giải pháp chủ đạo tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty may Thăng Long - Pdf 32

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng sự tồn tại và phát triển là vấn đề sống còn
đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bởi ở đó là một môi trờng cạnh tranh mạnh
mẽ mà sự tham gia của các thành phần kinh tế, nếu nh có sức mạnh và đôi
chân vững chắc thì mới thoát khỏi cơn bão thị trờng. Có nhiều nguyên nhân
dẫn tới sự thất bại của doanh nghiệp, trong đó nguyên nhân cơ bản là không
có đợc nguồn tài trợ đúng lúc và đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Công
tác tạo lập vốn có ảnh hởng rất lớn tới mọi mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tạo lập vốn là bớc đi đầu tiên quan trọng làm cơ sở
cho các hoạt động tiếp theo của doanh nghiệp.
Trong tiến trình phát triển chúng ta đã và đang có sự tập trung rất lớn
vào các ngành nghề trọng tâm của đất nớc, ở đó ngành may mặc là một trong
những ngành trọng điểm. Công ty cổ phần may Thăng Long là một doanh
nghiệp có bề dày trởng thành và phát triển đi cùng với sự phát triển của
ngành may mặc nói chung. Chiến lợc phát triển của công ty là trở thành một
trong các doanh nghiệp phát triển ngành may mặc hàng đầu của việt nam và
vơn xa rộng hơn đến các mảnh đất khác. Để làm đợc điều đó công ty cần có
sự đầu t nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị công nghệ, dây
chuyền sản xuấtnhằm mở rộng và nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
Tuy nhiên cũng nh các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế công ty
may Thăng Long cũng gặp không ít khó khăn trong công tác tạo lập vốn.
Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty hiện nay cha thể đáp ứng nhu cầu đứng
vững và phát triển của công ty trong môi trờng cạnh tranh ngày càng trở lên
khốc liệt. Vì vậy tạo lập vốn luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong công
tác quản trị tài chính doanh nghiệp của công ty.
Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận và quá trình thực tập ở công ty cổ
phần may Thăng Long, em đã lựa chọn đề tài Giải pháp chủ yếu tạo lập
1
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng
Long làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề này.

kỳ kinh doanh vốn kinh doanh lại đợc thu hồi về dới dạng ban đầu là tiền
theo vòng chu chuyển T- H- T.
Dới dạng hình thái hiện vật: vốn tồn tại dới dạng hình thái t liệu sản
xuất nh máy móc, thiết bị, nhà xởng,
Đối với sự phát triển của một quốc gia vốn đợc coi là một trong bốn
nguồn lực của nền kinh tế quốc dân. Đó là nhân lực, vốn, kỹ thuật công nghệ,
và tài nguyên. Nh vậy xét trong một quốc gia muốn phát triển nên kinh tế
quốc dân ngoài nhân lực, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thì cần phải có
vốn.
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ tài sản dùng cho kinh doanh:
Về phơng diện vật chất vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị, nhà
cửa, kho tàng, vật kiện trúc, vật t hàng hoálà các phạm trù gắn với nền sản
xuất hàng hoá.
Vốn có thề là tiền nh tiền Việt nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quýNhng tiền chỉ
có thể trở thành hàng hoá khi nó đợc đa vào lu thông, sản xuất kinh doanh.
3
tiền có sự luân chuyển từ hình thái vật chất sang tiền tệ với một lợng lớn hơn
và ngày càng mở rộng.
Ngoài sự tồn tại dới dạng vật chất nó còn tồn tại dới dạng là những tài
sản vô hình nh quyền sở hữu công nghệ, uy tín của doanh nghiệp, nhãn mác
độc quyền, kinh nghiệm tay nghề, nguồn nhân lực, nguồn chất xámNhững
yếu tố này cũng đợc coi là vốn.
Đặc trng của vốn
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc can thiệp và kiểm soát
trực tiếp mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Đồng tiền về mặt lý thuyết
mang đầy đủ năm chức năng nh lý luận của Mác ( trao đổi, cất trữ, lu thông,
thanh toán, quốc tế) nhng thực tế không đúng nh vậy. Nhà nớc thâu tóm tất
cả hoạt động của nền kinh tế, quyết định đến các vấn đề trong kinh tế từ kế
hoạch đến các bớc thực hiện, nhu cầu về vốn hầu nh không tồn tại.

