Giải pháp về quản lý tài chính công trong tiến trình đổi mới và thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay. - Pdf 32

Tài chính tư
Tài chính nhà nước
Tài chính doanh nghiệp
Tài chính các tổ chức xã hội
Tài chính công
Quốc hội
Chính Phủ
HĐND,UBND, cấp tỉnh
Bộ tài chính
Các bộ ngành
Kho bạc NN
Kho bạc NN
Cục Đầu Tư
Cục QL vốn
Cục thuế
Tổng cục thuế
TổngcụcQLvốn
T.cục ĐTPT
HĐND, UBND cấp huyện
T.C Hải quanCục Hải quanCục DTrữ QGChi cục DTQGHĐND, UBND cấp xã Các đơn vị dự toán NSN/S Trung ương
N/S
cấp xã
N/S cấp huyện
N/S
cấp tỉnh
N/S địa phương
Ngân sách nhà nước
Cộng hoà XHCN
Việt Nam
Thanh tra nhà nước
(Bộ phận thanh tra tài chính)

Tạp chí
Kiểm toán
Kiểm toán - Ngân sách quốc phòng
Chương - Ngân sách an ninh
trình - NS các đối tượng đặc biệt
đặc biệt - Hoạt động SX_KD dịch vụ
Phòng
Hành chính
Phòng
Quản trị
Các tổ chức - Kiểm toán ngân sách nhà nước
KTNN - Kiểm toán đầu tư XDCB
Khu vực - Kiểm toán DNNN
- Văn phòng kiểm toán
N/S Trung ương
N/S
cấp xã
N/S cấp huyện
N/S
cấp tỉnh
N/S địa phương
Ngân sách nhà nước
Cộng hoà XHCN
Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU.
Tài chính công gắn liền với hoạt động của nhà nước. Nó vừa là nguồn lực
để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình , vừa là công cụ để thực hiện
các dịch vụ công, chi phối , điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất nước.
Trong tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và
nhà nước ta coi đổi mới quản lý tài chính công là một trong những nội dung

1/ Khái quát chung về tài chính công và quản lý tài chính công.
1.1/ Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1/Khái niệm về tài chính
Tài chính là phạm trù kinh tế . Sự ra đời và phát triển của tài chính gắn
liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ. Trong sự
phát triển của nền văn minh nhân loại qua các thời đại, tài chính luôn có vị trí
đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội ở tất cả các quốc gia với
bất kỳ chế độ chính trị xã hội nào.
Với sự phát triển của xã hội loài người thì sự phát triển của phân công lao
động xã hội , sản xuất và trao đổi hàng hoá phát sinh ra tiền tệ, từ đây tiền tệ
trở thành thước đo chung cho tất cả các hoạt động kinh tế trong đời sống xã
hội và tạo nên cuôc cách mạng trong quan hệ phân phối trao đổi sản phẩm
hàng hoá. Từ phân phối trao đổi bằng hiện vật (phi tài chính) sang phân phối
trao đổi bằng giá trị quy ước(tài chính) và từ đây tài chính ra đời và phát triển.
Tài chính còn là một phạm trù giá trị tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá ,
là khái niệm dùng để chỉ những quan hệ kinh tế nẩy sinh trong phân phối và
chi dùng những của cải bằng tiền giữa con người với nhau , bao gồm quan hệ
giữa pháp nhân với pháp nhân , quan hệ giữa pháp nhân với thể nhân , thể
nhân với thể nhân.
Các quan hệ tài chính nảy sinh cả trong hoạt động của nhà nước , hoạt
động của các tổ chức xã hội, của dân cư, của các doanh nghiệp. Những đặc
điểm cơ bản của quan hệ này bao giờ cũng gắn liền với việc thành lập và sử
dụng các quỹ tiền tệ nhất định.Tài chính xuất hiện trên cơ sở sự vận động của
tiền tệ, quan hệ tiền hàng của nền sản xuất hàng hoá.
Theo nghĩa rộng trong kinh tế chính trị học , tài chính là tổng thể các quan
hệ tiền tệ trong phân phối dưới hình thức giá trị , hình thành các quỹ tiền tệ .
Tài chính biểu hiện tổng hợp giá trị tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu ding trong
xã hội. Phạm trù tài chính rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực: ngân sách nhà
nước, lưu thông tiền tệ – tín dụng ngân hàng, bảo hiểm, tài chính doanh
nghiệp, tư nhân… Vì vậy tài chính có vai trò to lớn đối với toàn bộ hoạt động

