Một số hoạt động ngoại khóa và giảng dạy kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong trường phổ thông
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị TRƯỜNG THPT NHƠN TRẠCH
Mã số: .................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VÀ GIẢNG DẠY KỸ
NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG PHỔ
THÔNG
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ LAN ANH
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
1
Phương pháp dạy học bộ môn: TIẾNG ANH 1
Phương pháp giáo dục 1
Lĩnh vực khác: ...................................... 1
Có đính kèm:
1 Mô hình
1 Phần mềm 1 Phim ảnh
1 Hiện vật khác
Năm học: 2011 – 2012
-1-
Chuyên ngành đào tạo: Tiếng Anh
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
-
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy
Số năm có kinh nghiệm: 14 năm
-
Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
* Kỹ năng dạy đọc hiểu.
* Biện pháp Nâng cao chất lượng tú tài.
* Một số trò chơi ngôn ngữ gây hứng thú cho học sinh trong giờ học.
-2-
Một số hoạt động ngoại khóa và giảng dạy kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong trường phổ thông
Tên sáng kiến kinh nghiệm
MỘT SỐ HỌAT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VÀ GIẢNG DẠY KỸ NĂNG GIAO
TIẾP TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đổi mới trong giảng dạy là nhiệm vụ trọng tâm mà mỗi giáo viên đều cố gắng thực hiện
trong quá trình giảng dạy. Với mục tiêu lấy học sinh làm trọng tâm, phát huy tính tích cực của
học sinh, để học sinh chủ động trong học tập, giáo viên cần phải tìm ra nhiều họat động thiết
thực và những phương pháp mang lại hiệu quả cao giúp học sinh phát huy được kỹ năng ngôn
ngữ của mình.
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Phương pháp chủ yếu mà tôi áp dụng để nghiên cứu là phương pháp trải nghiệm thực tế trong
quá trình giảng dạy của mình.
Bên cạnh đó tôi còn nghiên cứu, học hỏi thêm từ một số đồng nghiệp trong việc dạy kỹ năng nói
Tiếng Anh trong trường THPT Nhơn Trạch và một số đồng nghiệp từ trường bạn.
Qua mỗi lần tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh cho học sinh các khối, tôi cũng thu thập phản hồi từ
học sinh và rút ra những ưu khuyết cần phát huy hoặc khắc phục.
Ngòai ra tôi còn thực hiên phương pháp đối chiếu, so sánh (so sánh các tiết dạy của đồng nghiệp
và phương pháp mà tôi đang áp dụng để rút ra kết quả, kinh nghiệm cho bản thân)
1.1 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY HỌC KỸ NĂNG NÓI Ở CÁC TRƯỜNG THPT
THUẬN LỢI
- Sách giáo khoa đã phân bổ đủ các kỹ năng , trong đó có kỹ năng nói.
- Khá nhiều đề tài hay phù hợp với tư duy của học sinh và gần gũi với đời sống hàng ngày.
KHÓ KHĂN
• VỀ PHÍA GIÁO VIÊN
- Giáo viên chưa chú trọng việc rèn luyện nói cho học sinh, chỉ chú trọng rèn luyện kỹ
năng viết và đọc. Trong một tiết dạy giáo viên phần lớn chỉ chú trọng đến việc cung cấp
từ vựng và cấu trúc ngữ pháp…
- Mặt khác giáo viên chưa tạo nhiều cơ hội cho học sinh rèn luyện nói trên lớp.
- Mặc dù giáo viên có cung cấp cho học sinh các mẫu đàm thọai , nhưng mục đích chỉ để
rèn luyện kỹ năng đọc.
- Bên cạnh đó giáo viên chưa phát huy hết được tính chủ động trong học tập cho học sinh,
đôi khi còn áp đặt học sinh trả lời theo ý mình.
• VỀ PHÍA HỌC SINH
- Phần lớn học sinh rất e ngại khi nói trước đám đông.
- Đại đa số các em tỏ ra lúng túng khi nói, thiếu tự tin.
- Nhiều học sinh phát âm không chuẩn, sai ngữ điệu.
- Vốn từ vựng của các em rất nghèo nàn.
- Nhiều học sinh xây dựng ý tưởng rất chậm.
NGUYÊN NHÂN
từ ngữ và ngữ pháp.
- Mặt khác, học sinh diễn đạt ý mình trong những tình huống giao tiếp thông thường có
liên quan đến chủ điểm quen thuộc, thông qua việc vận dụng các chức năng ngôn ngữ đã
học.
- Việc dạy nói thường nhằm vào hai mức độ: Nói trôi chảy (fluency) và nói chính xác
(accuracy)
NHỮNG NGUYÊN TẮC
Để đạt được mục tiêu trên, giáo viên dạy ngoại ngữ cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Giới hạn mục tiêu để tránh việc vượt quá sức đối với học sinh.
