Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May - Pdf 96

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển là vấn đề sống
còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bởi ở đó là một môi trường cạnh
tranh mạnh mẽ mà sự tham gia của các thành phần kinh tế, nếu như có sức
mạnh và đôi chân vững chắc thì mới thoát khỏi cơn bão thị trường. Có
nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của doanh nghiệp, trong đó nguyên
nhân cơ bản là không có được nguồn tài trợ đúng lúc và đủ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Công tác tạo lập vốn có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo lập vốn là bước đi
đầu tiên quan trọng làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo của doanh
nghiệp.
Trong tiến trình phát triển chúng ta đã và đang có sự tập trung rất lớn
vào các ngành nghề trọng tâm của đất nước, ở đó ngành may mặc là một
trong những ngành trọng điểm. Công ty cổ phần may Thăng Long là một
doanh nghiệp có bề dày trưởng thành và phát triển đi cùng với sự phát triển
của ngành may mặc nói chung. Chiến lược phát triển của công ty là trở
thành một trong các doanh nghiệp phát triển ngành may mặc hàng đầu của
việt nam và vươn xa rộng hơn đến các mảnh đất khác. Để làm được điều đó
công ty cần có sự đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị
công nghệ, dây chuyền sản xuất…nhằm mở rộng và nâng cao hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình.
Tuy nhiên cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế công ty
may Thăng Long cũng gặp không ít khó khăn trong công tác tạo lập vốn.

1
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ

Sinh viên thực hiện
Mai Thị Thu Hằng
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ TẠO LẬP VỐN TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm về vốn
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về vốn, tuỳ theo góc độ nhìn
nhận vốn là một trong những nhân tố có tầm quan trọng quyết định tới mọi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói
chung. Vốn trong sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp luôn luôn tồn
tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái giá trị và hình thái hiện vật.

3
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Dưới dạng hình thái giá trị vốn tồn tại dưới dạng hình thái tiền. Đây
là hình thái ban đầu và cũng là hình thái cuối cùng của vốn, bởi vì sau một
chu kỳ kinh doanh vốn kinh doanh lại được thu hồi về dưới dạng ban đầu là
tiền theo vòng chu chuyển T- H- T’.
Dưới dạng hình thái hiện vật: vốn tồn tại dưới dạng hình thái tư liệu
sản xuất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…
Đối với sự phát triển của một quốc gia vốn được coi là một trong
bốn nguồn lực của nền kinh tế quốc dân. Đó là nhân lực, vốn, kỹ thuật công
nghệ, và tài nguyên. Như vậy xét trong một quốc gia muốn phát triển nên
kinh tế quốc dân ngoài nhân lực, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thì cần
phải có vốn.
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của

năng vai trò nhiệm vụ vốn có, khi đó vốn ngày càng trở thành nhu cầu bức
xúc quan trọng đối với các doanh nghiệp.
Vốn có các đặc trưng sau:
Một là: Vốn phải đại diện cho một lượng gía trị tài sản, điều đó có nghĩa
là vốn được biểu hiện bằng gía trị của những tài sản hữu hình. Những tài
sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, nguyên liệu,… được sử
dụng vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm mới. Nhưng tài sản hiện
vật sử dụng cá nhân không đưa vào sản xuất không được gọi là vốn, chính

5
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
từ đặc điểm này mà ta có thể huy động được một nguồn vốn khá lớn từ
những tài sản xã hội còn đang cất trữ chưa được sử dụng.
Hai là: Vốn phải vận động và sinh lợi. Vốn được biểu hiện bằng tiền
nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì tiền đó
phải được vận động và sinh lời. Trong quá trình vận động tiền thay đổi
hình thái biểu hiện: Đầu tiên tiền được đưa vào sản xuất nó trở thành vốn,
sau một chu kỳ hoạt động vốn trở thành điểm xuất phát ban đầu với lượng
giá trị lớn hơn. Phần dôi ra đó chính là lợi nhuận, là khả năng sinh lời của
vốn. Tuy nhiên để đảm bảo chức năng sinh lời thì người sử dụng vốn phải
biết qui luật vận động của vốn, nắm bắt được thời cơ để vốn hoạt động một
cách có hiệu quả.
Ba là: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới
phát huy được tác dụng. Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh vốn phải được
tích tụ thành món lớn. Do đó các doanh nghiệp không những chỉ khai thác
tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn
vốn như nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phần, vay vốn…

hình khác: vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát
minh sang chế, bí quyết công nghệ…Cùng với sự phát triển kinh tế hàng
hóa với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ thì những tài sản vô hình
ngày càng phong phú, đa dạng và chúng ngày càng có vai trò quan trọng
trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì vậy tất cả những
tài sản vô hình này đều phải được lượng hóa để qui về gía trị. Vấn đề này