biến động của giá cả
Năm là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Mỗi một đồng vốn đều
có chủ sở hữu nhất định . Trong nền kinh tế thị trờng không thể có những
đồng vốn vô chủ, ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng
phí, kém hiệu quả. Ngợc lại chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới
hiệu quả. Cũng tuy theo hình thức đầu t mà ngời sở hữu vốn có thể đồng nhất
với ngời sử dụng vốn, hoặc ngời sở hữu vốn tách khỏi ngời sử dụng vốn.
Song dù trong trờng hợp nào thì ngời sở hữu vốn vẫn phải đợc u tiên đảm bảo
quyền lợi và đợc tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Đây là nguyên tắc
huy động và quản lý vốn.
Sáu là: Trong nền kinh tế thị trờng vốn phải đợc quan niệm là một loại
hàng hoá đặc biệt. Những ngời sẵn có thể đa vốn vào thị trờng còn có những
ngời khác cần có vốn lại tới thị trờng này. Quyền sở hữu vốn không di chyển
nhng quyền sử dụng vốn đợc chuyển nhợng qua sự vay, nợ. Ngời vay phải trả
một tỷ lệ lãi xuất tức là họ phải trả gía cho quyền sử dụng vốn. Nh vậy khác
với các hàng hoá thông thờng khác hàng hoá vốn khi bị bán đi sẽ không mất
quyền sở hữu mà ngời sở hữu của nó chỉ mất quyền sử dụng. Ngời mua đợc
5
quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định và phải trả cho ngời sở hữu vốn
một khoản tiền đợc gọi là lãi suất.
Bẩy là: trong nền kinh tế thị trờng vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền các
tài sản hữu hình mà nó còn đợc biểu hiện bằng giá trị những tài sản vô hình
khác: vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thơng mại, bản quyền phát minh
sang chế, bí quyết công nghệCùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa với sự
tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ thì những tài sản vô hình ngày càng
phong phú, đa dạng và chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo
ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì vậy tất cả những tài sản vô hình
này đều phải đợc lợng hóa để qui về gía trị. Vấn đề này rất cần thiết khi góp
vốn đầu t liên doanh, khi đánh giá doanh nghiệp, khi xác định giá trị cổ phần
phát hành, khi bán hoặc thanh lý tài sản

cùng với mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn cố định thể
hiện qua các chu kỳ sản xuất tơng ứng với giá trị hao mòn tài sản cố định.
Đến khi tài sản cố định hết giá trị sử dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành
một vòng luân chuyển của nó.
Tài sản cố định còn đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, cũng
tuỳ thuộc vào phơng thức quản lý mà doanh nghiệp ứng dụng hợp lý:
Theo hình thái thể hiện: tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu
hình và tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản biểu hiện bằng các hình thái
vật chất cụ thể nh nhà xởng, máy móc thiết bị, đất đai
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không biểu hiện bằng các
hình thái hiện vật cụ thể. Đó là những khoản chi cho phát minh sáng chế,
nhãn hiệu thơng mại, các chi phí đầu t ban đầu cho việc khảo sát thăm dò, chi
phí cho việc đào tạo cán bộ
Do tài sản cố định có chu kỳ vận động dài do đó sau nhiều năm mới có
thể thu hồi đủ vốn ban đầu đã đầu t nên đồng vốn luôn bị đe doạ bởi những
rủi ro những nguyên nhân khách quan làm thất thoát vốn. Phân loại tài sản cố
7
định theo hình thái này giúp doanh nghiệp trong việc quản lý và tính toán
khấu hao chính xác và hợp lý.
Ngoài ra tài sản cố định còn phân loại theo hiện trạng sử dụng: tài sản
cố định chia thành tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định cha dùng và tài
sản cố định chờ thanh lý.
Theo sự phân chia này doanh nghiệp sẽ nắm bắt đợc tình hình sử dụng
vốn cố định hiện tài cũng nh khả năng sử dụng tiềm tàng để có thể điều
chỉnh lại cơ cấu vốn cố định một cách hợp lý tránh tình trạng lãng phí do sự
tồn đọng vốn cha sử dụng một cách có hiệu quả.
Nh vậy: vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất là biểu hiện bằng
tiển giá trị của tài sản cố định. Nó có thể tham gia toàn bộ hoặc một phần vào
quá trình sản xuất nhng chỉ luân chuyển giá trị từng phần vào giá trị sản