xuất hiện.
Vậy trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì có thể
hiểu thài chính nhà nước hay tài chính công như sau: Tài chính nhà nước
được đặc trưng bằng sự phân phối và phân phối lại của cảI xã hội ( trong đó
chủ yếu là sản phẩm thặng dư), mà nhà nước là chủ thể , để tạo lập và sử dụng
các quỹ tiền tệ của nhà nước , nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội
của nhà nước.
Các bộ phận của tài chính nhà nước :
- Ngân sách nhà nước ;
- Ngân hàng nhà nước trung ương;
- Dự trữ nhà nước;
- Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước;
- Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nứơc;
- Tài chính các doanh nghiệp nhà nước.
Tài chính công là một bộ phận và là bộ phận quan trọng nhất của tài chính
nhà nước. Nói cách khác tài chính công là một bọ phận của tài chính nhà
nước gắn liền với các hoạt động thuộc chức năng quản lý , điều hành , phục
vụ của nhà nước. Trong các nội dung nêu trên của tài chính nhà nước thì tài
chính công hầu như bao quát toàn bộ các bộ phận cấu thành của tài chính nhà
nước chỉ trừ tài chính của doanh nghiệp nhà nước. Tài chính công khác với tài
chính nhà nước ở hai điểm sau đây:
- Tài chính công không gắn với các hoạt động mang tính kinh doanh thu lợi
nhuận, còn tài chính nhà nước thì bao gồm cả các hoạt động kinh doanh thu
lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước.
- Tài chính công gắn với nhiệm vụ chi tiêu phuc vụ việc thưc hiện các chức
năng vốn có của nhà nước, còn tài chính nhà nước thì còn bao gồm cả các
hoạt động chi tiêu phục vụ việc cung ứng những hàng hoá và dịch vụ thông
thường tại các doanh nghiệp nhà nước.
Vậy tài chính công là thuật ngữ ding để chỉ “ Các hoạt động thu chi bằng tiền
củ nhà nước , phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị

hội, quốc phòng, an ninh của đất nước…Do đó quốc hội là cơ quan cao
nhất của nhà nước quyết định chính sách tiền tệ quốc gia, quyết định dự
toán ngân sách nhà nướcvới tổng số và cơ cấu thu chi…
- Về cơ bản , các khoản thu của nhà nước mang tính chất không bồi hoàn
và bắt buộc như : thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập
khẩu…
- Các khoản vay nợ tuy không thuộc sở hữu của nhà nước nhưng trong
thời gian cò trong tay nhà nước việc sử dụng nó hoàn toàn do nhà nước
quyết định, và nhà nước phai có trách nhiệm trả đầy đủ đúng hạn.
- Các quỹ tài chính công ngoài ngân sách có thể được hình thành nên
một phần từ ngân sách nhà nước, một phần là vốn góp của các tổ chức
kinh tế xã hội, cá nhân, hộ gia đình nhưng quyết định thành lập và sử
dụng vẫn là nhà nước.
- Để phục vụcho việc thực hiện các chức năng của mình nhà nươc có thể
thực hiện chi tiêu tài chính công bằng phương pháp cấp phát (không bồi
hoàn) hoặc cho vay (có ưu đãi).
Nhận thức đầy đủ đặc điểm về tính chủ thể của tài chính côngcó ý nghĩa
quan trọng trong việc đảm bảo quyền lãnh đạo tập trung thống nhất của nhà
nước.
+/Thứ ba, đặc điểm về tính công cộng của tài chính công , được thể hiện ở
những điểm sau:
- Mục đích của tài chính công là để phục vụ cho việc thực hiện các chức
năng kinh tế xã hội của nhà nước.
- Thu nhập của tài chính công có thể đượ lấy từ nhiều nguồn khác nhau ,
từ mọi lĩnh vực hoạt động, từ mọi chủ thể kinh tế xã hội, ở trong nước
và cả từ nước ngoài.
- Chi tiêu của tài chính công chủ yếu tập trung cho xây dung cơ sở hạ
tầng kinh tế xã hội, đầu tư cho một số ngành mũi nhọn, những công
trình quan trọng có vai trò lớn trong phát triển kinh tế ; thự hiện chiến
lược phát triển con người …

