Lời nói đầu
Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 có những đổi mới đáng kể
trong định hớng và phát triển nền kinh tế theo định hớng XHCN.
Nhằm phát triển và hội nhập nền kinh tế thế giới qua những năm đối đầu
đổi mới nền kinh tế nớc ta đã trải qua nhiều thử thách và đã đạt đợc một số
thành tựu nhất định đáng khích lệ.
Để có đợc những thành tựu nh ngày hôm nay, nền kinh tế nớc ta đã có
những thay đổi đáng kể về định hớng và cơ cấu ngành nghề. Bên cạnh sự thay
đổi đó có một nhân tố tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của cả nền kinh tế đó
là "ngân hàng". Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh tới sự phát triển
của nền kinh tế thông qua chức năng điều chuyển vốn cho nền kinh tế, nhằm
khai thác triệt để những tiềm lực vốn có của cả nền kinh tế về vốn và các công
cụ tài chính.
Thông qua chức năng điều chuyển vốn cho nền kinh tế Nhà nớc có thể
dựa vào ngân hàng để điều chỉnh nền kinh tế theo định hớng của mình để tạo
nên một nền kinh tế phát triển vững mạnh về mọi mặt và có định hớng của
XHCN.
Tuy nhiên thông qua chức năng điều chuyển vốn của ngân hàng nó cũng
có một số nhợc điểm và gây tác hại cho ngân hàng, đó là rủi ro trong cho vay,
đầu t của ngân hàng cho các đối tợng của nền kinh tế. Vì vậy công tác hạn chế
và phòng ngừa rủi ro cho vay luôn đợc các ngân hàng thơng mại quan tâm.
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề, sau thời gian thực tập tại Ngân
hàng công thơng Thanh Hoá tôi đã quyết định chọn đề tài: "Giải pháp phòng
ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay tại ngân hàng công thơng Thanh Hoá".
1
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là:
- Nghiên cứu về rủi ro trong cho vay trên phơng diện lý thuyết.
- Thông qua thực trạng hoạt động cho vay tại Ngân hàng công thơng
Thanh Hoá để đánh giá tình hình rủi ro trong cho vay của chi nhánh.
- Đa ra một số kiến nghị và đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro
trong cho vay.
các nhà ngân hàng lại có sẵn trong két những khoản tiền lớn không sinh lời. Khi
cho vay các nhà ngân hàng đợc nhận các khoản trả tiền lãi từ ngời vay tiền.
Chính vì các khoản thu này đã khuyến khích các ngân hàng muốn nhận đợc
nhiều tiền gửi để cho vay và họ đã chuyển từ việc thu phí ngời gửi tiền sang việc
miễn phí tiền gửi thậm chí còn trả cho ngời gửi tiền một khoản tiền gọi là lãi
tiền gửi. Khi mà tồn tại các nghiệp vụ cho vay, thanh toán và nhận tiền gửi có
thể nói ngân hàng đã đợc hình thành.
3
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thơng mại (NHTM)
Khi nghiên cứu về NHTM các nhà kinh tế đã đa ra rất nhiều quan điểm
khác nhau về NHTM. Có ý kién cho rằng: "NHTM là tổ chức tài chính nhận
tiền gửi và cho vay", có ý kiến lại cho rằng: "NHTM là trung gian tài chính có
giấy phép kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi,
kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc". Sở dĩ có nhiều quan điểm khác nhau
về NHTM là do các nghiệp vụ của ngân hàng rất đa dạng, các thao tác của từng
nghiệp vụ ngân hàng lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi
chung của nền kinh tế. Mặt khác do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi
vùng khác nhau đã dẫn đến những quan niệm khác nhau về NHTM.
Còn theo luật ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính của
Việt Nam ban hành ngày 24/5/1990 thì: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ
mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu
và làm phơng tiện thanh toán".
Nh vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực
tiền tệ. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu t và thực hiện các
nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ NHTM đã chứng tỏ đợc sự
cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trờng, ngân
hàng là đòn bảy của nền kinh tế.
