Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán ( TTCK ) tuy mới được thiết lập ở Việt Nam
được 5 năm, nhưng đã được thiết lập ở các nước Châu Âu như: Hà Lan, Anh,
Đức, Pháp và mãi đến thế kỷ 19 TTCK mới ra đời ở nước Mỹ. Đến nay, TTCK
đã được thiết lập ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường và có thể nói
TTCK gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, không có một nước
nào có nền kinh tế phát triển mà không có sự hoạt động của TTCK.
Nhận thức được điều đó, ngay từ khi chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh
nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới, Việt Nam đã thiết lập, vận hành và phát
triển TTCK.
TTCK là một thị trường mới lạ, hiểu biết của công chúng còn mơ hồ, nên
TTCK VN chưa thực sự trở thành kênh huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh
tế. Chính vì thế, khi đưa môn học TTCK vào giảng dạy đã thu hút sự quam tâm
của rất nhiều sinh viên.
Đề tài “Một số giải pháp để thị trường chứng khoán trở thành kênh huy
động vốn dài hạn cho đầu tư” được em chọn để tìm hiểu và nghiên cứu, trong
quá trình tìm tài liệu và nghiên cứu, tuy đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không
tránh khỏi thiếu sót, mong các thầy, các cô giúp đỡ để đề tài của em hoàn chỉnh
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Phan Thu Hiền đã nhiệt tình giúp đỡ
em hoàn thành đề án này.
Hà Nội, ngày 7 tháng 11 năm 2005
1
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
Chương I:
Lý luận chung về đầu tư, nguồn vốn đầu tư, thị trường chứng
khoán và huy động vốn qua thị trường chứng khoán
I. Đầu tư
tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này thể hiện
trong việc soạn thảo các dự án đầu tư, tức là phải thực hiện dự án đầu tư theo dự
án được soạn thảo với chất lượng tốt.
II.Nguồn vốn đầu tư:
1. Khái niệm:
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ để chỉ các nguồn vốn tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và
của xã hội.Nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư
nước ngoài.
2. Các nguồn huy động vốn đầu tư:
2.1.Nguồn vốn nước ngoài:
a.Tài trợ phát triển chính thức ODA:
ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ
nước ngoài với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các hình thức
tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao. Ngoài các điều lệ ưu đãi về lãi suất và
thời hạn cho vay dài hạn, khối lượng vốn vay tương đối lớn, bao gồm trong
ODA cũng có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%.
b.Tín dụng thương mại quốc tế:
Là hình thức tín dụng phổ biến nhất trong quan hệ thưong mại quốc tế,
bao gồm mọi quan hệ cung ứng vốn cho nhau giữa các nhà tổ chức quốc tế trong
mọi lĩnh vực chủ yếu là quan hệ thương mại với điều kiện là hoàn trả trong thời
hạn nhất định cả vốn lẫn lãi.
c.Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDi):
Là hình thức trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý điều hành
quá trình quản lý và vận hành kết quả đầu tư.
3
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
d. Thị trường vốn quốc tế:
Là mạng lưới gồm các cá nhân, các công ty, các thể chế tổ chức và và các
chính phủ tiến hành đầu tư hay vay vốn vượt qua biên giới quốc gia.
Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ
các nguồn:
Vốn chủ sở hữu và tiền tiết kiệm của doanh nghiệp nhà nước.
Vốn vay
Tăng vốn cổ đông bằng cách phát hành cổ phiếu mới.
Tài trợ từ ngân sách của chính phủ.
b .Vốn từ khu vực tư nhân :
Nguồn vốn này đầu tư gián tiếp vào nền kinh tế qua thị trường đầu tư trực
tiếp vào các lĩnh vực: kinh doanh thương mại, dịch vụ, tài chính công. Quy mô
của nguồn vốn phụ thuộc vào các yếu tố:
Thu nhập cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã…
Tập quán tiêu dùng của dân cư.