Trên giác độ nguồn hình thành của vốn:
Vốn đợc phân chia thành vốn tự có và vốn vay:
vốn tự có( vốn chủ sở hữu):
Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp
mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. doanh nghiệp về mặt pháp
lý là ngời sở hữu nguồn vốn này có toàn quyền sử dụng chúng, tỷ trọng vốn
chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn phản ảnh mức độ sở hữu và chủ động của
doanh nghiệp trong kinh doanh.
ở mỗi loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau thì nguồn vốn này
cũng có nguồn khác nhau:
- Đối với doanh nghiệp nhà nớc: thì nguồn vốn này là vốn ngân sách,
ngân sách nhà nớc cấp một phần vốn ban đầu thì doanh nghiệp bắt đầu hoạt
động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp sau đó, doanh
nghiệp có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của ngân sách nhà nớc cấp.
Bên cạnh đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
9
cũng có thể có đợc nguồn tài trợ của nhà nớc thông qua việc cấp tài sản nh
nhà xởng, máy móc thiết bị
- Đối với các doanh nghiệp cổ phần: nguồn vốn tự có hình thành từ
đóng góp của các cổ đông bằng việc phát hành và bán cổ phiếu công ty trên
thị trờng khi sáng lập công ty. Trong quá trình hoạt động của mình doanh
nghiệp cũng có thể tăng lợng vốn này bằng cách phát hành thêm cổ phiếu ra
thị trờng
- Đối với doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn: nguồn
vốn tự có là phần vốn góp của các chủ doanh nghiệp chủ đầu t bỏ ra để đầu t
vào hoạt động sản xuất kinh doanh khi mới thành lập hoặc đầu t dự án, theo
qui định của pháp luật, số vốn pháp định đối với các doanh nghiệp t nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc không thấp hơn tổng vốn đầu t các dự án
nếu dùng để đầu t thực hiện dự án.


chi phí quản lý
- Vốn l u thông là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản lu thông
của doanh nghiệp. Tài sản lu thông của doanh nghiệp là loại tài sản đang tồn
tại trên kĩnh vực lu thông nh hàng hoá gửi bán chi phí bán hàng các khoản
phải thu. Sau quá trình lu thông giá trị sản phẩm đợc thực hiện vốn của doanh
nghiệp đợc thu về với hình thái tiền tệ nh ban đầu nhng với số lợng thờng là
lớn hơn và vòng chu chuyển của vốn đã hoàn thành.
Trên đây là các cách phân loại vốn cơ bản của doanh nghiệp. Mỗi
doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều hình thức phân loại khác nhau tuỳ thuộc
vào mục tiêu quản lý vốn sao cho hợp lý và dễ quản lý nhất.
1.1.3 Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Bất kể một hoạt động nào muốn thực hiện đợc đều phải có những tiền
đề cơ bản. ví dụ nh để nấu đợc cơm thì trớc hết phải có gạo và nớc. Và để
11
hoạt động sản xuất kinh doanh có thể đợc thực hiện thì trớc hết phải cần có
vốn.
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nớc, cá
nhân, tập thể. Sở hữu cá nhân nếu số vốn đó nằm trong công ty t nhân. sở hữu
tập thể nếu số vốn đó nằm trong công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ
phần. Vốn trong các doanh nghiệp nhà nớc hình thành từ nguồn vốn do ngân
sách nhà nớc cấp thuộc sở hữu nhà nớc. Nhng dù ở hình thức sở hữu nào thì
vai trò của vốn cũng không thay đổi.
Với mọi doanh nghiệp dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động sản xuất
kinh doanh đợc đều phải có lợng vốn nhất đinh. Đây là điều kiện tiên quyết,
quan trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuỳ theo
loại hình kinh doanh mà luật qui định doanh nghiệp phải có số vốn pháp định
nhất định. Tuỳ theo nguồn vốn kinh doanh cũng nh phơng thức huy động vốn
mà doanh nghiệp có các tên gọi khác nhau nh: doanh nghiệp t nhân, doanh
nghiệp nhà nớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạnCó vốn
doanh nghiệp mới có điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ sở vật chất cần