1.1.1.2. Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM
- Nghiệp vụ huy động vốn: Đây là nghiệp vụ cơ bản của NHTM. Nó
trong cho vay là vấn đề cấp bách luôn đợc các NHTM quan tâm:
- Các hoạt động dịch vụ
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản trên, NHTM còn thực hiện một số hoạt động
dịch vụ để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, nhằm thu hút khách hàng tới
5
với ngân hàng và để có thêm khoản thu khác ngoài thu từ lãi cho vay. Các dịch
vụ của ngân hàng nh:
+Dịch vụ thanh toán hộ
+ Dịch vụ mua bán và môi giới chứng khoán
+ Dịch vụ t vấn
+ Dịch vụ quản lý tài sản và các chứng từ có giá.
Có thể nói các nghiệp vụ của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
trong quá trình vận hành của cả bộ máy. Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ
tạo tiền đề cho các nghiệp vụ tín dụng, đầu t. Thông qua nghiệp vụ tín dụng,
đầu t mang lại thu nhập cho ngân hàng để tái tạo các nguồn vốn khác. Còn các
dịch vụ khác của ngân hàng nhằm thu hút khách hàng đến với ngân hàng tạo
điều kiện cho việc mở rộng huy động vốn và mở rộng thị trờng kinh doanh của
NHTM. Tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ quan trọng nhất. Vì
nghiệp vụ này nó quyết định đến cả một qt kinh doanh của ngân hàng đó là lợi
nhuận.
1.1.2. Nghiệp vụ cho vay của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm về cho vay
Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên
chuyển giao tiền cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời
bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng khi thực
hiện tín dụng ngân hàng. Đây là nghiệp vụ chủ yếu khi ngân hàng quyết định
cấp tín dụng cho khách hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập chủ yếu
cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm
ẩn có thể xảy ra với ngân hàng. Do vậy các NHTM luôn phải quan tâm tới rủi ro
7
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá. Ngân hàng cấp tín
dụng cho khách hàng khi có nhu cầu về vốn để mua hàng hoá, và sẽ thu vốn về
khi khách hàng bán đợc hàng. Hình thức cho vay này đơn giản thuận lợi cho
khách hàng về thời gian và thủ tục.
- Cho vay trả góp:
Là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Hình thức này thờng đợc áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn,
tài trợ cho tài sản cố định.
Cho vay trả góp chứa đựng rủi ro cao do khách hàng thờng thế chấp bằng
hàng hoá mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập của ngời vay do
đó lãi suất của hình thức này thờng cao hơn lãi suất thông thờng.
- Cho vay gián tiếp:
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Các tổ chức
có thể đứng ra bảo lãnh cho các thành viên trong nhóm vay khi mà các thành
viên không có tài sản thế chấp. Qua hình thức cho vay này ngân hàng có thể mở
rộng thị trờng và qua hình thức này ngân hàng hỗ trợ phát triển kinh tế cho các
hộ nghèo không có điều kiện vay vốn của ngân hàng trực tiếp.
1.1.2.3. Vai trò của hàng hoá cho vay đối với nền kinh tế
Hoạt động cho vay của ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với nền
kinh tế. Nó là đòn bảy kinh tế phục vụ cho quá trình sản xuất và lu thông hàng
hoá bởi đặc trng cơ bản của tín dụnglà sự vận động dựa trên cơ sở hoàn trả và có
lợi tức. Thông qua nghiệp vụ này nhà nớc có thể điều chỉnh sự phát triển cơ cấu
ngành nghề của cả nền kinh tế và thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế
theo định hớng của đất nớc.
Thông qua nghiệp vụ cho vay của các NHTM nó đã thúc đẩy nền kinh tế
phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng. Nó tác động trực tiếp tới từng ngành
8
nghề tới công nghệ, máy móc trang thiết bị phục vụ cho quá trình công nghiêp
do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi.
Khi ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay cụ thể thì trong hoạt động đó
luôn hàm chứa rủi ro tiềm ẩn, rủi ro này nó sẽ làm giảm khoản thu nhập của
ngân hàng. Do đó trong hoạt động quản lý toàn bộ ngân hàng luôn xác định một
tỷ lệ tổn thất dự kiến nhằm hạn chế mức tối thiểu các thiệt hại về tài sản do các
rủi ro cho vay gây ra.
