Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng Long - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển là vấn đề sống
còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bởi ở đó là một môi trường cạnh
tranh mạnh mẽ mà sự tham gia của các thành phần kinh tế, nếu như có sức
mạnh và đôi chân vững chắc thì mới thoát khỏi cơn bão thị trường. Có
nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của doanh nghiệp, trong đó nguyên
nhân cơ bản là không có được nguồn tài trợ đúng lúc và đủ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Công tác tạo lập vốn có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo lập vốn là bước đi
đầu tiên quan trọng làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo của doanh
nghiệp.
Trong tiến trình phát triển chúng ta đã và đang có sự tập trung rất lớn
vào các ngành nghề trọng tâm của đất nước, ở đó ngành may mặc là một
trong những ngành trọng điểm. Công ty cổ phần may Thăng Long là một
doanh nghiệp có bề dày trưởng thành và phát triển đi cùng với sự phát triển
của ngành may mặc nói chung. Chiến lược phát triển của công ty là trở
thành một trong các doanh nghiệp phát triển ngành may mặc hàng đầu của
việt nam và vươn xa rộng hơn đến các mảnh đất khác. Để làm được điều đó
công ty cần có sự đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị
công nghệ, dây chuyền sản xuất…nhằm mở rộng và nâng cao hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình.
Tuy nhiên cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế công ty
may Thăng Long cũng gặp không ít khó khăn trong công tác tạo lập vốn.
Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty hiện nay chưa thể đáp ứng nhu cầu
đứng vững và phát triển của công ty trong môi trường cạnh tranh ngày càng
trở lên khốc liệt. Vì vậy tạo lập vốn luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu
trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp của công ty.
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận và quá trình thực tập ở công ty

chung. Vốn trong sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp luôn luôn tồn
tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái giá trị và hình thái hiện vật.
Dưới dạng hình thái giá trị vốn tồn tại dưới dạng hình thái tiền. Đây
là hình thái ban đầu và cũng là hình thái cuối cùng của vốn, bởi vì sau một
chu kỳ kinh doanh vốn kinh doanh lại được thu hồi về dưới dạng ban đầu là
tiền theo vòng chu chuyển T- H- T’.
Dưới dạng hình thái hiện vật: vốn tồn tại dưới dạng hình thái tư liệu
sản xuất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…
Đối với sự phát triển của một quốc gia vốn được coi là một trong
bốn nguồn lực của nền kinh tế quốc dân. Đó là nhân lực, vốn, kỹ thuật công
nghệ, và tài nguyên. Như vậy xét trong một quốc gia muốn phát triển nên
kinh tế quốc dân ngoài nhân lực, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thì cần
phải có vốn.
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản dùng cho kinh doanh:
Về phương diện vật chất vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị,
nhà cửa, kho tàng, vật kiện trúc, vật tư hàng hoá…là các phạm trù gắn với
nền sản xuất hàng hoá.
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Vốn có thề là tiền như tiền Việt nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý…Nhưng
tiền chỉ có thể trở thành hàng hoá khi nó được đưa vào lưu thông, sản xuất
kinh doanh. tiền có sự luân chuyển từ hình thái vật chất sang tiền tệ với một
lượng lớn hơn và ngày càng mở rộng.
Ngoài sự tồn tại dưới dạng vật chất nó còn tồn tại dưới dạng là
những tài sản vô hình như quyền sở hữu công nghệ, uy tín của doanh
nghiệp, nhãn mác độc quyền, kinh nghiệm tay nghề, nguồn nhân lực,
nguồn chất xám…Những yếu tố này cũng được coi là vốn.
• Đặc trưng của vốn
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước can thiệp và kiểm