việc chống đỡ đợc những tổn thất, rủi ro, biến động thị trờng, khủng hoảng
tài chínhtrong quá trình hoạt động, đặc biệt là những ngành kinh doanh
nhiều rủi ro nh ngân hàng.
Trong cơ chế thị trờng cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tập trung vốn nhiều
hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh
kinh doanh. Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban
lãnh đạo doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lợc, sách lợc, kinh
doanh, và nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh tế là
dầu nhớt để bôi trơn cỗ máy kinh tế vận động.
Nh vậy vai trò của vốn rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp, thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua cũng chi thấy
doanh nghiệp nào có lợng vốn càng lớn thì càng có thể chủ động trong kinh
doanh. Ngợc lại doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh không có chiến lợc
13
tài trợ trớc mắt cũng nh lâu dài thờng đánh mất cơ hội kinh doanh, cũng nh
vai trò của mình trên thị trờng mất bạn hàng thờng xuyên ổn định không tạo
ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh.
Nhận biết đợc vai trò của vốn trong kinh doanh, nhng để có đợc lợng
vốn cần thiết thì nhất thiết doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo lập hữu
hiệu và phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và hợp lý.
Tuy nhiên sử dụng hình thức tạo lập nào, thời hạn dài hay ngắn, chi phí huy
động cao hay thấp bắt buộc doanh nghiệp phải luôn có sự cân nhắc, vừa
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tối thiểu hoá chi phí, hạn chế
thấp nhất rủi ro nhằm thực hiện đợc các mục tiêu của mình.
Mặt khác mỗi doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi
thế riêng và những hạn chế nhất định. Chính vì vậy mỗi doanh nghiệp phải tự
đánh giá phân tích những u và nhợc điểm của mình để tìm ra những phơng
thức tạo lập vốn phù hợp nhất hiệu quả nhất phát huy khả năng tiểm ẩn và
hạn chế những nhợc điểm.

Đây là vốn ban đầu do các chủ sở hữu đóng góp khi thành lập doanh
nghiệp. Lợng vốn này đợc tạo lập từ nhiều phơng thức khác nhau tuỳ thuộc
vào từng loại hình doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp nhà nớc: Vốn tự có là vốn do nhà nớc cấp phát
và bổ sung. Việc giao vốn cho các doanh nghiệp nhà nớc do cục quản lý vốn
và tài sản tại doanh nghiệp trớc đây và hiện nay là cục tài chính doanh nghiệp
trực thuộc bộ tài chính đảm nhận có sự chứng kiến của các đại diện cơ quan
ra quyết định thành lập doanh nghiệp. Trong thời kỳ bao cấp nhà nớc tài trợ
hầu nh toàn bộ vốn kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh trong nền kinh
tế, nên có hiện tợng ỉ lại vào sự bao cấp của nhà nớc. Hậu quả là làm giảm
15
tính năng động của các xí nghiệp trong việc chủ động khai thác các nguồn
vốn cũng nh tìm kiếm các giải pháp để bảo toàn và sử dụng vốn một cách có
hiệu quả. Khi bớc sang cơ chế thị trờng đi đôi với việc mở rộng và khuyến
khích các thành phần kinh tế khác phát triển, chính phủ đã xúc tiến các biện
pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khu vực kinh tế quốc doanh
nhằm giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách nhà nớc. Các doanh nghiệp chủ
động bổ sung phần thiếu hụt bằng các nguồn tài trợ khác.
- Đối với công ty cổ phần: vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp thông
qua việc mua cổ phần. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty cổ phần,
việc phân chia quyền kiểm soát và lợi nhuận sau thuế căn cứ vào tỉ lệ vốn
góp. Trong công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, qui định quyền
và nghĩa vụ của các cổ đông.
- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: vốn góp ban đầu do các bên
tham gia đóng góp theo tỉ lệ thoả thuận và đây là căn cứ để phân chia lợi
nhuận.
- Đối với công ty hợp danh: các thành viên cũng tiến hành góp vốn để
thành lập công ty nhng đợc phân chia thành hai loại đối tợng: vốn do thành
viên hợp danh đóng góp là yếu tố chính để thành lập doanh nghiệp và trong
quá trình hoạt động, các thành viên này tham gia quản lý điều hành hoạt

