LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước đang phát triển, chúng ta thực hiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước với nền kinh tế xuất phát điểm ở trình độ và quy
mô thấp: nền sản xuất dựa vào nông nghiệp là chính, trình độ khoa học công
nghệ lạc hậu, thu nhập quốc dân (GDP) bình quân đầu người thấp, tích luỹ từ
nội bộ nền kinh tế gần như không đáng kể. Với thực trạng đó, một trong
những khó khăn lớn nhất đặt ra cho tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nước ta là vấn đề vốn đầu tư. Vốn đầu tư được huy động từ hai nguồn là vốn
trong nước và vốn ngoài nước. Đối với một nước đang phát triển như Việt
Nam thì tích luỹ nội bộ thấp do đó nguồn vốn trong nước không thể đảm bảo
nhu cầu về vốn đầu tư. Do đó việc huy động vốn nước ngoài là rất quan trọng.
Nguồn vốn nước ngoài có hai loại: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Trong đó nguồn vốn ODA là
khoản tài chính do các tổ chức quốc tế, các chính phủ viện trợ dưới dạng viện
trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi để giúp các nước đang phát triển khôi
phục và phát triển kinh tế.
Nguồn vốn ODA có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của các nước đang phát triển. Nó góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng , cải
thiện thể chế, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng, xoá đói
giảm nghèo… Nguồn vốn ODA không chỉ là nguồn lực bổ sung cho quá trình
phát triển và là chất xúc tác để tranh thủ các nguồn vốn khác mà đồng thời
thông qua đó tranh thủ công nghệ, kinh nghiệm quản lý để phát triển kinh tế
và cũng cố vị thế chính trị.
Trong thời gian qua Việt Nam nhận được một khối lượng lớn vốn ODA
do cộng đồng quốc tế viện trợ. Trong số các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam
thì EU là nhà tài trợ song phương lớn nhất với quy mô cam kết chiếm khoảng
Sinh viên thực hiện: Phạm Tiến Chung KTPT – K47A
hơn 20% tổng vốn ODA mà cộng đồng tài trợ quốc tế cam kết cho Việt Nam.
ODA EU giành cho Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các
chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát triển từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia,
một địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và
cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền
hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết''
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organnization of
Economic Cooperation and Development): '' ODA là những nguồn tài chính
do các chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia viện trợ
cho một quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi của quốc gia
đó''
Theo Nghị định 17/CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ Việt Nam: '' ODA
là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ của một quốc
gia với nhà tài trợ, bao gồm chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên chính
phủ hoặc liên quốc gia dưới hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc vốn vay
ưu đãi có yếu tố cho không đạt tối đa 25%''
Sinh viên thực hiện: Phạm Tiến Chung KTPT – K47A
Như vậy bản chất của ODA hiểu theo cách chung nhất ODA là nguồn hỗ
trợ phát triển ( tiền, công nghệ, vật chất, tư vấn…) của các nước phát triển,
các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia
giành cho các nước đang phát triển nhằm giúp các nước này tăng trưởng kinh
tế và phát triển bền vững. Theo cách tiếp cận này các khoản ODA sẽ bao gồm
ODA song phương và ODA đa phương và được cung cấp dưới nhiều hình
thức: ODA không hoàn lại hoặc ODA cho vay ưu đãi. Việc cung cấp ODA
được thực hiện thông qua các hình thức khác nhau như: tài trợ bằng ngoại tệ,
hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ để thực hiện các chương trình, dự án hoặc
các hình thức khác như hợp tác kỹ thụât, chuyển giao công nghệ, các chương
trình đào tạo, các khoá học dài hạn và ngắn hạn.
2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA từ EU vào Việt Nam.
2.1. Đặc điểm của nguồn vốn ODA.
2.1.1.ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển.
ODA luôn gắn liền với mục tiêu kinh tế, chính trị và các nhân tố xã hội.
Các nước viện trợ sử dụng ODA là công cụ đa năng về kinh tế - chính trị.