Chính sách động viên của nhà nước.
c .Thị trường vốn : Cơ cấu thị trường vốn - thị trường tài chính:
Căn cứ vào phương thức sử dụng vốn từ người bán đến người mua phân ra:
Thị trường vốn trực tiếp ( thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán) là
thị trường mà việc chuyển vốn từ người có vốn sang người cần vốn được tiến hành
trực tiếp giữa hai bên không phải qua các tổ chức tài chính trung gian nào.
Thị trường vốn gián tiếp ( thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán)
là thị trường trong đó người có vốn và người cần vốn không có mối liên hệ trực
tiếp mà phải thông qua người thứ ba để giao dịch.
Thị trường tiền tệ:
Là nơi các nhà kinh doanh tiền tệ mua bán, vay mượn vốn lẫn nhau với lãi
suất và thời gian do các bên thoả thuận theo quy luật chung về các nguồn vốn
ngắn hạn và chứng khoán ngắn hạn.
Các thành viên trong thị trường tiền tệ gồm: kho bạc nhà nước, ngân hàng
trung ương, ngân hàng thương mại, người đầu tư, người môi giới và kinh doanh.
Có hai loại thị trường tiền tệ:
5
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
Tuy nhiên, quản điểm đầy đủ và rõ rhhhàng, phù hợp với sự phát triển
chung của TTCK hiện nay là: TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao
đổi các loại chứng khoán.
2. Bản chất:
Bản chất của thị trường chứng khoán: là thị trường thể hiện mối quan hệ
giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng
thông tin về chi phí vốn vay hay giá cả của vốn đầu tư. thị trường chứng khoán
là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
3. Cấu trúc của thị trường chứng khoán:
a. Phân loại theo hàng hoá:
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể
phân thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và
thị trường các công cụ dẫn suất.
Thị trường trái phiếu (Bond Markets) là thị trường mà hàng hoá được
mua bán tại đó là các trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc
phát hành các công cụ này là nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có
hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Người cho vay sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về
kết quả hoạt động sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát
hành phải có trách nhiệm hoàn trả cho các trái chủ theo các cam kết đã được xác
định trong hợp đồng vay. Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung
hay dài hạn.
Khác với thị trường nợ, thị trường cổ phiếu (Stock Markets) là nơi giao
dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Cổ
đông là chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của
mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của
công ty cũng như đối với tài sản của công ty, khi tài sản này được đem bán. Cổ
phiếu có thời gian đáo hạn là không xác định.
Thị trường các công cụ dẫn suất (Drivative Markets) là nơi các chứng
khoán phát sinh được mua và bán. Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng
điều kiện cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả. Sự di chuyển vốn đầu tư
trong nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế “ bàn tay vô hình”, cơ chế
8
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
xác định giá chứng khoán và thông qua hoạt động thâu tóm, sáp nhập doanh
nghiệp trên thị trường thứ cấp.
Thứ hai, thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá
các công ty.
Thứ ba, thông qua việc xác định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một
danh mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng
phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hành cũng như các nhà
đầu tư trên thị trường sơ cấp. Thông qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ được
chuyển tới những công ty nào làm ăn có hiệu quả nhất, qua đó làm tăng hiệu quả
kinh tế xã hội.
Tóm lại, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ
trợ lẫn nhau. Về bản chất, mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán sơ cấp và
thứ cấp là mối quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ
không có thị trường thứ cấp. Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải
tăng cường hoạt động huy động vốn trên thị trường sơ cấp, vì chỉ có tại thị
trường này, vốn mới thực sự vận động từ người tiết kiệm sang người đầu tư, còn
sự vận động vốn trên thị trường thứ cấp chỉ là tư bản giả, không tác động trực
tiếp tới việc tích tụ và tập trung vốn.
c. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường:
Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách sau:
Cách thứ nhất là tổ chức thành các Sở giao dịch (Stock Exchànge), tại
đây, người mua và người bán ( hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một
địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Chính
vì vậy, người ta còn gọi Sở giao dịch chứng khoán là thị trường tập trung, nơi
giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có
kho bạc.
- Công ty là chủ thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là các chủ thể phát hành các công cụ tài chính nh các
trái phiếu, chứng chỉ hởng thụ phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợp với
đặc thù hoạt động của họ theo Luật định.
