở và
mức độ hợp lý của những cách phân kỳ trên, đồng thời kế thừa từ những đóng góp của ngƣời
đi trƣớc, trong tiểu luận này, ngƣời viết đề xuất một cách phân kỳ không quá đi vào chi li
nhƣng cũng không khái quát quá rộng - chia văn học trung đại làm 3 giai đoạn:
1. Sơ kỳ trung đại: Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XV
2. Trung kỳ trung đại: Từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII
3. Hậu kỳ trung đại: Từ giữa thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX
9
Cách phân chia này dựa trên những biến chuyển tự thân của văn học, nhằm phù hợp
với yêu cầu phát triển của từng thời đại cũng nhƣ nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử khác
nhau. Sơ kỳ trung đại là giai đoạn mở đầu của văn học trung đại với cảm hứng chủ đạo là
khẳng định dân tộc về quyền độc lập tự chủ, văn hóa, nội lực, bản lĩnh... Trung kỳ trung đại
là giai đoạn giữa của văn học trung đại, xuất hiện trong điều kiện lịch sử giai cấp phong kiến
đã trƣởng thành, già dặn kinh nghiệm để đƣa chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao. Cảm
hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này là khẳng định chế độ phong kiến với những kỷ
cƣơng, phép tắc và luân thƣờng đạo lý của nó. Cảm hứng khẳng định đó có lúc kết hợp song
hành giữa khẳng định triều đại phong kiến với niềm tự hào về sự phát triển cƣờng thịnh của
đất nƣớc (nửa cuối thế kỷ XV, dƣới triều Lê Thánh Tông), nhƣng cũng có lúc lại là nỗi bất
mãn trƣớc hiện thực nhiễu nhƣơng, phong hóa suy đồi, là lời kêu gọi giữ gìn đạo lý trong
khuôn khổ Nho gia (thế kỷ XVI, với Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại biểu). Hậu kỳ trung đại là
giai đoạn cuối với cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo phản kháng lại những bất công
của chế độ phong kiến và những quy định khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, phá vỡ những
quy phạm cố hữu mang tính cao nhã của thơ văn trung đại để tiếp cận cuộc sống hiện thực
đời thƣờng của những ngƣời dân thƣờng trong xã hội.
ngƣời - cá nhân thống thiết và mãnh liệt.
Trong một thời kỳ của một quá trình nào đó, giai đoạn ở giữa bao giờ cũng kết tinh
đậm đặc và cao độ những thuộc tính cơ bản của thời kỳ. Giai đoạn đầu là giai đoạn mới phát
sinh và đang đà phát triển, nó chƣa xuất hiện đầy đủ các thuộc tính. Giai đoạn cuối là giai
đoạn đã đi qua đỉnh cao của sự phát triển, và theo đúng quy luật vận động khách quan, các
thuộc tính trở nên tha hóa, tạo mâu thuẫn bên trong để thúc đẩy kết thúc chu kỳ và chuẩn bị
mở ra một thời kỳ mới. Văn học trung đại cũng thế, không nằm ngoài quy luật ba giai đoạn phát triển, trƣởng thành và dị hóa - tƣơng ứng với sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ trung đại.
4. Vấn đề "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại".
Tại sao lại đặt ra vấn đề tìm hiểu về con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ
trung đại?
Trƣớc hết cần nhìn lại bối cảnh lịch sử giai đoạn sơ kỳ trung đại. Đây là giai đoạn
củng cố và phát triển chế độ phong kiến ở Đại Việt. Các triều đại phong kiến tự chủ còn non
trẻ đã dựa vào dân để xây dựng sức mạnh cho mình, để phát huy nội lực dân tộc đánh lùi mọi
kẻ thù ngoại xâm hung hãn bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nƣớc độc lập
11
tự cƣờng, có bản sắc, có tiếng nói và vị thế trong khu vực (Thực lực và vị trí đáng tự hào của
Đại Việt đƣơng thời đã đƣợc Nguyễn Trãi ghi lại khá rõ trong Dƣ địa chí). Lý Thái Tông
xuống chiếu xá thuế cho dân với quan niệm "Nếu trăm họ đều no đủ thì trẫm còn lo gì thiếu
thốn?"(1). Lý Thánh Tông tỏ lòng yêu dân nhƣ con - "Ta yêu con ta cũng nhƣ những bậc cha
mẹ trong thiên hạ yêu con cái họ. Trăm họ vì thiếu hiểu biết nên tự phạm vào hình pháp, lòng
ta rất xót thƣơng! Cho nên từ nay về sau, không cứ tội nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan
giảm"(2). Lý Nhân Tông viết Lâm chung di chiếu yêu cầu tiết kiệm, giản dị trong tang lễ vì
"Trẫm đã ít đức, không làm gì cho trăm họ đƣợc yên, đến khi chết đi lại bắt dân chúng mặc
xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, để làm nặng thêm lỗi lầm của trẫm thì
thiên hạ sẽ bảo trẫm là ngƣời nhƣ thế nào?"(3). Trần Nhân Tông xử kiện giữa đƣờng khi dân
đón xa giá kêu oan. Trần Quốc Tuấn trƣớc lúc sắp mất để lại lời nhắn nhủ vua nên "khoan
thƣ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Nguyễn Trãi suốt đời đeo đuổi lý tƣởng nhân nghĩa,
học xã hội, HN, 1988.