7
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
rất cần thiết khi góp vốn đầu tư liên doanh, khi đánh giá doanh nghiệp, khi
xác định giá trị cổ phần phát hành, khi bán hoặc thanh lý tài sản…
Trên đây là các đặc trưng cơ bản của vốn, có thể khái quát lại: vốn là
biểu hiện bằng tiền giá trị của toàn bộ tài sản đầu tư vào quá trình sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Nắm được các đặc trưng của vốn và
hiểu được quy luật vận động của nó sẽ là điều kiện tiên quyết để các tổ
chức, cá nhân khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả
1.1.2 Phân loại vốn
Vốn được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mục đích
quản lý mà doanh nghiệp sử dụng hình thức phân loại phù hợp. Vốn được
phân thành vốn vay, vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, vốn tự bổ sung, vốn do
ngân sách nhà nước cấp, vốn liên doanh liên kết…nhưng về cơ bản vốn
được phân loại trên một số tiêu thức chính:
 Trên giác độ phương thức chu chuyển vốn.
Đây là tiêu thức phân loại vốn chủ yếu nhất, có hiệu quả nhất trong
việc quản lý vốn, căn cứ theo tiêu thức này thì vốn được phân thành 2 loại
vốn cố định và vốn lưu động
 Vốn cố định

Tài sản cố định vô hình là những tài sản không biểu hiện bằng các
hình thái hiện vật cụ thể. Đó là những khoản chi cho phát minh sáng chế,

9
9
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
nhãn hiệu thương mại, các chi phí đầu tư ban đầu cho việc khảo sát thăm
dò, chi phí cho việc đào tạo cán bộ…
Do tài sản cố định có chu kỳ vận động dài do đó sau nhiều năm mới
có thể thu hồi đủ vốn ban đầu đã đầu tư nên đồng vốn luôn bị đe doạ bởi
những rủi ro những nguyên nhân khách quan làm thất thoát vốn. Phân loại
tài sản cố định theo hình thái này giúp doanh nghiệp trong việc quản lý và
tính toán khấu hao chính xác và hợp lý.
Ngoài ra tài sản cố định còn phân loại theo hiện trạng sử dụng: tài
sản cố định chia thành tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định chưa dùng
và tài sản cố định chờ thanh lý.
Theo sự phân chia này doanh nghiệp sẽ nắm bắt được tình hình sử
dụng vốn cố định hiện tài cũng như khả năng sử dụng tiềm tàng để có thể
điều chỉnh lại cơ cấu vốn cố định một cách hợp lý tránh tình trạng lãng phí
do sự tồn đọng vốn chưa sử dụng một cách có hiệu quả.
Như vậy: vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất là biểu hiện
bằng tiển giá trị của tài sản cố định. Nó có thể tham gia toàn bộ hoặc một
phần vào quá trình sản xuất nhưng chỉ luân chuyển giá trị từng phần vào
giá trị sản phẩm, phần giá trị luân chuyển này sẽ trở về doanh nghiệp sau
khi quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá kết thúc.
 vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiển toàn bộ tài sản lưu động nhằm
đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên

11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Vốn lưu động gắn chặt với từng bước thực hiện của hoạt động sản
xuất kinh doanh, như vậy để sử dụngvốn lưu động có hiệu quả thì phải căn
cứ vào thực tế hoạt động sản xuất kinh doan, tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp để xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn,
hay thiếu vốn.
 Trên giác độ nguồn hình thành của vốn:
Vốn được phân chia thành vốn tự có và vốn vay:
 vốn tự có( vốn chủ sở hữu):
Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của các chủ sở hữu doanh
nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. doanh nghiệp về
mặt pháp lý là người sở hữu nguồn vốn này có toàn quyền sử dụng chúng,
tỷ trọng vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn phản ảnh mức độ sở hữu và
chủ động của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Ở mỗi loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau thì nguồn vốn này
cũng có nguồn khác nhau:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn vốn này là vốn ngân
sách, ngân sách nhà nước cấp một phần vốn ban đầu thì doanh nghiệp bắt
đầu hoạt động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp sau đó,
doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của ngân sách nhà
nước cấp. Bên cạnh đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,