10
Nguyn Hng Cm _ Lp u t 44b
4.2. Nhà đầu t :
Là những ngời có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng khoán trên thị tr-
ờng chứng khoán nhằm kiếm lợi nhuận. Nhà đầu t có thể chia thành 2 loại:
- Nhà đầu t cá nhân: là những ngời có vốn nhà rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi
tham gia thị trờng chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Nhà đầu t có tổ chức: là những tổ chức đầu t thờng xuyên mua bán chứng
khoán trên thị trờng với khối lợng thoả đáng nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận( ví
dụ nh các quỹ bảo hiểm, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, tổ chức tài
chính)
4.3. Công ty chứng khoán:
Làmột loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán với
các nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tụ doanh chứng khoán. quản lí danh
mục đầu t chứng khoán, tu vấn đầu t chứng khoán.
4.4. Các cơ quan quản lí nhà n ớc:
Cơ quan quản lí các hoạt động của thị trờng chứng khoán tại Việt Nam đó
là uỷ ban chứng khoán nhà nớc. Đây là cơ quan trực thuộc bộ tài chính, thực hiện
các chúc năng quản lí nhà nớc về chứng khoán và thị trờng chứng khoán.Uỷ ban
chứng khoán nhà nớc có các chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Chủ trì nghiên cứu xây dựng chiến lợc và kế hoạch phát triển thị trờng
chứng khoán Việt nam.
- Chủ trì xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật đề nghị cơ quan có
thẩm quyền ban hành
- Cấp và thu hồi các loại giấy phép có liên quan
b.Vai trò
Thứ nhất,TTCK với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao,có
thể tích tụ ,tập trung và phân phối vốn,chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc
phân phối vốn một cách có hiệu quả.Thực tế trên TTCK,tất cả các thông tin
được cập nhật và được truyền tải tới tất cả các nhà đầu tư,nhờ đó,họ có thể phân
12
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
tích và định giá cho các chứng khoán.Chỉ những công ty có hiệu quả bền vững
mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ trên thị trường
Thị trường chứng khoán tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường
tài chính, điều này buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phải
quan tâm tới hoạt động của chính họ và làm giảm chi phí tài chính
Việc huy động vốn trên TTCK có thể làm tăng vốn tự có của các công ty
và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát chặt chẽ
của các ngân hàng thương mại.TTCK khuyến khích tính cạnh tranh của các công
ty trên thị trường.Sự tồn tại của TTCK cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Đây chính là yếu tố đảm bảo cho sự phân phối nguồn lực
trong một quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế
Thứ hai,TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công băng hơn,thông
qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công
chúng,giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn song vấn tập
trung vốn cho phát triển kinh tế.Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã
hội,tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều
nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ.Việc giải toả tập trung
quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công băng hơn,qua đó tạo hiệu
quả và tăng trưởng kinh tế
Thứ ba,TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý
doanh nghiệp.Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên,môi trường kinh doanh trở
thức tín dụng linh hoạt , đa dạng hơn,có thể đáp ứng nhanh chóng những nhu
cầu về hiệu quả và thời gian lựa chọn
Thông qua TTCK,Chính phủ trung ương và chính quyền địa phương cũng
có thể huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trình của mình
bằng việc phát hành các loại chứng khoán nợ như trái phiếu,công trái…
2. Phát hành chứng khoán ra công chúng
a.Khái niệm:
Theo điều 3 nghị định 144/2003/NĐ-CP:Phát hành chứng khoán ra công
chúng là việc chào bán một đợt chứng khoán có thể chuyển nhượng được thông
qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành
14
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
Một doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân
theo pháp luật về chứng khoán và phải được các cơ quan quản lý nhà nước về
chứng khoán đồng ý cấp giấy phép.Sau khi phát hành trên thị trường sơ
cấp,chứng khoán sẽ được giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán khi đa đáp ứng