(2)
13
CHƢƠNG 2. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÝ VỚI
VẺ ĐẸP MINH TRIẾT CỦA TRÍ TUỆ.
Phần lớn thơ thời Lý còn lại đến nay là thơ thiền. Điều này không lạ vì Phật giáo ở
thời Lý rất thịnh và có ảnh hƣởng trong mọi mặt sinh hoạt của xã hội. Đó là một đạo Phật của
Đại Việt trong thực tiễn và không xa rời cuộc sống. Nhiều thiền sƣ có học vấn uyên bác và
giữ địa vị quan trọng trong triều đình, đƣợc vua xem trọng và tham vấn quốc sự. Vua, quan,
hoàng tộc nhiều ngƣời mộ đạo, thậm chí có ngƣời xuất gia. Đạo Phật không chỉ có ảnh hƣởng
đến đƣờng lối chính trị (nội trị, ngoại giao) của nhà nƣớc mà còn thấm nhuần trong văn hóa,
nghệ thuật (phong tục, lễ hội, tín ngƣỡng, kiến trúc, điêu khắc...). Tuy nhiên nếu thơ thiền
bao gồm cả loại thơ triết lý (trực tiếp hoặc gián tiếp diễn giải về triết lý Thiền) và trữ tình
(bày tỏ cảm xúc mang ý vị thiền trƣớc cái đẹp của thiên nhiên, con ngƣời, cuộc sống hoặc
trạng thái tâm linh khi giác ngộ chân lý) thì ở thời Lý loại thứ nhất chiếm đa số. Có thể thấy ở
thơ thời Lý, mà đa số là thơ thiền, chất triết học, vẻ đẹp của trí tuệ nhƣ là một yếu tố trội nổi.
Ở đó có chiều sâu của sự suy tƣ từ cội nguồn sự vật kết hợp với sự linh mẫn của trực giác để
có cái nhìn xuyên thấu, khám phá bản chất sự vật.
1. Vẻ đẹp của sự điềm tĩnh và thông tuệ - "dĩ bất biến ứng vạn biến " - của
nhà cầm quyền trị nƣớc
Thơ thời Lý mở đầu với bài Quốc tộ (Vận nƣớc) của Pháp Thuận. Tuy tác giả là thiền
sƣ nhƣng đây lại là một bài thơ thế tục của một vị quốc sƣ trình bày với vua (Lê Đại Hành)
những nhận định của mình về vận nƣớc và đƣờng lối chính trị đúng đắn, phù hợp để đất nƣớc
đƣợc thái bình và bền vững dài lâu.
"Quốc tộ nhƣ đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình.
luôn vững vàng và lạc quan trong cuộc sống.
3. Vẻ đẹp của tinh thần tự do, "phá chấp":
Không để mình bị vƣớng mắc vào bất kỳ một chỗ nào, một vật gì, dù đó là Phật pháp,
Huệ Sinh nói: "Pháp vốn nhƣ không có pháp"(1). Bảo Giám cũng nói: "Ít khi dựa vào tu hành
mà có thể đạt đến giác ngộ đích thực; Tu hành chỉ là giam cầm sự ƣu việt của trí tuệ"(2).
Quảng Nghiêm càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn: "Kẻ làm trai tự mình có chí xung thiên;
Đừng nên dẫm theo vết mòn mà Nhƣ Lai đã đi"(3). Vì vậy, chỉ ngƣời "mê" và "hoặc" mới đi
"cầu Phật", "cầu Thiền". Nhìn xuyên thấu bản chất sự vật, các nhà thơ chỉ ra rằng tất cả chẳng
qua là tên gọi, là quy ƣớc, là hình ảnh do con ngƣời tạo dựng nên, rồi tin vào đó đời này sang
đời khác. Mà đã là cái thuộc về thế giới tƣơng đôi thì sẽ thay đổi, sẽ mất đi. Cho nên "pháp"
ấy "chẳng phải có mà cũng chẳng phải không"(4), và cũng có thể nói thêm: vừa là có, vừa là
không. Tất cả là "tùy" - tùy thời điểm, tùy cơ duyên, tùy góc độ nhìn, tùy quan niệm. Do đó
không nên khƣ khƣ bám vào khái niệm "có" hay "không" -"Vật trƣớc hữu không không"(5).