công phát huy chức năng này trong giói hạn hình thành, phân bổ và sử dụng
các quỹ công đăc biệt là thu chi của ngân sách nhà nước. Nó xuất phát từ yêu
cầu của quy luật tiết kiệm. Theo đó tài chính công phải được sử dụng một
cách hợp lý và có hiệu quả. Mục tiêu của kiểm tra tài chính là nhằm lành
mạnh hoá tình hình tài chính.
Các chức năng của tài chính công là một thể thông nhất không chia cắt.
Chúng cùng phát huy tác dụng trong phân phối ,phân bổ và sử dụng các
nguồn lực tài chính công . Qua đó phát huy triệt để hiệu lực, hiệu quả của tài
chính công.
1.1.5/Vai trò của tài chính công.
+/Vai trò của tài chính công trong huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo
tăng trưởng kinh tế thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
+/Vai trò của tài chính công trong điều chỉnh kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô và
khuyến khích kinh tế vi mô phát triển.
+/Vai trò của tài chính công trong việc đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động
của bộ máy nhà nước.
+/Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân.
+/Vai trò của tài chính nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế –
xã hội của nhà nước.
1.2/ Lý luận chung về quản lý tài chính công.
1.2.1/ Sự cần thiết quản lý tài chính công.
Quản lý là quá trình chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo, tác động , kiểm
tra, điều chỉnh của chủ thể quản lý đến đối tượng, khách thể quản lý nhằm
làm cho đối tượngquản lý vận động theo ý đồ của của chủ thể quản lý…Quan
hệ chủ thể và đối tượng quản lý trong tài chính công được xác định:
- Nhà nước là chủ thể quản lý. Tuỳ theo tổ chức bộ máy của nền hành
chính tong quốc gia, mỗi nước có cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý
tài chính công phù hợp.
- Đối tượng quản lý là tài chính công.
Như vậy quản lý tài chính công là quá trình tác động, điều chỉnh của nhà

+Quan hệ tài chính công phản ánh quan hệ gữa nhà nước và các chủ thể có
liên quan
1.2.2/Đặc điểm của quản lý tài chính công
Đặc điểm của quản lý tài chính công tạo nên các yếu tố tác động đến hệ thống
phương thức và công cụ cũng như hiệu quả quản lý tài chính công. Trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tài chính công có những
đăc điểm chủ yếu sau:
+ Tài chính công được quản lý bằng pháp luật và theo kế hoạchu.
+ Quản lý tài chính công đặc biệt coi trọng biện pháp tổ chức – hành chính.
+ Quản lý tài chính công là sự quản lý kết hợp yếu tố con người và yếu tố tài
chính.
+ Quản lý tài chính công phải bảo đảm sự thống nhất giữa mặt giá trị và hiện
vật(giá trị sử dụng).
1.2.3/ Quan điểm, mục tiêu, phương hướng quản lý tài chính công.
a/ Quan điểm : Tài chính công là tài sản quốc gia, là tiềm lực vật chất có vai
trò quyết định chi phối đến hiệu lực hiệu quả việc thực hiện chức năng quản
lý nhà nước đối với xã hội. Do đó quản lý tài chính công phảI quán triệt các
quan điểm sau:
+ Quan điểm phục vụ chính trị.
+ Quan điểm thúc đẩy phát triển kinh tế , ổn định xã hội.
+ Quan điểm phát huy nội lực.
+ Quan điểm tiết kiệm.
b/ Mục tiêu của quản lý tài chính công.
+ Làm cho bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả,
đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của tổ chức và công dân.
+ Tạo động lực khuyến khích các cơ quan hành chính và sự nghiệp tích cực
chủ động tự xác định số biênh chế cần có…tổ chức và phân công lao động
hợp lý, nâng cao chất lượng công việc, sử dụng kinh phí có hiệu quả cao, hạn
chế những đòi hỏi về tăng biên chế và chi phí hành chính.
+ Nâng cao ý thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí và tăng