12
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí

chức kinh tế xã hội dưới các hình thức như tín dụng ngân hàng, tín dụng
thương mại , …Sử dụng vốn nợ doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí
nhờ thuế, nhưng cũng không phải có lợi hoàn toàn, vì bên cạnh đó còn các
yếu tố về khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ, tỷ lệ lãi vay…
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau
như tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá
lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp… song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị
tài sản cho các chủ sở hữu. Do đó mỗi doanh nghiệp phải có cơ cấu vốn
hợp lý, cân nhắc các yếu tố bên trong và bên ngoài để đưa ra các quyết định
nhằm tối thiểu hóa chi phí, tăng gía trị tài sản của chủ sở hữu.
 Theo quá trình tuần hoàn vốn:
Vốn của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:
- Vốn dự trữ: là hiện thân bằng tiền toàn bộ giá trị của các loại tài sản
dự trữ trong doanh nghiệp. Tài sản dự trữ là các loại tài sản chưa được đưa
vào quá trình sản xuất hoặc lưu thông như giá trị còn lại của tài sản cố định,
nguyên vật liệu tồn kho, tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng.
- Vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ giá trị sản xuất như sản
phẩm dở dang đang nằm trên dây chuyền sản xuất, các loại chi phí tiền
lương chi phí quản lý…

14
14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Vốn lưu thông là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản lưu
thông của doanh nghiệp. Tài sản lưu thông của doanh nghiệp là loại tài sản
đang tồn tại trên kĩnh vực lưu thông như hàng hoá gửi bán chi phí bán hàng
các khoản phải thu. Sau quá trình lưu thông giá trị sản phẩm được thực

trách nhiệm hữu hạn…Có vốn doanh nghiệp mới có điều kiện để trang bị
các thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như
văn phòng, phương tiện hoạt động, … cùng với việc ứng dụng khoa học
vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi
mới thiết bị, công nghệ, phương pháp quản lý,…của doanh nghiệp trong
suốt quá trình hoạt động.
Số lượng vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu
thức quan trọng để xếp doanh nghiệp vào qui mô lớn, hay nhỏ và nó cũng
là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào
doanh nghiệp. ví dụ khi doanh nghiệp có ít vốn thì chỉ có thể sử dụng các
loại máy móc có công nghệ trung bình và sử dụng nhiều nhân công. Ngược
lại doanh nghiệp có lượng vốn lớn thì có khả năng sử dụng công nghệ hiện
đại, tiết kiệm được nhiều chi phí và nhân công. Ngoài ra vốn của doanh
nghiệp lớn hay nhỏ còn quyết định đến qui mô thị trường và khả năng mở
rộng thị trường của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp vốn còn đóng vai trò thể hiện ở chức năng giám
đốc tài chính đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Mọi hoạt động

16
16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể đánh giá có hiệu quả kinh
doanh hay không thông qua các chỉ tiêu sinh lời.
Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
từ khoản mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm. Hơn nữa
trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn tồn
tại và phát triển phải có các bí quyết công nghệ tiên tiến để nâng cao năng
xuất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tiêu thụ sản phẩm. Để

doanh.
Nhận biết được vai trò của vốn trong kinh doanh, nhưng để có được
lượng vốn cần thiết thì nhất thiết doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo
lập hữu hiệu và phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và
hợp lý. Tuy nhiên sử dụng hình thức tạo lập nào, thời hạn dài hay ngắn, chi
phí huy động cao hay thấp… bắt buộc doanh nghiệp phải luôn có sự cân
nhắc, vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tối thiểu hoá chi
phí, hạn chế thấp nhất rủi ro nhằm thực hiện được các mục tiêu của mình.
Mặt khác mỗi doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi
thế riêng và những hạn chế nhất định. Chính vì vậy mỗi doanh nghiệp phải
tự đánh giá phân tích những ưu và nhược điểm của mình để tìm ra những
phương thức tạo lập vốn phù hợp nhất hiệu quả nhất phát huy khả năng
tiểm ẩn và hạn chế những nhược điểm.