2. Phổ biến mục tiêu của họat động đến cho học sinh biết.
3. Phối hợp những họat động nói với tìm hiểu nghĩa.
4. Cung cấp các họat động liên quan đến các cuộc đàm thọai và việc sử dụng các chức năng
ngôn ngữ.
5. Không nên quá chú trọng đến các lỗi của học sinh.
6. Cung cấp những đề tài hấp dẫn đối với học sinh.
7. Sắp xếp học sinh thành các nhóm phù hợp theo từng kiểu bài giao tiếp.
8. Tạo nhiều cơ hội để học sinh được thực hành nói trong các tiết học và trong các buổi ngoại
khóa.
9. Luyện nói cần được tích hợp với một số kỹ năng khác như: nghe, đọc, và viết.
10. Học sinh ( người nói ) phải thật sự mạnh dạn, phải luôn ở thế chủ động, phải tranh thủ mọi cơ
hội để được nói. Muốn được như vậy học sinh phải có sự chuẩn bị bài tốt, trên lớp phải tích
cực tham gia họat động cặp nhóm, ở nhà phải tự trao dồi vốn từ vựng, phải tự thực hành giao
tiếp hằng ngày.
MỘT SỐ HỌAT ĐỘNG ÁP DỤNG CHO KỸ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG ANH
HỌAT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
a. Greeting
b. Activity 1: General Knowledge Quiz
c. Activitu 3: Games
b/ HỌAT ĐỘNG 02: LẬP LẠI
Giáo viên có thể đọc hoặc cho học sinh nghe một đọan hội thọai. Sau đó yêu cầu từng
học sinh hay cả lớp lập lại những gì mà các em đã nghe được. Họat động này thuận lợi
cho học sinh không những rèn luyện kỹ năng nói mà còn rèn luyện cả kỹ năng nghe.
VÍ DỤ: UNIT 2 – CULTURAL DIVERSITY - ENGLISH 12 – SPEAKING
DIALOGUE
A. Are there two generations live in a home in Viet Nam?
B. No, there are three or four generations.
A. Do old – aged parents live in a home in American?
B. No, they live in a nursing home.
A. How about in Viet Nam?
B. They live with their children and take care of their grandchild.
A. Is it impolite to ask questions about age, marriage and income in Viet Nam?
B. No, it is acceptable.
c/ HỌAT ĐỘNG 03: BÁO CÁO
Trên cơ sở cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà, đến lớp, giáo viên cho các em báo cáo
( theo cá nhân ) hoặc bằng hình thức phỏng vấn thông tin từ bạn sau đó báo cáo trước lớp
những vấn đề như kinh nghiệm của bản thân về vấn đề gì đó; suy nghĩ về lợi ích của sách; kế
họach cho kì nghỉ mát, và các ngày lễ trong năm; những nguyên nhân dẫn đến việc nghiện và
những ảnh hưởng xấu của ma túy; cuộc sống gia đình…
VÍ DỤ: UNIT 1 – HOME LIFE – ENGLISH 12 - SPEAKING
Theo gợi ý của giáo viên, học sinh chuẩn bị trước ở nhà những điều cần trình bày
trước lớp như:
- How many members are there in her / his family?
- Who works?
- Who does the household chores?
-6-
Câu hỏi 1: Do you work in an office?
Câu hỏi 2: Do you wear a uniform?
Câu hỏi 3: Do you get a big salary?
Câu hỏi 4: Do you travel in your job?
Câu hỏi 5: Do you meet different people?
Câu hỏi 6: Is your job dangerous?
Câu hỏi 7: Are you a…………………?
f/ HỌAT ĐỘNG 06: ĐỘNG NÃO
Là một hình thức chuẩn bị trước cho bài học, cũng giống như thiết lập tình huống, nhưng
có đóng góp tự do, không được hướng dẫn trước của học sinh và giáo viên đối với một
chủ điểm bài học nhằm tạo ra nhiều thông tin liên quan đến chủ điểm. Giáo viên không
cần phân tích hoặc diễn giải các thông tin được đưa ra này.
VÍ DỤ: UNIT 3 – WAYS OF SOCIALISING - ENGLISH 12 – SPEAKING
( Speaking – Give and Respond to compliments in situation )
Phần Task 4: Giáo viên cung cấp cho học sinh một số từ như: Hairstyle; dinner; lovely
home; good voice; nice gift……sau đó giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo cặp, dực
vào những từ cho sẵn, tạo ra lời khen và lời đáp lại.
• VD: Dinner
Học sinh 1: The dinner was delicious
Học sinh 2: I’m glad you enjoyed it.
• VD: Lovely home
-7-
Một số hoạt động ngoại khóa và giảng dạy kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong trường phổ thông
Học sinh 1: What a lovely home you have!