cách có hiệu quả.
Ba là: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới
phát huy được tác dụng. Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh vốn phải được
tích tụ thành món lớn. Do đó các doanh nghiệp không những chỉ khai thác
tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn
vốn như nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phần, vay vốn…
Bốn là: Vốn có giá trị mặt thời gian - điều này cũng có nghĩa là phải
xem xét giá trị thời gian của đồng vốn. Có nhiều yếu tố tác động từ lạm
phát, sự biến động của giá cả…
Năm là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Mỗi một đồng vốn đều
có chủ sở hữu nhất định . Trong nền kinh tế thị trường không thể có những
đồng vốn vô chủ, ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng
phí, kém hiệu quả. Ngược lại chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn
mới hiệu quả. Cũng tuy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể
đồng nhất với người sử dụng vốn, hoặc người sở hữu vốn tách khỏi người
sử dụng vốn. Song dù trong trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn phải
5
Chuyên đề tốt nghiệp
được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu vốn của
mình. Đây là nguyên tắc huy động và quản lý vốn.
Sáu là: Trong nền kinh tế thị trường vốn phải được quan niệm là một
loại hàng hoá đặc biệt. Những người sẵn có thể đưa vốn vào thị trường còn
có những người khác cần có vốn lại tới thị trường này. Quyền sở hữu vốn
không di chyển nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự
vay, nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi xuất tức là họ phải trả gía cho
quyền sử dụng vốn. Như vậy khác với các hàng hoá thông thường khác
hàng hoá vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà người sở hữu
của nó chỉ mất quyền sử dụng. Người mua được quyền sử dụng vốn trong
thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu vốn một khoản tiền được
gọi là lãi suất.

thiết bị , nhà xưởng, công trình kiến trúc, chi phí mua phát minh sáng chế
… tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Tài sản cố định có hai thuộc tính như mọi hàng hoá khác là giá trị
và giá trị sử dụng , nó được mua bán, trao đổi trên thị trường
Đối với các doanh nghiệp khi bước vào hoạt động sản xuất kinh
doanh đều phải ứng trước một lượng tiền tệ nhất định để mua sắm tài sản
cố định, vốn đầu tư để mua sắm tài sản cố định này được goi là vốn cố định
của doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó mà sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn
cố định lại được giải quyết bởi đặc điểm của tài sản cố định. Quy mô vốn
cố định quyết định quy mô của tài sản cố định.
Tài sản cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
cùng với mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn cố định thể
hiện qua các chu kỳ sản xuất tương ứng với giá trị hao mòn tài sản cố định.
Đến khi tài sản cố định hết giá trị sử dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành
một vòng luân chuyển của nó.
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Tài sản cố định còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau,
cũng tuỳ thuộc vào phương thức quản lý mà doanh nghiệp ứng dụng hợp
lý:
Theo hình thái thể hiện: tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu
hình và tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản biểu hiện bằng các hình
thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, đất đai…
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không biểu hiện bằng các
hình thái hiện vật cụ thể. Đó là những khoản chi cho phát minh sáng chế,
nhãn hiệu thương mại, các chi phí đầu tư ban đầu cho việc khảo sát thăm
dò, chi phí cho việc đào tạo cán bộ…
Do tài sản cố định có chu kỳ vận động dài do đó sau nhiều năm mới
có thể thu hồi đủ vốn ban đầu đã đầu tư nên đồng vốn luôn bị đe doạ bởi

Giai đoạn 2: Sx …: đây là giai đoạn các vật tư nguyên nhiên liệu đầu
vào được đưa vào quá trình sản xuất, cùng với lao động con người và các
loại máy móc thiết bị cần thiết các đối tượng lao động chuyển sang hình
thái thể hiện vật chất khác là thành phẩm hoặc sản phẩm dở dang hoặc sản
phẩm đã hoàn thành.
Giai đoạn 3: T’ – H’: giai đoạn hàng hoá được kiểm dịch và tung ra
thị trường.
Toàn bộ đối tượng lao động ở giai đoạn 1 và 2 được gọi là tài sản lưu
động. Như vậy vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất và chuyển qua
nhiều hình thái khác nhau. Lúc đầu là tiền tệ, sau đó là hình thái dự trữ
hàng hóa rồi cuối cùng quay về hình thái tiền tệ ban đầu nhưng với số
lượng lớn hơn.
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Vốn lưu động gắn chặt với từng bước thực hiện của hoạt động sản
xuất kinh doanh, như vậy để sử dụngvốn lưu động có hiệu quả thì phải căn
cứ vào thực tế hoạt động sản xuất kinh doan, tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp để xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn,
hay thiếu vốn.
 Trên giác độ nguồn hình thành của vốn:
Vốn được phân chia thành vốn tự có và vốn vay:
 vốn tự có( vốn chủ sở hữu):
Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của các chủ sở hữu doanh
nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. doanh nghiệp về
mặt pháp lý là người sở hữu nguồn vốn này có toàn quyền sử dụng chúng,
tỷ trọng vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn phản ảnh mức độ sở hữu và
chủ động của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Ở mỗi loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau thì nguồn vốn này
cũng có nguồn khác nhau:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn vốn này là vốn ngân