18
18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
1.2 Tạo lập vốn, các hình thức tạo lập và các nhân tố ảnh hưởng đến việc
tạo lập vốn
1.2.1 Khái niệm tạo lập vốn
Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh mà
mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo lập vốn khác nhau. Nhưng sử
dụng hình thức nào phù hợp nhất mang lại hiệu quả cao nhất còn là vấn đề
khó khăn của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường
với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ ở thị trường tiêu thụ mà cả ở thị trường
vốn, thì vấn đề tạo lập vốn và phương thức tạo lập vốn trở nên hết sức cấp
thiết, luôn được các nhà quản lý đặt lên hàng đầu. Để giải quyết nó thì
trước hết doanh nghiệp phải chủ động, tích cực tìm kiếm các nguồn để thu

quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp trước đây và hiện nay là cục tài
chính doanh nghiệp trực thuộc bộ tài chính đảm nhận có sự chứng kiến của
các đại diện cơ quan ra quyết định thành lập doanh nghiệp. Trong thời kỳ
bao cấp nhà nước tài trợ hầu như toàn bộ vốn kinh doanh cho các xí nghiệp
quốc doanh trong nền kinh tế, nên có hiện tượng ỉ lại vào sự bao cấp của
nhà nước. Hậu quả là làm giảm tính năng động của các xí nghiệp trong việc
chủ động khai thác các nguồn vốn cũng như tìm kiếm các giải pháp để bảo
toàn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Khi bước sang cơ chế thị trường

20
20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
đi đôi với việc mở rộng và khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát
triển, chính phủ đã xúc tiến các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính
đối với khu vực kinh tế quốc doanh nhằm giảm bớt gánh nặng cho Ngân
sách nhà nước. Các doanh nghiệp chủ động bổ sung phần thiếu hụt bằng
các nguồn tài trợ khác.
- Đối với công ty cổ phần: vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp
thông qua việc mua cổ phần. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty cổ
phần, việc phân chia quyền kiểm soát và lợi nhuận sau thuế căn cứ vào tỉ lệ
vốn góp. Trong công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, qui định
quyền và nghĩa vụ của các cổ đông.
- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: vốn góp ban đầu do các bên
tham gia đóng góp theo tỉ lệ thoả thuận và đây là căn cứ để phân chia lợi
nhuận.
- Đối với công ty hợp danh: các thành viên cũng tiến hành góp vốn
để thành lập công ty nhưng được phân chia thành hai loại đối tượng: vốn
do thành viên hợp danh đóng góp là yếu tố chính để thành lập doanh

ngoài. Tuy nhiên nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực
hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận,
được phép tiếp tục đầu tư. Ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố khác.

22
22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Chẳng hạn đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư không chỉ phụ
thuộc vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc
vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của nhà nước.
Mặt khác đối với công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liện quan đến
một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong
năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần,
các cổ đông không được nhận số lợi nhuận đó nhưng bù lại họ có quyền sở
hữu số cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy giá trị ghi sổ của các cổ
phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này
một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài nhưng mặt khác dễ làm
giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt (ngắn hạn) do cổ
đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp
hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì cổ phiếu có thể bị giảm sút. Do đó để
đảm bảo mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu mà không làm
giảm giá cổ phiếu trên thị trường, chính sách phân phối cổ tức của công ty
cổ phần phải lưu ý đến một số vấn đề liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ
phiếu của công ty tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó.
- Hiệu quả của việc tái đầu tư


24
24
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
 Rủi ro được tiếp tục phân tán cho các cổ đông mới nên độ
rủi ro tính trên một đồng vốn chủ sở hữu giảm đi
+ đối với người mua:
 Có quyền yêu cầu về thu nhập nên công ty hoạt động càng
hiệu quả, cổ tức càng cao do không giới hạn về thu nhập
 Có quyền kiểm soát đối với hoạt động của công ty
 Trở thành chủ sở hữu công ty, lợi nhuận kỳ vọng từ khoản
đầu tư này cao hơn so với chủ nợ.
Bên cạnh những thuận lợi rất hấp dẫn thì cổ phiếu thông thường
cũng có những hạn chế:
+ đối với nhà phát hành:
 Quyền kiểm soát bị chia sẻ
 Do rủi ro của việc sử dụng vốn từ phát hành cổ phiếu thấp
nên khả năng sinh lời sẽ giảm đi
 Chi phí vốn cao hơn chi phí nợ vì đây là chi phí cao nhất
trong các loại vốn huy động
 Chi phí vốn chủ sỏ hữu là chi phí sau thuế nên không được
lợi từ khoản tiết kiệm nhờ thuế
+ đối với người mua:
 Quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản là sau cùng

25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status