Học sinh 2 : Thanks for your compliment.
g/ HỌAT ĐỘNG 07: DÙNG TRANH:
3.1 WARM – UP :
• Thời lượng khỏang 05’
• Mục đích: Giới thiệu một cách tổng quát chủ điểm, nội dung thông tin bài. Ngoài ra
phần này cũng giúp học sinh hứng thú hơn khi vào đầu tiết học. Để thực hiện được
mục đích trên giáo viên có thể thực hiện các hình thức như: dùng cử chỉ để diễn đạt
thông tin, bài hát, kể chuyện, dùng tranh, diễn kịch, trò chơi, một số câu hỏi gợi ý,
thảo luận….để thu hút học sinh.
3.2 PRE – SPEAKING
• Thời lượng: khỏang 10’
• Mục đích: Tạo điều kiện cần thiết để học sinh có cơ hội thực hành nói ( bàn bạc, thảo
luận ….) những vấn đề trọng tâm ở phần While – Speaking. Ở phần này giáo viên
giới thiệu đề tài và hướng dẫn một số gợi ý có liên quan đến đề tài.
3.3 WHILE – SPEAKING
• Thời lượng khỏang 20’
• Mục đích: Để luyện nói cho học sinh, giáo viên tạo mọi cơ hội để học sinh luyện nói.
Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, điều hành nói cho các em. Thông thường
giáo viên chia học sinh thành những nhóm nhỏ để các em dễ dàng luyện nói. Giáo
viên phải lần lượt tham gia vào các nhóm, một mặt để hướng dẫn, động viên, giúp đỡ
học sinh; mặt khác, giáo viên giúp các em uốn nắn về cách dùng từ, ngữ điệu, phát
âm; ngoài ra, giáo viên cũng ghi nhận lại những lỗi sai về ngữ pháp để sửa sai cho
học sinh vào cuối giờ học.
3.4 POST – SPEAKING
• Thời lượng: khỏang 3’
• Mục tiêu: Phần này giúp học sinh bàn bạc, mở rộng thêm vấn đề, làm cho đề tài đang
thảo luận hòan chỉnh hơn.
3.5 CONSOLIDATION
• Thời lượng: khỏang 3’
• Mục tiêu: Nhằm giúp học sinh củng cố, ôn tập các kiến thức đã học, yêu cầu học sinh
nắm lại các từ ngữ, cấu trúc, nội dung vấn đề vừa thực hành.
3.6 HOMEWORK
những không còn e ngại khi giáo viên yêu cầu nói mà ngược lại còn cảm thấy thích
thú khi được gọi lên nói tiếng Anh; vốn từ vựng của các em phong phú hơn; độ chính
xác về ngữ điệu cao hơn; phản xạ của các em nhậy hơn; các em có thể tự nói được
một số đề tài gần gũi với đời sống như: về gia đình; việc làm….. . Từ đó các em nhận
thấy, học tiếng Anh vui và không khó lắm. Tôi thiết nghĩ nếu tiếp tục làm như vậy
cho các năm học sau thì tình hình học và dạy môn tiếng Anh sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Do vậy năm học này tôi cũng tiếp tục áp dụng những họat động nêu trên trong giảng
dạy cho các lớp của mình.
VỀ PHÍA HỌC SINH ( Tham gia ngoại khóa )
Số lượng học sinh tham gia ngày một đông hơn.
Đối tượng không chỉ là những học sinh khá, giỏi mà dần dần đã có những học sinh trung
bình cùng tham gia .
Học sinh thấy mạnh dạn hơn trong giao tiếp, trong ứng xử.
Học sinh cũng đưa ra nguyện vọng được tham gia nhiều họat động bổ ích trong CLB
tiếng Anh hơn nữa.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Đối tượng học sinh ở trường tôi là những đối tượng học sinh trung bình và trung bình yếu.
Vốn kiến thức ít ỏi về ngoại ngữ dễ khiến các em chán nản, mệt mỏi và dễ buông thả bộ môn này.
Nên việc rèn luyện các kỹ năng là một công việc lâu dài, vất vả, khó nhọc đối với học sinh chúng tôi.
Vì vậy, việc ứng dụng giao tiếp vào bài giảng dễ gây hứng thú học tập cho học sinh, tạo không khí
sôi nổi ở lớp học là điều hết sức cần thiết. Khi thực hiện các hoạt động trên tôi thấy các em rất hứng
thú học tập. Từ cảm giác nhẹ nhàng, không căng thẳng như các tiết luyện nghe hay ngữ pháp. Rồi từ
việc được cộng điểm tốt hay được quà khi tham gia trả lời câu hỏi đã khiến các em học tập hăng say
và luôn tỏ ra cố gắng. Ngoài ra tổ chức các họat động đố vui để học cũng tạo một sân chơi lành
mạnh bổ ích cho học sinh, nó thúc đẩy cảm hứng học tập của học sinh rất tốt. Chính nhờ kết quả gặt
được sau một thời gian khá dài như vậy, đã khiến tôi áp dụng ngày càng nhiều hoạt động giao tiếp
vào bài giảng của mình và tôi chịu khó nghiên cứu chương trình để tổ chức cho các em những buổi
ngoại khóa bổ ích nhất.
Trên đây là những suy nghĩ và việc làm thiết thực của bản thân trong việc nâng cao chất