chức kinh tế xã hội dưới các hình thức như tín dụng ngân hàng, tín dụng
thương mại , …Sử dụng vốn nợ doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí
nhờ thuế, nhưng cũng không phải có lợi hoàn toàn, vì bên cạnh đó còn các
yếu tố về khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ, tỷ lệ lãi vay…
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau
như tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá
lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp… song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị
11
Chuyên đề tốt nghiệp
tài sản cho các chủ sở hữu. Do đó mỗi doanh nghiệp phải có cơ cấu vốn
hợp lý, cân nhắc các yếu tố bên trong và bên ngoài để đưa ra các quyết định
nhằm tối thiểu hóa chi phí, tăng gía trị tài sản của chủ sở hữu.
 Theo quá trình tuần hoàn vốn:
Vốn của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:
- Vốn dự trữ: là hiện thân bằng tiền toàn bộ giá trị của các loại tài sản
dự trữ trong doanh nghiệp. Tài sản dự trữ là các loại tài sản chưa được đưa
vào quá trình sản xuất hoặc lưu thông như giá trị còn lại của tài sản cố định,
nguyên vật liệu tồn kho, tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng.
- Vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ giá trị sản xuất như sản
phẩm dở dang đang nằm trên dây chuyền sản xuất, các loại chi phí tiền
lương chi phí quản lý…
- Vốn lưu thông là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản lưu
thông của doanh nghiệp. Tài sản lưu thông của doanh nghiệp là loại tài sản
đang tồn tại trên kĩnh vực lưu thông như hàng hoá gửi bán chi phí bán hàng
các khoản phải thu. Sau quá trình lưu thông giá trị sản phẩm được thực
hiện vốn của doanh nghiệp được thu về với hình thái tiền tệ như ban đầu
nhưng với số lượng thường là lớn hơn và vòng chu chuyển của vốn đã hoàn
thành.
Trên đây là các cách phân loại vốn cơ bản của doanh nghiệp. Mỗi

là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào
doanh nghiệp. ví dụ khi doanh nghiệp có ít vốn thì chỉ có thể sử dụng các
loại máy móc có công nghệ trung bình và sử dụng nhiều nhân công. Ngược
lại doanh nghiệp có lượng vốn lớn thì có khả năng sử dụng công nghệ hiện
đại, tiết kiệm được nhiều chi phí và nhân công. Ngoài ra vốn của doanh
nghiệp lớn hay nhỏ còn quyết định đến qui mô thị trường và khả năng mở
rộng thị trường của doanh nghiệp.
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong doanh nghiệp vốn còn đóng vai trò thể hiện ở chức năng giám
đốc tài chính đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể đánh giá có hiệu quả kinh
doanh hay không thông qua các chỉ tiêu sinh lời.
Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
từ khoản mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm. Hơn nữa
trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn tồn
tại và phát triển phải có các bí quyết công nghệ tiên tiến để nâng cao năng
xuất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tiêu thụ sản phẩm. Để
thực hiện được cả quá trình trên thì doanh nghiệp phải có vốn để đầu tư.
Bên cạnh đó vốn còn ảnh hưởng đén phạm vi hoạt động đa dạng hoá
ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp bởi tất cả nhũng hoạt động xây
dựng phương án kinh doanh đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công
nghệ, xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm, phân tích thị trường… đều
phụ thuộc vào quy mô vốn nhất định.
Việc đảm bảo tốt nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp
trong việc chống đỡ được những tổn thất, rủi ro, biến động thị trường,
khủng hoảng tài chính…trong quá trình hoạt động, đặc biệt là những ngành
kinh doanh nhiều rủi ro như ngân hàng.
Trong cơ chế thị trường cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tập trung vốn nhiều

Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh mà
mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo lập vốn khác nhau. Nhưng sử
dụng hình thức nào phù hợp nhất mang lại hiệu quả cao nhất còn là vấn đề
khó khăn của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường
với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ ở thị trường tiêu thụ mà cả ở thị trường
vốn, thì vấn đề tạo lập vốn và phương thức tạo lập vốn trở nên hết sức cấp
thiết, luôn được các nhà quản lý đặt lên hàng đầu. Để giải quyết nó thì
15
Chuyên đề tốt nghiệp
trước hết doanh nghiệp phải chủ động, tích cực tìm kiếm các nguồn để thu
hút được một lượng vốn đáng kể cho sản xuất kinh doanh. Đó chính là cách
hiểu về tạo lập vốn.
Tạo lập vốn được hiểu là các phương thức huy động mà doanh
nghiệp sử dụng để nhằm thiết lập nguồn tài chính để đầu tư vào các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Quá trình tạo lập vốn được bắt đầu từ khâu xác định nhu cầu vốn cho
đầu tư phát triển, sau đó là việc lập các kế hoạch huy động vốn, có gắn với
thời gian và phương thức huy động. Cuối cùng tiến hành huy động vốn.
Để công tác tạo lập vốn thành công thì trong mỗi giai đoạn của quá
trình tạo lập vốn phải được phân tích và lựa chọn cho phù hợp với điều
kiện từng môi trường hoạt động và lĩnh vực mà mình kinh doanh.
1.2.2Các hình thức tạo lập vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng
1.2.2.1 Tạo lập từ nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp thuộc bất kể loại hình doanh
nghiệp nào tổng hợp chung gồm các bộ phận sau:
- vốn góp ban đầu ( vốn tự có)
- Nguồn tích luỹ từ lợi nhuận không chia
- Vốn tăng thêm từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp liên doanh
 Vốn góp ban đầu ( vốn tự có)
Đây là vốn ban đầu do các chủ sở hữu đóng góp khi thành lập doanh

nghiệp và trong quá trình hoạt động, các thành viên này tham gia quản lý
điều hành hoạt động của công ty; còn thành viên góp vốn tham gia vào
công ty hợp danh chỉ được phân chia lợi nhuận theo qui định của điều lệ
công ty.
17
Chuyên đề tốt nghiệp
- Đối với doanh nghiệp liên doanh thì nguồn vốn của doanh nghiệp
không đơn thuần là vốn góp của các tổ chức hoặc cá nhân trong nước hay
vốn ngân sách nhà nước cấp, nó còn có sự tham gia góp vốn của các bên
nước ngoài hay doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là vốn do nhà
đầu tư nước ngoài mang sang để kinh doanh. Tỷ lệ góp vốn của các doanh
nghiệp này tối thiểu phải bằng một tỉ lệ nào đó so với vốn pháp định do
pháp luật qui định.
Vốn góp ban đầu này có qui mô phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà
quan trọng hàng đầu là luật pháp. Nhà nước qui định mức vốn ban đầu tối
thiểu là vốn pháp định hay vốn điều lệ để thành lập doanh nghiệp. Vốn này
phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh
nghiệp.
Vốn góp ban đầu là một trong những nguồn tạo lập nên vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động nếu doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả thì vốn chủ sở hữu còn được bổ sung từ lợi nhuận.
 Nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại
Lợi nhuận để lại là một bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở
rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một phương thức tạo
nguồn tài chính quan trọng và hấp dẫn của các doanh nghiệp vì nó giúp cho
doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên
ngoài. Tuy nhiên nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực
hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận,
được phép tiếp tục đầu tư. Ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố khác.
Chẳng hạn đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư không chỉ phụ

với các tính chất khác nhau:
19
Chuyên đề tốt nghiệp
- cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ưu
thế trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị
trường chứng khoán. Cổ phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhất
được trao đổi mua bán trên thị trường chứng khoán điều đó chứng minh
được tầm quan trọng của nó so với các công cụ tài chính khác. Tuy nhiên
việc phát hành cổ phiếu còn có những hạn chế và ràng buộc nhất đinh, chứ
không phải chỉ đơn thuần đưa cổ phiếu ra thị trường. Giới hạn phát hành là
qui định ràng buộc có tính pháp lý, chịu sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ
của uỷ ban chứng khoán nhà nước.
Phát hành cổ phiếu thường có một số thuận lợi sau:
+ đối với nhà phát hành:
 Tạo lập được vốn chủ sở hữu với độ an toàn khi sử dụng
cao do không phải lo hoàn trả gốc, có thể không phải trả cả
lãi
 Là nguồn tài trợ dài hạn và ổn định
 Rủi ro được tiếp tục phân tán cho các cổ đông mới nên độ
rủi ro tính trên một đồng vốn chủ sở hữu giảm đi
+ đối với người mua:
 Có quyền yêu cầu về thu nhập nên công ty hoạt động càng
hiệu quả, cổ tức càng cao do không giới hạn về thu nhập
 Có quyền kiểm soát đối với hoạt động của công ty
 Trở thành chủ sở hữu công ty, lợi nhuận kỳ vọng từ khoản
đầu tư này cao hơn so với chủ nợ.
Bên cạnh những thuận lợi rất hấp dẫn thì cổ phiếu thông thường
cũng có những hạn chế:
+ đối với nhà phát hành:
20