- Ngân sách nhà nước
- Dự trữ nhà nước
- Tín dung nhà nước;
- Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước;
- Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước…
Hoạt động tài chính công là hoạt động thu chi của các bộ phận, các quỹ
trong hệ thống tài chính công. Quản lý tài chính công là quản lý quá trình thu
chi và bảo đảm sự cân đối thu chi tài chính công của nhà nước. Như vậy nội
dung của quản lý tài chính công bao gồm:
- Quản lý quá trình thu của nhà nước;
- Quản lý quá trình chi của nhà nước;
- Quản lý cân đối thu chi tài chinh công.
b/Hệ thống công cụ quản lý tài chính công.
+ Hệ thống pháp luật. Nó bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến tài
chính công. Nó quy định các điều kiện chuẩn mực pháp lý cho hoạt động tài
chính công. Hệ thống pháp luật cần được đổi mới thường xuyên cho phù hợp
với điều kiện phát triển của nền kinh tế xã hội đất nước trong tong giai đoạn.
+ Công tác kế hoạch hoá. Công cụ kế hoạch hoá có vị trí quan trọng đặc biệt
trong quản lý tài chính công.
+ Hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm kích thích việc khai thác
nguồn thu đồng thời bảo đảm chi được thực hiện một cách tiết kiệm.
+ Hệ thống thanh tra, kiểm tra, kế toán, kiểm toán. Hệ thống này cho phếp
chủ động ngăn ngừa tiêu cực …
+ Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý tài chính công. Tổ chức và con người bao
giờ cũng là công cụ quan trọng trong quản lý. Hệ thống mà chặt chẽ gọn gàng
sẽ cho phép phối hợp nhip nhàng trong quản lý, năng lực cán bộ là yếu tố
quyết định trong quản lý nói chung cũng như trong quản lý tài chính công.
Trong quản lý công, hệ thống các công cụ trên phảI đồng bộ và được vận
dụng một cách tổng hợp tạo nên sự bổ sung, kết hợp hài hoà không được coi
nhẹ công cụ nào. Đó là cơ sở nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý tài chính

- Các bộ, ngành(cơ quan ngang bộ và cơ quan trực thuộc chính phủ).
- Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp
- Các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước.
Hệ thống tổ chức trên được thể hiện qua sơ đồ sau:
( Theo Văn bản pháp luật quản lý tài chính trong cơ quan hành chính sự
nghiệp 2000-2001/ Nhà xuất bản chính trị quốc gia-2001).
2/ Nội dung của Quản lý tài chính công trong tiến trình đổi mới
và thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia.
2.1/ Quản lý ngân sách nhà nước.
2.1.1/ Tổng quan về ngân sách nhà nước
a/ Khái niệm về ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính
được huy động cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằm bảo
đảm thực hiện chức năng của nhà nước do Hiến pháp quy định. Đó là nguồn
tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia. Ngân
sách nhà nước là tiềm lực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính của nhà
nước. Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước có tác động chi phối trực tiếp
đến các hoạt động khác trong nền kinh tế.
Theo Luật Ngân sách nhà nước của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành ngày 30/3/1996 thì “ ngân sách nhà nước là toàn bộ các
khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có them
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm, để bảo đảm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.
b/ Vai trò của ngân sách nhà nước.
+ Vai trò của ngân sách nhà nước trong phân phối tổng sản phẩm xã hội. Điều
này được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
- Xác định một cách khoa học, đặt ra một tỷ lệ huy đọng tổng sản phẩm
xã hội vào ngân sách nhà nước, lấy đó làm căn cứ điều chỉnh quan hệ
hà nước với doanh nghiệp và dân cư trong phân phối tổng sản phẩm xã
hội.