được các quy định về niêm yết chứng khoán của sở giao dịch chứng khoán.Tổ
chức phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo,
công bố thông tin công khai
Với phát hành cổ phiếu ra công chúng làm giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần của
cổ đông do cổ phiếu được bán cho rất nhiều nhà đầu tư,do đó mỗi nhà đầu tư sẽ
năm được một số chứng khoán nhất định vì thế quyền lãnh đạo công ty của các
cổ đông không hề bị ảnh hưởng
Với phát hành trái phiếu ra công chúng trên TTCK doanh nghiệp có thể huy
động được lượng vốn lớn mà không ảnh hưởng đến quyền kiểm soát của cổ đông
b. Đặc điểm
Phát hành chứng khoán ra công chúng mang tính chất mở,công khai,minh bạch
Tất cả mọi thông tin liên quan đến đơn vị phát hành,kết quả và hiệu quả
sản xuất kinh doanh những năm gần nhất,số lượng chứng khoán phát hành…Do
đặc điểm này mà một số doanh nghiệp còn chần chừ chưa muốn huy động vốn
phục tình trạng khan hiếm vốn và lãng phí trong sử dụng vốn,thúc đẩy nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của toàn xã hội
Phát hành chứng khoán thường phải đi kèm với tính minh bạch và công
khai của các đơn vị về tài chính nên tạo sức ép làm ăn có hiệu quả
Khi một doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động của mình kéo theo các
doanh nghiệp khác cạnh tranh lại cũng phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
Cuối cùng khi phát hành ra công chúng còn nâng cao khả năng tiếp
cận,vay vốn thuận lợi hơn,tất cả những nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân,của
các tổ chức kinh tế sẽ được huy động một cách đơn giản,nhanh chóng ,thay vì
phải huy động vốn theo cách truyền thống là qua các ngân hàng thương mại
Một điều quan trọng nữa là muốn niêm yết chứng khoán thì các doanh
nghiệp phải là công ty đại chúng ,có nghĩa là phải phát hành chứng khoán ra
công chúng,khi được niêm yết thì uy tín ,vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ
16
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
tăng lên,lòng tin của công chúng đối với doanh nghiệp tăng lên thì việc huy
động vốn nhanh chóng không còn là điều khó nữa
d) Điều kiện phát hành ra công chúng
Muốn phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn các doanh
nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn rất cao của cơ quan quản lí TTCK
và phải luôn theo rất nhiều thủ tục rất phức tạp trước và sau khi phát hành chứng
khoán ra công chúng. Vì vậy chứng khoán phát hành phải đảm bảo về chất
lượng. Mặt khác khi các DN làn đầu tiên phát hành trái phiếu ra công chúng thì
các thông tin của công ty chưa được nhiều công chúng biết đến nên cần phải có
những yêu cầu nghiêm ngặt để bù đắp sự về thiếu hụt thông tin đó.
d.1) Điều phát hành CP ra công chúng.
Theo điều 6 Nghị định 144/2003/NĐ_CP:
+Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát
hành cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam.
+Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi.
ra công chúng
+Bản cáo bạch
+ Danh sách và sơ yếu lý lịch của thành viên hội đồng quản trị: Ban giám
đốc, ban kiểm soát
+ Báo cáo tài chính của 2 năm gần nhất đã được kiểm toán
+Cam kết bảo lãnh phát hành nếu như có
Đơn vị phát hành sẽ được trả lời là được cấp hay từ chối hay được phép
phát hành kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ
*Phát hành chứng khoán ra công chúng
- Sau khi có giấy phép phát hành, đơn vị phát hành phải công bố
công khai các trên phương tiện thông tin đại chúng về đợt phát hành(5 ngày kể
từ ngày có giấy phép)
- Phân phối chứng khoán trong một thời hạn nhất định kể từ ngày cấp
giấy phép
- Sau khi hoàn tất phân phối chứng khoán, đơn vị phát hành,sau đó
báo cáo kết quả phát hành với uỷ ban chứng khoán nhà nước
18
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
- Trường hợp đơn vị phát hành đủ điều kiện để niêm yết chứng
khoán trên thị trường tập trung,doanh nghiệp làm đơn xin niêm yết lên uỷ ban
chứng khoán để hoàn tất thủ tục để niêm yết
3. Phát hành trái phiếu Chính phủ
Khác với việc phát hành cổ phiếu,trái phiếu doanh nghiệp,việc phát hành trái
phiếu Chính phủ không phải xin phép uỷ ban chứng khoán nhà nước,trái phiếu
Chính phủ có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi nợ,việc
phát hành trái phiếu Chính phủ phát hành theo đợt,bộ tài chính sẽ quyết định
phương thức phát hành, đối tượng phát hành,mức phát hành,mệnh giá,kỳ hạn…..