Về mặt kinh tế thì các nhà viện trợ khi thực hiện viện trợ đều muốn đem
lại lợi nhuận cho hàng hoá và dịch vụ cho nước mình, họ gắn viện trợ với việc
mua hàng hoá và dịch vụ của nước họ như là một biện pháp để tăng cường
khả năng làm chủ thị trường xuất khẩu. Ví dụ: Canada yêu cầu tới 65% viện
trợ phải mua hàng hoá của họ, Đức yêu cầu khoảng 50%, Thuỵ Sĩ chỉ yêu cầu
1,7%. Các nước viện trợ ODA với mục đích mở mang thị trường tiêu thụ sản
phẩm và thị trường đầu tư đem lại lợi nhuận cho nước mình. Ngay cả viện trợ
cho không cũng đem lại lợi ích lâu dài cho bên viện trợ. Ví dụ: viện trợ dưới
hình thức hỗ trợ kỹ thuật công nghệ với những trang thiết bị mà thiết bị của
nước khác không thể thay thế được thì buộc nước tiếp nhận phải phụ thuộc
Sinh viên thực hiện: Phạm Tiến Chung KTPT – K47A
lâu dài vào nước viện trợ. Ngoài ra thì nước tiếp nhận còn phải chịu rủi ro của
đồng tiền viện trợ, vì nước nhân viện trợ không được quyền lựa chọn đồng
tiền để vay ODA do vậy mà khi đồng tiền viện trợ tăng giá thì các nước tiếp
nhận viện trợ khi trả nợ thì phải trả thêm một khoản do chênh lệch tỷ giá tại
thời điểm vay và thời điểm trả nợ. Do vậy mà ODA không chỉ đem lại lợi ích
cho các nước tiếp nhận mà còn đem lại lợi ích cho nước viện trợ. Ví dụ: Nhật
Bản là nhà cung cấp ODA hàng đầu thế giới. Trong những năm cuối thập kỷ
90, khi phải đối phó với những suy thoái nặng nề trong khu vực. Nhật Bản đã
quyết định trợ giúp tài chính rất lớn cho các nước Đông Nam Á, vì đó là nơi
chiếm tỷ trọng tương đối lớn về mậu dịch và đầu tư của Nhật Bản. Trong
khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 Nhật Bản đã trợ giúp 15 tỷ USD tiền
mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn chủ yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồng
yên, dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3
năm. Các khoản trợ giúp nói trên được thực hiện rõ ràng không phải chỉ nhằm
giúp trỡ các nước Đông Nam Á vượt qua khủng hoảng mà thực sự vì lợi ích
của Nhật Bản. Vì khi đi kèm với các khoản vay đó là các điều kiện mà Nhật
nhận viện trợ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ,
không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ
trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi.
2.2. Phân loại ODA
2.2.1 Phân theo tính chất
a.Viện trợ không hoàn lại
Bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên tiếp nhận không phải hoàn
trả) để bên tiếp nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận
trước giữa các bên, có thể coi viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu
Sinh viên thực hiện: Phạm Tiến Chung KTPT – K47A
ngân sách nhà nước; được sử dụng theo hình thức nhà nước cấp phát lại cho
các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Viện trợ không hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho những chương trình và
dự án thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội như: y tế, dân số, kế hoạch hoá gia đình;
giáo dục, đào tạo; các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, phát triển nông
thôn và miền núi, cấp nước sinh hoạt.. hoặc hỗ trợ cho việc nghiên cứu các
chương trình, dự án phát triển và tăng cường năng lực thể chế, bảo vệ môi
sinh, quản lý đô thị, nghiên cứu khoa học và công nghệ… Ngoài ra ODA
không hoàn lại còn hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất trong trường hợp đặc
biệt, trước hếtlà đối với các dự án góp phần tạo việc làm, giải quyết các vấn
đề xã hội.
Viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới hai dạng:
- Hỗ trợ kỹ thuật: chuyển giao công nghệ, truyền đạt những kinh nghiệm
xử lý, bí quyết kỹ thuật cho nước nhận ODA.
-Hỗ trợ các dự án đầu tư: thường tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng
kinh tế -xã hôi.
- Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: như thuốc chữa bệnh, lương thực,
vải…Trường hợp này xảy ra khi một nước gặp khó khăn như thiên tai, lũ lụt
ODA song phương là nguồn vốn chuyển trực tiếp giữa hai chính phủ
nên thủ tục tiến hành cung cấp và tiếp nhận đơn giản và thời gian ký kết viện
trợ cũng nhanh hơn. Viện trợ song phương thường có điều kiện ràng buộc khi
cho vay chẳng hạn bên viện trợ sẽ đảm nhận việc đào tao chuyên gia, cố vấn
các vấn đề liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng vốn vay cho các nước
nhận ngược lại nước tiếp nhận viện trợ phải mua máy móc, hàng hóa của
nước viện trợ.
b. ODA đa phương
Sinh viên thực hiện: Phạm Tiến Chung KTPT – K47A
Là viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc tế (IMF, ADB,
WB…)hay tổ chức khu vực hay của một chính phủ dành cho một chính phủ
khác thông qua các tổ chức đa phương như UNICEF(quỹ nhi đồng Liên Hiệp
Quốc) UNDP (chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc).
Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
+ Ngân hàng thế giới-WB
+ Quỹ tiền tệ quốc tế- IMF
+ Ngân hàng phát triển Châu Á- ADB
+ Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc như: chương trình phát
triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), tổ chức y tế Thế Giới (WHO), chương trình
lương thực Thế Giới (FAO), quỹ nhi đồng LHQ, quỹ dân số LHQ…
2.2.3 Phân theo mục đích sử dụng
a.Hỗ trợ dự án
Là hình thức chủ yếu của ODA để thực hịên các dự án.Hỗ trợ dự án có
hai loại:
+ Hỗ trợ cơ bản đó là hỗ trợ các dự án xây dựng.
+ Hỗ trợ kỹ thuật là hỗ trợ chuyển giao tri thức công nghệ, đào tạo kỹ
thuât…
b. Hỗ trợ phi dự án
Bao gồm các loại hình:
thường so với đô-la Mỹ sẽ gây ra khó khăn cho các nước nhận viện trợ trong
việc tính toán hiệu quả các khoản vay cũng như quản lý nợ. Việc tăng giá
đồng euro so với đô - la Mỹ sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần cho quốc gia nhận
viện trợ khi mà đô-la Mỹ vẫn là đồng tiền chủ yếu dùng để giao dịch và thanh
toán.
2.3.2. Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Sinh viên thực hiện: Phạm Tiến Chung KTPT – K47A