Xƣa nay ngƣời ta thƣờng đề cao mặt tích cực của cái "có", các nhà thơ thời Lý chỉ ra sự diệu
dụng của cái trống không - có khoảng trống không thì mới chứa đƣợc mọi vật, một đầu óc đã
đầy ắp sao còn chỗ để thâu nhận cái mới, một con mắt có sẵn định kiến sẽ không thể nhìn sự
vật đúng-nhƣ-nó-là, một đƣờng lối chính trị "vô vi" mới có thể tùy theo lòng dân mà hành xử
phù hợp. Ấy chính là "chân không diệu hữu" - sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập
mà con ngƣời thời Lý đã chiêm nghiệm đƣợc. Đó là niềm tự hào của Tịnh Không "Ngày ngày
gặt lúa trên đồng, Mà kho đụn vẫn thƣờng không có gì"(6) và lời cảnh tỉnh kẻ đi sau thoạt
nghe có vẻ nhƣ nghịch lý "Ngƣời khôn không ngộ đạo, Ngộ đạo kẻ ngu si". Sự phá chấp vào
(1)
Đáp Lý Thái Tông tâm nguyên chi vấn - Huệ Sinh - Sđd.
Cảm hoài - Bảo Giám - Sđd
(3)
Thị tịch - Quảng Nghiêm - Sđđ.
(4)
21
CHƢƠNG 3. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI TRẦN
VỚI VẺ ĐẸP MẪN CẢM CỦA TÂM LINH
Nếu thơ ca thời Lý, mà đa số là thơ thiền - vốn là những bài kệ, thiên về ý nghĩa triết
lý nhằm biểu đạt những quan niệm về tâm, đạo, bản thể, quy luật tuần hoàn trong cuộc sống,
cách sống và ứng xử minh triết, thì thơ ca thời Trần đã đƣa ngƣời đọc vào thế giới của thi ca
đích thực với phong vị trữ tình và dấu ấn của chủ thể trữ tình bàng bạc trong tác phẩm, ngay
cả đối với bộ phận thơ thiền. (Thơ thiền thời Trần không trực tiếp biểu đạt thiền lý nhƣ thơ
thiền thời Lý mà chứa đựng thiền vị sâu xa và tinh tế trong cách nhìn, cách cảm về thiên
nhiên, cuộc sống. Sự chuyển biến này có cội nguồn từ lịch sử: Thiền Tông đời Trần, mở đầu
từ Trần Thái Tông, đã rời bỏ phong cách uyên áo và thâm viễn vốn thích hợp với cung đình
và giới trí thức để một mặt dung hòa với Nho, Lão, một mặt kết hợp với Tịnh Độ - tông phái
Phật giáo phù hợp với tín ngƣỡng dân gian và đời sống quần chúng - với ý thức tự làm mới
và tạo bản sắc riêng cho mình, từ đó trở nên gần gũi với đại chúng và dẫn dắt triết học đi vào
lãnh địa của nghệ thuật một cách tự nhiên, đem đến một ý vị đặc biệt cho thơ ca thời này).
Nói thơ thời Trần thiên về ý vị trữ tình không có nghĩa là phủ nhận vẻ đẹp trí tuệ và ý
nghĩa triết học khá cô đọng ở một số bài thơ thiền của Trần Thái Tông hay Tuệ Trung chẳng
hạn, mà là để thấy rằng, ngay trong những bài thơ nhằm biểu đạt Thiền lý thì ở đó cũng
không chỉ hiện diện cái nghĩ của nhà thơ mà còn là cái cảm dạt dào, nhạy bén không khác bất
kỳ nhà thơ thế tục nào.
Trong thơ thời Trần có thể bắt gặp một con người thường xuyên tự phản tỉnh. Con
ngƣời ấy có khi hƣớng nội để tự xem xét về ý nghĩa của kiếp ngƣời, sự tồn tại của đời ngƣời.
Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con ngƣời - nhân loại mang ý nghĩa triết học. Cũng có khi con
ngƣời ấy hƣớng nội để tự soi xét hành vi của bản thân, để biết mình đã làm đƣợc gì, chƣa làm
đƣợc gì trong cuộc đời, để đánh giá chính mình, công minh và khách quan, và quan trọng hơn
cả, để tự hiểu mình. Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con ngƣời - cá thể mang ý nghĩa nhân sinh.
Ý thức phản tỉnh nơi nhà thơ thƣờng dẫn họ đến nỗi cô đơn thăm thẳm. Trong cõi cô
đơn ấy, chỉ có mình tự đối diện mình, giữa mênh mông vô tận của đất trời, giữa ngàn xƣa và