đông không đợc nhận số lợi nhuận đó nhng bù lại họ có quyền sở hữu số cổ
phần tăng lên của công ty. Nh vậy giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên
cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến
khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài nhng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn
của cổ phiếu trong thời kỳ trớc mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận đợc một
phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hoặc số lãi ròng không đủ
hấp dẫn thì cổ phiếu có thể bị giảm sút. Do đó để đảm bảo mục tiêu tối đa
hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu mà không làm giảm giá cổ phiếu trên thị tr-
17
ờng, chính sách phân phối cổ tức của công ty cổ phần phải lu ý đến một số
vấn đề liên quan nh:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trớc
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trờng và tính ổn định của thị giá cổ phiếu
của công ty tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó.
- Hiệu quả của việc tái đầu t
Nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu mới
Phơng thức tạo lập này chỉ thực hiện ở công ty cổ phần vì chỉ ở công ty cổ
phần mới có hình thức cổ đông, quyền sở hữu tập thể. Cổ phiếu là một loại
chứng khoán vốn chứng nhận quyền sở hữu một phần tài sản và thu nhập của
cổ đông đối với công ty cổ phần. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp có
thể tăng vốn chủ sở hữu bằng việc phát hành cổ phiếu. Đây là nguồn tài trợ
dài hạn và rất ổn định cho doanh nghiệp. Việc phát hành cổ phiếu mới cần
phải đánh gía và lựa chọn kỹ càng bởi có nhiều loại cổ phiếu với các tính chất
khác nhau:
- cổ phiếu thờng: là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những u thế
trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lu hành trên thị trờng
chứng khoán. Cổ phiếu thờng là chứng khoán quan trọng nhất đợc trao đổi
mua bán trên thị trờng chứng khoán điều đó chứng minh đợc tầm quan trọng
của nó so với các công cụ tài chính khác. Tuy nhiên việc phát hành cổ phiếu

Rủi ro gánh chịu là cao hơn so với chủ nợ ( rủi ro không thu
hồi đợc vốn đầu t)
- Cổ phiếu u tiên: loại cổ phiếu này thờng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng số cổ phiếu đợc phát hành. Cổ phiếu u tiên có đặc điểm là nó thờng có
cổ tức cố định, chủ sở hữu cổ phiếu u tiên có quyền đợc thanh toán lãi trớc
các cổ đông thờng. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông u tiên thì
19
các cổ đông thờng sẽ không đợc nhận cổ tức của kỳ đó. Một đặc điểm khác
là cổ đông cổ phiếu u tiên vẫn là chủ sở hữu công ty nhng không có quyền
tham gia biểu quyết không đợc tham gia đại hội đồng cổ đông, nó mang tính
chất nh thành viên góp vốn trong công ty hợp danh.
Một vấn đề rất quan trọng khi đề cập đến cổ phiếu u tiên, đó là thuế. Khác
với chi phí lãi vay đợc giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức đợc lấy
từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu u tiên. mặc dù vậy cổ
phiếu u tiên vẫn có những u điểm nổi bật:
- tạo lập đợc vốn chủ sở hữu (huy động vốn vô thời hạn với chi phí thấp
so với phát hành cổ phiếu thờng.
- Không phải chia xẻ quyền kiểm soát
- Không bị ràng buộc bởi trách nhiệm trả nợ gốc
Nh vậy việc lựa chọn phát hành cổ phiếu mới hay sử dụng lợi nhuận
không chia để nhằm tạo lập vốn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Nếu đã lựa chọn phát hành cổ phiếu mới thì vấn đề quyết định loại cổ phiếu
nào cũng rất quan trọng bởi nó có liên quan đến chi phí vốn của từng loại cổ
phiếu. Trên cơ sở phân tích so sánh những điểm lợi và bất lợi của từng phơng
thức tạo lập, doanh nghiệp có thể đa ra quyết định chính xác, phù hợp cho
mình.
1.2.2.2 Tạo lập từ nguồn tín dụng
Nguồn tín dụng là nguồn quan trọng nhất của bất kể doanh nghiệp nào,
bởi vì sử dụng nguồn này doanh nghiệp có những u thế hơn sử dụng vốn chủ
sở hữu, ở một số điểm sau:

nhiệm với một chủ nợ ngân hàng.
Bên cạnh đó nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định. Đó là
các hạn chế về điều kiện tín dụng kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử
dụng vốn ( lãi suất)
- Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng
thơng mại cần đáp ứng đợc xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần
21
thiết mà ngân hàng yêu cầu. Ngân hàng sẽ tiến hành phân tích để quyết định
có nên cho vay hay không.
- Các điều kiện bảo đảm tiền vay: có những doanh nghiệp đợc ngân
hàng vay vốn theo hình thức tín chấp hoặc bảo lãnh của ngời thứ ba nhng
cũng co doanh nghiệp muốn vay đợc vốn ngân hàng cần phải có tài sản đảm
bảo phổ biến là tài sản thế chấ. Việc yêu cầu ngời vay có tài sản thế chấp
trong nhiều trờng hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng đợc các điều
kiện vay. Do đó, doanh nghiệp cần tính đến các yếu tố này khi tiếp cận
nguồn vốn ngân hàng.
- Sự kiểm soát của ngân hàng: trong quá trình cho vay ngân hàng tiến
hành kiểm soát doanh nghiệp nhằm đảm bảo doanh nghiệp sử dụng vốn vay
đúng mục đích. Nói chung sự kiểm soát này không gây khó khăn cho doanh
nghiệp nhng trong một số trờng hợp điều đó cũng làm cho doanh nghiệp có
cảm giác bị kiểm soát.
- Lãi suất vay vốn (chi phí sử dụng vốn): lãi suất phản ánh chi phí sử
dụng vốn. Yếu tố này phụ thuộc vào tình hình trên thị trờng trong từng thời
kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng
vốn lớn giảm thu nhập của doanh nghiệp.
Đây là hình thức tạo lập vốn phổ biến và nó chiếm gần 90% nguồn vốn
cho các doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay. Cùng với nguồn tín dụng ngân hàng
doanh nghiệp còn có thể sử dụng nhiều hình thức khác nh tín dụng thơng
mại, phát hành trái phiếu (vay trên thị trờng chứng khoán )
Tín dụng th ơng mạ i

chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận
trong hợp đồng cho thuê. Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp
đồng cho thuê ít nhất phải tơng đơng với giá trị tài sản đó tại thời điểm ký
hợp đồng.
Thuê mua là nghiệp vụ của ngân hàng thơng mại hoặc là hoạt động
của một công ty độc lập. Nghiệp vụ thuê mua có những u việt và những bất
lợi nhất định. Song do những u việt vợt trội nên nó đã có lịch sử rất lâu trên
23
thế giới. Ngày ngay nghiệp vụ này đang phát triển mạnh rộng khắp ở các nớc
và bắt đầu phát triển ở nớc ta đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20.
Lợi ích của thuê tài chính đối với ngời thuê rất lớn:
- Ngời thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện
hạn chế về nguồn vốn đầu t. Bởi vì nếu vay ngân hàng thì không cung ứng đủ
điều kiện mà họ đặt ra, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, uy tín trên thị
trờng không cao. Chẳng hạn nh doanh nghiệp không phải thế chấp khi vay,
bản thân doanh nghiệp có thể tự tìm cho mình đối tác phù hợp với nhu cầu
- Phơng thức này cho phép rút ngắn thời gian triển khai đầu t thiết bị
đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh do ngời thuê có thể tự tìm kiếm
nguồn cung ứng tài sản đàm phán hoặc thoả thuận trớc về hợp đồng mua bán
thiết bị với nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu công ty cho thuê tài trợ cho
mình.
- Thông qua nghiệp cụ bán và tái thuê các doanh nghiệp có thể dịch
chuyển vốn đầu t cho các dự án khác đang cần vốn trong khi vẫn duy trì đợc
hoạt động đầu t hiện hành vì tài sản vẫn tiếp tục đợc sử dụng.
- Trong điều kiện bùng nổ công nghệ nh hiện nay chỉ trong một thời
gian ngắn một tài sản trở lên lạc hậu về công nghệ. Vì vậy nếu đi thuê tài
chính, doanh nghiệp có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị hiện đại vào sản
xuất. Do những điều kiện để doanh nghiệp đợc thuê tài chính đơn giản hơn
vay ngân hàng nên doanh nghiệp phải chấp nhận mức chi phí cao hơn. Đó là
số tiền phải đủ để bù đắp chi phí mua tài sản cố định tại thời điểm bắt đầu

- Kỳ hạn của trái phiếu: phải phù hợp với nhu cầu vốn của doanh
nghiệp. Kỳ hạn càng dài thì độ rủi ro đối với các nhà đầu t càng lớn nên sẽ
càng giảm tính hấp dẫn của trái phiếu. Doanh nghiệp cần phải cân đối giữa
nhu cầu của doanh nghiệp và ý muốn của nhà đầu t.
- Uy tín của doanh nghiệp: không phải doanh nghiệp nào cũng có thể
thu hút đợc công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu t phải đánh giá uy tín của
25

Trích đoạn Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty một số năm qua Cơ cấu vốn của công ty Nguồn vốn vay nợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status