1.2.2. Các hình thức rủi ro cho vay
Theo khái niệm về rủi ro tín dụng thì rủi ro tín dụng đợc chia thành các
hình thức sau:
- Không thu đợc lãi đúng hạn
Lúc này ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh.
Hình thức rủi ro này đợc xếp vào mức rủi ro thấp.
- Không thu đợc vốn đúng hạn
Khi không thu đợc vốn đúng hạn thì tình hình sử dụng vốn bị ảnh hởng và
ảnh hởng tới tính thanh khoản của tài sản. Hình thức này gây rủi ro lớn trong
nhiệm vụ đảm bảo thanh khoản và tình hình sinh lời của tài sản.
- Không thu đủ lãi
Khi ngân hàng không thu đợc đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm
trọng. Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã gặp khó khăn không hiệu
quả trong việc sử dụng vốn. Lúc này ngân hàng cần có những biện pháp hỗ trợ
khách hàng nh giảm lãi, t vấn cho khách hàng hoặc có thể cung cấp thêm những
khoản tín dụng cần thiết cho khách hàng nếu dự án đang đầu t là khả thi.
- Không thu đủ vốn cho vay
10
Khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay tại thời điểm này, ngân hàng sẽ
chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ.
Trên đây là bốn hình thức rủi ro cho vay có thể xảy ra đối với các ngân
hàng. Qua nghiên cứu để nhận biết và các biện pháp xử lý rủi ro một cách có
hiệu quả nhất.
khách hàng vào ngân hàng bị giảm. Nó sẽ ảnh hởng trực tiếp tới lợng khách
hàng tới ngân hàng để gửi tiền cũng nh sử dụng các dịch vụ của ngân hàng do
đó quy mô hoạt động của ngân hàng bị ảnh hởng và gây ra những tổn thất về tài
chính.
Mặt khác nếu ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro trong cho vay thì khả năng
phá sản của các ngân hàng đó là rất cao. Bởi vì khi mà ngân hàng gặp nhiều rủi
ro trong kinh doanh thì khả năng thanh toán hay tính thanh khoản của ngân
hàng là không cao. Mà khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây tâm lý
bất ổn cho ngời gửi tiền về khả năng chi trả củann dẫn tới họ rút tiền hàng loạt
thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn nó có thể sẽ bị phá
sản.
Hậu quả phá sản của một ngân hàng không chỉ mình bản thân ngân hàng
đó gánh chịu mà nó còn tác động tới những ngân hàng có quan hệ với ngân
hàng này. Điều này gây ra sự phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt
của các ngân hàng ảnh hởng tới toàn bộ nền kinh tế. Chính vì những hậu quả
khó lờng khi mà rủi ro tín dụng gây ra nh các cuộc khủng hoảng tài chính năm
1997. Nó đã làm nền kinh tế các nớc khu vực châu á lâm vào khủng hoảng
nặng nề. Vì vậy mỗi ngân hàng phải luôn quan tâm tới rủi ro trong cho vay
cũng nh rủi ro tín dụng để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thực sự là đòn bảy cho nền kinh tế phát triển.
1.3. Các nhân tố ảnh hởng tới rủi ro cho vay
12
1.3.1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
- Trong quá trình cho vay, cán bộ ngân hàng làm sai quy tắc tín dụng,
hoặc trình độ yếu kém không đủ khả năng thẩm định những dự án phức tạp,
trình độ chuyên môn còn hạn chế cha bắt kịp với những thay đổi của thị trờng,
chính những yếu điểm này đã tạo ra khe hở cho khách hàng chiếm đoạt vốn của
ngân hàng.
- Bên cạnh đó yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng. Các ngân
hàng đã quên nhiệm vụ đảm bảo an toàn mà chạy theo chính sách lợi nhuận. Bỏ
là trờng hợp bất khả kháng khó mà lờng trớc đợc.