Trước mỗi đợt phát hành,bộ tài chính công bố những quy định phát hành
cụ thể trên các phương tiện thông tin đại chúng,riêng đối với trái phiếu đầu
tư,trái phiếu công trình, khi có nhu cầu huy động vốn để tài trợ cho các dự án
kinh tế, chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,trên cơ
sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới,Việt
Nam thiết lập,vận hành và phát triển TTCK
Việc thành lập TTCK Việt nam là một đòi hỏi tất yếu trong tiến trình xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí của
nhà nước.
Tính tất yếu của sự ra đời TTCK được thể hiện trước hết ở chỗ: theo kinh
nghiệm của các nước đi trước trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường, thì hầu
hết các nước như Anh, Pháp, Mĩ, hoặc gần đây là các nước như Nhật, Thái Lan,
Hàn Quốc… đều khởi đầu bằng việc xây dựng mô hình TTCK với biểu hiện cụ
thể là TTGDTT. Việt Nam là nước đang tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi
trước, hơn nữa chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường, vì vậy tạo lập
TTCK là không thể không làm. Do đó yêu cầu về một TTGDTT là đương nhiên.
Bên cạnh đó, đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, để đạt
được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra, ngoài sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước
và toàn dân thì nguồn vốn đầu tư là một yếu tố không thể thiếu trong sự nghiệp
20
Nguyễn Hồng Cẩm _ Lớp đầu tư 44b
phát triển kinh tế của đất nước. TTCK với vai trò là một kênh huy động vốn
trung và dài hạn, có thể coi là một nguồn cung cấp vốn hiện tại tuy không lớn,
nhưng cũng rất đáng kể, và có triển vọng đối với nền kinh tế nước ta.
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đang chịu ảnh hưởng lớn
của lạm phát, gây những tác động tiêu cực tới toàn bộ đời sống kinh tế. Nguyên
nhân chính gây nên tình trạng lạm phát là do chính phủ phát hành thêm lượng
tiền mặt ra công chúng để trang trải cho những khoản chi phí. Với TTCK, chính
phủ có thể có thêm nguồn thu mà không cần phải phát hành thêm tiền mặt. Do
đó, tính tất yếu của TTCK được thể hiện ở chỗ, đối với những nước đang phải
đối mặt với lạm phát như Việt Nam thì sự ra đời của TTCK là một giải pháp
nhằm hạn chế lạm phát, tạo sự ổn định cho nền kinh tế nước ta.
Xét trên một khía cạnh khác, xây dựng TTCK là một giải pháp hữu hiệu
Đây là năm khởi đầu cho hoạt động của TTCK,với điểm khởi đầu đầy
khó khăn như vậy,nhưng kết quả đạt được cũng phần nào nói lên nỗ lực và tiềm
năng của TTCK VN
Đến năm 2002,một sự kiện nổi bật là vào phiên 218 ngày 2/1/2002 thời
gian thanh toán tiền và chứng khoán sau giao dịch đã đựơc rút ngắn từ T+4
xuống còn T+3 sau hơn 1 năm đi vào hoạt động.Việc rút ngắn thời gian thanh
toán đã làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu, từ đó gia tăng khối lượng giao
dịch, đồng thời có tác động tích cực tới hoạt động của TTCK
Đến năm 2003,sau hơn 3 năm hoạt động, TTCK đã huy động được một
lượng vốn nhất định cho ngân sách, thông qua đấu thầu và bảo lãnh phát hành
trên 5.400 tỷ đồng TPCP, trái phiếu quỹ hỗ trợ phát triển để niêm yết trên thị
trường. Đã mở ra một TTCK theo mô hình tập trung với quy mô nhỏ. Hoạt động
của TTCK mặc dù chưa phát triển như mong muốn, song bước đầu đã đựơc
triển khai khá suôn sẻ, không gây ra những biến động lớn hoăc tác động tiêu cực
đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước
Đến năm 2004,theo báo cáo tổng kết thị trường của UBCKNN ,giá trị chứng
khoán niêm yết gia tăng đạt gần 12.500 tỷ đồng, tăng 93.4% so với năm 2003. Chỉ
22
Nguyn Hng Cm _ Lp u t 44b
s VN-index tng 72,35 im trong nm 2004 a tng giỏ tr th trng c phiu
ti thi im cui nm t hn 3.700 t ng, cha ti 0.6% giỏ tr GDP.