- Không bị ràng buộc bởi trách nhiệm trả nợ gốc
Như vậy việc lựa chọn phát hành cổ phiếu mới hay sử dụng lợi nhuận
không chia để nhằm tạo lập vốn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Nếu đã lựa chọn phát hành cổ phiếu mới thì vấn đề quyết định loại cổ phiếu
nào cũng rất quan trọng bởi nó có liên quan đến chi phí vốn của từng loại
cổ phiếu. Trên cơ sở phân tích so sánh những điểm lợi và bất lợi của từng
phương thức tạo lập, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định chính xác, phù
hợp cho mình.
1.2.2.2 Tạo lập từ nguồn tín dụng
Nguồn tín dụng là nguồn quan trọng nhất của bất kể doanh nghiệp nào,
bởi vì sử dụng nguồn này doanh nghiệp có những ưu thế hơn sử dụng vốn
chủ sở hữu, ở một số điểm sau:
- Khả năng sinh lời của khoản nợ lớn hơn khả năng sinh lời của vốn
chủ sở hữu do rủi ro sử dụng nợ cao hơn tức là lợi nhuận kì vọng cao hơn.
- Các khoản lãi phải trả cho khoản nợ là đối tượng khấu trừ thuế ( chi
phí trước thuế ) nên doanh nghiệp sẽ được hưởng khoản tiết kiệm nhờ thuế.
- Chi phí nợ nhỏ hơn chi phí vốn chủ sở hữu ( đối với doanh nghiệp
tại một thời điểm nhất định)
Do sử dụng nợ có những ưu thế trên nên các doanh nghiệp thường
khai thác triệt để nguồn này để tạo đòn bẩy tài chính khuyếch đại thu nhập
cho chủ sở hữu.
 Tín dụng ngân hàng
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn
quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh
nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn này xuất
hiện từ sớm trong lịch sử và tiếp tục khẳng định ưu thế của nó cho đến
ngày hôm nay và cả tương lai. Không một doanh nghiệp nào không vay
22
Chuyên đề tốt nghiệp
vốn ngân hàng nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương

khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
- Sự kiểm soát của ngân hàng: trong quá trình cho vay ngân hàng
tiến hành kiểm soát doanh nghiệp nhằm đảm bảo doanh nghiệp sử dụng
vốn vay đúng mục đích. Nói chung sự kiểm soát này không gây khó khăn
cho doanh nghiệp nhưng trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho
doanh nghiệp có cảm giác bị “kiểm soát”.
- Lãi suất vay vốn (chi phí sử dụng vốn): lãi suất phản ánh chi phí sử
dụng vốn. Yếu tố này phụ thuộc vào tình hình trên thị trường trong từng
thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí
sử dụng vốn lớn giảm thu nhập của doanh nghiệp.
Đây là hình thức tạo lập vốn phổ biến và nó chiếm gần 90% nguồn
vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Cùng với nguồn tín dụng
ngân hàng doanh nghiệp còn có thể sử dụng nhiều hình thức khác như tín
dụng thương mại, phát hành trái phiếu (vay trên thị trường chứng khoán )
 Tín dụng thương mại
Thông thường quan hệ mua bán giữa các doanh nghiệp không kết thúc
ngay ở một thời điểm, nghĩa là dòng tiền tài chính xuất hiện chậm hơn
dòng vật chất, nếu doanh nghiệp là người bán hàng thì đây là chính sách tín
dụng khách hàng, còn nếu doanh nghiệp là người mua hàng thì đây là
trường hợp doanh nghiệp được hưởng một khoản tín dụng nhà cung cấp.
Tín dụng khách hàng và tín dụng nhà cung cấp thực chất chỉ là hai mặt của
tín dụng thương mại.
Đối với doanh nghiệp đây là phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng, linh hoạt
trong kinh doanh, có thể đáp ứng nhu cầu cấp bách của doanh nghiệp, hơn
nữa nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác các quan hệ trong
kinh doanh một cách lâu bền.
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên việc sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại không phải là
không có chi phí. Chi phí được tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ và có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status