+ Bản thân doanh nghiệp bị lừa đảo hoặc bị ảnh hởng từ phía khách hàng
của doanh nghiệp.
Ngoài các trờng hợp nêu trên còn có rủi ro xuất phát từ chính sự yếu kém
của bản thân doanh nghiệp. Sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trờng luôn đặt
doanh nghiệp trong tình trạng phải có sự nỗ lực cao độ vì bất kì một sự sai sót
nào trong phơng thức quản lý kinh tế cũng nh quản lý tài chính đều dẫn đến
thua lỗ, phá sản doanh nghiệp ảnh hởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp
1.3.3. Nguyên nhân từ môi trờng kinh doanh
- Môi trờng kinh tế: Môi trờng kinh tế tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực
kinh doanh của ngân hàng cũng nh của doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Khi nền kinh tế đang tăng trởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có
hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ đợc cho ngân hàng. Ngợc lại khi nền kinh
tế rơi vào suy thoái, mất ổn định đã làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó
khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, sức mua bị giảm sút,
hàng hoá bị ứ đọng điều này ảnh hởng tới các khoản nợ của các ngân hàng.
Ngoài ra, các chính sách kinh tế vĩ mô nó tác động tới hoạt động của
ngân hàng. Chính phủ sẽ u tiên hơn về luật pháp, điều kiện kinh doanh trong
14
lĩnh vực chính phủ khuyến khích đầu t phát triển và ngợc lại. Do những chính
sách kinh tế của chính phủ nó đã làm giảm bớt khách hàng đến với ngân hàng
từ các lĩnh vực mà nhà nớc không khuyến khích phát triển.
- Môi trờng chính trị, xã hội
Môi trờng chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu t phát
triển. Đây cũng là điều kiện để thu hút đầu t của các doanh nghiệp. Ngợc lại
nếu môi trờng chính trị, xã hội không ổn định thì các doanh nghiệp không thể
yên tâm mà phát triển và luôn đặt trong rủi ro có thể ập tới bất kì lúc nào đối với
doanh nghiệp cũng nh ngân hàng.
- Môi trờng pháp lý: Nếu nh một đất nớc xây dựng đợc một hành lang
pháp lý thông thoáng và có hiệu lực sẽ thu htú đợc đông đảo các nhà đầu t vào
Là một chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Công thơng Việt Nam bao gồm
có hội sở chính tại Thành PhốThanh Hoá và hai đơn vị phụ thuộc là Ngân hàng
công thơng Bỉm Sơn và Ngân hàng Công thơng Sầm Sơn.
Ngân hàng Công thơng Thanh Hoá có số biên chế 295 cán bộ với mạng l-
ới hoạt động.
- Hội sở chính gồm có 7 phòng ban trong đó phòng giao dịch và một
khách sạn.
- Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bỉm Sơn bao gồm 4 phòng ban và 2
phòng giao dịch.
- Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Sầm Sơn bao gồm: 4 phòng ban và
một phòng giao dịch.
Thanh thoá là một tỉnh nằm trên trục giao thông chính Bắc Nam với dân
số khoảng 3,5 triệu ngời sinh sống rộng khắp trên bốn vùng kinh tế lớn các tỉnh
đó là đồng bằng vùng biển, miền núi và trung du và miền núi nên có nhiều
thuận lợi trong phát triển kinh tế nh nguồn nhân lực dồi dào, số lao động phổ
thông đông đảo đủ để phát triển nông lâm, ng nghiệp.
Nhng nền kinh tế có xuât phát điểm thấp kém nhịp độ tăng trởng còn
chậm so với tốc độ tăng trởng bình quân của cả nớc, khả năng tích luỹ từ nội bộ
nền kinh tế còn thấp, nguy cơ tụt hậu kinh tế lớn. Kinh tế quốc doanh với thiết
17
bị công nghệ lạc hậu, chất lợng sản phẩm hàng hoá còn thấp, hiệu quả kinh tế
cha cao, thiếu năng động, cha xây dựng đợc nhiều dự án khả thi để đầu t và gọi
vốn nớc ngoài. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm từ những điểm cơ bản này
nó ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng nói chung trong
đó có Ngân hàng Công thơng.