Nm 2005, sau hn 5 nm hot ng TTCK VN ó t c nhng kt
qu ỏng mng, hot ng ca cỏc cụng ty niờm yt tng trng tt, phng
thc qun tr cụng ty c ci thin ỏng k, thc hin tt ch kim toỏn v
cụng b thụng tin. n nay,trờn th trng ó cú 29 loi c phiu v 240 loi trỏi
phiu c niờm yt vi tng giỏ tr niờm yt trờn 30.000 t ng. V nh ch
trung gian, n nay ó cú 13 CtyCK, 4 cụng ty qun lý qu,5 ngõn hng lu ký,1
ngõn hng ch nh thanh toỏn. V s lng cỏc nh u t, hin ti ó cú trờn
24.000 ti khon giao dch ti TTGDCK,tng 7 ln so vi nm 2000
II.Thực trạng huy động vốn cho đầu t qua thị tr ờng chứng khoán
cũng tạo điều kiện để các hoạt động mua bán cổ phiếu trên thị trờng không chính
thức diễn ra thờng xuyên hơn với hơn 100 loại cổ phiếu, trong đó có những tên tuổi
nh: Vinamilk, giống cây trồng Miền Nam, Dầu Tờng An,
Sự tăng trởng của TTCK chính thức cùng với chủ trơng và nỗ lực đẩy mạnh
tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc của Chính phủ đã thu hút công
chúng đầu t tham gia mua chứng khoán tại các đợt đấu giá cổ phần của các doanh
nghiệp Nhà nớc, tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, làm
lợi cho ngân sách Nhà nớc hàng chục tỷ đồng.
B1.Kết quả giao dịch toàn thị trờng từ 28/7/2000 đến 30/6/2005
Mó CK
Ton th
trng
C phiu Chng ch qu Trỏi phiu
Tng s phiờn trong k
Tng khi Khp lnh 169.572.820 159.763.060 9.565.910 243.85
lng giao Tho thun 314.102.108 25.735.573 1.092.270 287.274.265
dch Tng cng 483.674.928 185.498.633 10.658.180 287.518.115
Tng giỏ Khp lnh 4.555.678 4.445.036 87.276 23.366
tr giao Tho thun 30.555.152 708.529 . 93.88 29.836.743
dch Tng cng 35.110.830 5.135.565 97.156 29.860.109
(Ngun s liu -Chng khoỏn Vit Nam,s 7/2005)
*Chủ thể tham gia trên thị trờng chứng khoán ngày càng đa dạng
24
Nguyn Hng Cm _ Lp u t 44b
Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c và của các tổ chức kinh tế đợc đầu t thông
qua TTCK. Bên cạnh các nhà đầu t cá nhân, các nhà đầu t trong nớc, đã có sự
tham gia ngày càng mạnh mẽ của các nhà đầu t có tổ chức, các nhà ĐTNN, đặc
biệt là các quỹ đầu t chứng khoán lớn nh: VEIL, PXP Fund, VF1 Và sắp tới là
các quỹ đầu t của các doanh nghiệp bảo hiểm. Đây là nguồn vốn lớn cần thiết cho