Đối với Việt Nam, ngày 20/3/1996 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật ngân sách nhà nước, hệ thống ngân sách
nhà nước ta bao gồm 4 cấp : Ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh, ngân
sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Điều này được khái quát bằng sơ đồ sau.
Sơ đồ: Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam

2.1.2/Nội dung của ngân sách nhà nước.
a/ Thu ngân sách nhà nước.
Về mặt pháp lý, thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản tiền nhà
nước huy động vào ngân sách nhà nước để thoả mãn nhu cầu chi tiêu của nhà
nước. Về thực chất thì thu ngân sách nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền
được huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn
trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Phần lớn các khoản thu ngân sách nhà nước
đều mang tính chất cưỡng bức, phần còn lại là các nguồn thu khác của nhà
nước(thu ngoài thuế).
Về bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tế
giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các
nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm
thoả mãn các nhu cầuchi tiêu của nhà nước.
* Cơ cấu thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam.
Theo Luật ngân sách nhà nước ban hành ngày20-3-1996 và sửa đổi ban
hành 2001, thì thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam bao gồm:
1. Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức cá nhân nộp theo quy định của pháp
luật.
2. Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước;
3. Thu từ hoạt động sự nghiệp;
4. Thu hồi quỹ dự trữ nhà nước;
5. Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích;
6. Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở;

5. Chi trả nợ nước ngoài
6. Chi viện trợ nước ngoài.
7. Chi bổ xung quỹ dự trữ tài chính
8. Chi khác.
Các khoản chi trên đây được phân loại theo:
- Chi thường xuyên: gồm chi cho sự nghiệp giáo dục,đào tạo, y tế,... quốc
phòng an ninh, hoạt động của nhà nước, Đảng Cộng sản, các tổ chức chính trị,
trợ giá theo chính sách của nhà nước, các chương trình quốc gia, hỗ trợ bảo
hiểm xã hội, trả tiền lãi do nhà nước vay, chi viện trợ, chi khác.
- Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kêt cấu hạ tầng kinh tế
xã hội; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần,
liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết; chi cho quỹ hỗ
trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình, dự
án phát triển kinh tế; chi co dự trữ nhà nước.
- Chi trả nợ do chính phủ vay.
- Chi bổ xung quỹ dự trữ tài chính.
c/ Cân đối ngân sách nhà nước.
Trong điều kiện đổi mới hiện nay, thì ngân sách nhà nước được cân đối
theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi
thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển.
Trường hợp bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến
tới cân bằng thu chi ngân sách.
Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc: tổng số chi không
vượt quá tổng số thu, trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách
cấp tỉnh bảo đảm mà vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh thì
được phép huy động vốn đầu tư trong nước theo quyết định của thủ tướng
chính phủ và phải cân đối ngân sách cấp tỉnh để chủ động trả hết nợ khi đến
hạn.
Dự toán chi ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa

ngân sách nhà nước và sử dụng có hiệu quả đáp ứng với chức năng nhiệm vụ
quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
+ Các quan điểm trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.
Nhằm thực hiện các mục tiêu phải có các quan điểm phù hợp. Sau đây là
một số quan điểm trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước:
Thứ nhất, tập trung thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước.
Thứ hai, ngân sách nhà nước phải là công cụ thúc đẩy sản xuất, bồi dưỡng
các nguồn thu, phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển tạo nguồn thu
mới ngày càng cao.
Thứ ba, bảo đảm nguồn thu ngân sách các cấp tương xứng với nhiệm vụ chi
mà các cấp ngân sách được giao, phát huy năng động, chủ động các cấp ngân
sách địa phương.
Thứ tư, mở rộng vai trò ngân sách nhà nước trong phân phối sản phẩm xã
hội, phát huy vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước.
Thứ năm, quản lý ngân sách nhà nước phải phù hợp với kinh tế thị trường,
vừa chủ động điều tiết kinh tế thị trường vừa giải quyết các vấn đề kinh tế xã
hội.
Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ mối quan hệ giữa quản lý chi ngân sách theo
ngành và theo cấp địa phương.
Thứ bảy, quản lý ngân sách nhà nước bằng pháp luật.
Các quan điểm trên đây là một hệ thống thống nhất, cần phải nắm vững để
quản lý ngân sách nhà nước có hiệu quả.

Trích đoạn Kiểm toán tài chính công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status