Trong những năm qua Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá đã góp phần
tích cực cho sự phát triển của kinh tế tỉnh nhà bằng việc mở rộng đầu t tín dụng
cho các ngành các lĩnh vực để phát triển kinh tế tỉnh nhà một cách cân đối trong
cơ cấu ngành. Trong những năm qua Ngân hàng Công thơng không ngừng tăng
trởng về vốn góp phần không nhỏ trong việc giải quyết tình trạng thiếu vốn tăng
0
104 483670 107
Kp - tp 23669 102 41294 174 24506 60
Nguồn: Báo cáo về tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn toàn tỉnh
Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá
Qua số liệu bảng trên cho ta thấy tổng nguồn vốn huy động của Ngân
hàng Công thơng - Thanh Hoá trong ba năm gần đây liên tục tăng trởng ổn định
với tốc độ cao.
Trong số các nguồn vốn huy động nguồn tiền gửi các TCKT và TG dân
c liên tục tăng trong ba năm từ 2001 - 2003. Nguồn tiền gửi của TCKT tăng tr-
ởng với mức độ bình quân từ 18% - 20% trên một năm. Còn nguồn tiền gửi của
dân c cũng tăng nhng kém hơn nó tăng khoảng 4% - 7% trên một năm. Điều
này chứng tỏ uy tín của Ngân hàng Công thơng Thanh Hoá ngày càng cao đợc
nhiều ngời tín nhiệm và qua tốc độ tăng trởng vốn của tiền gửi của TCKT tăng
hàng năm vào khoảng 20% vào năm 2002 18% vào năm 2003. Chứng tỏ Ngân
hàng Công thơng Thanh Hoá đã tạo đợc lòng tin cho khách hàng và hoạt động
dịch vụ của Ngân hàng phục vụ cho khách hàng ngày càng đợc nâng cao.
Trong những năm gần đây Ngân hàng Công thơng Thanh Hoá đã nắm bắt
đợc đặc điểm của tình, đa số ngời dân trong tỉnh là dân lao động nên lợng tiền
nhàn rỗi trong dân tơng đối lớn, triệt để khai thác nguồn vốn này là một chủ tr-
19
ơng đúng đắn của Ngân hàng Công thơng nhằm nâng cao chất lợng nguồn vốn
huy động đợc trong hai năm gần đây nguồn tiền gửi dân c liên tục tăng từ 4%
2002 tới 7% 2003. So với các năm trớc với những chính đúng đắn nhất lãi suất,
phát triển các dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng Công thơng Thanh Hoá đã đạt đợc
một số thành tựu đáng kể trong những năm gần đây với tốc độ tăng trởng nguồn
vốn cao. Huy động đợc phần lớn nguồn tiền nhàn rỗi từ dân c vào sản xuất kinh
doanh.
2.2.2. Tình hình sử dụng vốn.
Nhờ nguồn vốn huy động dồi dài, Ngân hàng Công Thơng - Thanh Hoá
Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá
Theo số liệu bảng trên cho ta thấy tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng
Công thơng Thanh Hoá trong ba năm gần đây đều tăng với mức tăng trởng cao.
Năm sau cao hơn năm trớc năm 2001 tốc độ tăng trởng khoảng 27% thì các
năm 2002 và 2003 đạt tới mức 33% và 36%. Qua bảng số liệu này cho chúng ta
biết đợc sự tăng tởng trong nền kinh tế của tỉnh đang đợc hâm nóng. Đây cũng
là kết quả hoạt động tích cực của các hộ công nhân viên trong chi nhánh -
Thanh Hoá cộng với những chính sách phù hợp trong hoạt động kinh doanh
Ngân hàng Công thơng Thanh Hoá đã đợc những kết quả đáng khích lệ, góp
phần vào phát triển nền kinh tế đang còn non trẻ của tỉnh nhà.
Mặt khác quan hệ số sử dụng vốn qua ba năm hoạt động kinh doanh
2001, 2002, 2003 ta thấy đợc hệ số sử dụng vốn ngày càng tăng từ 56%, 64%,
86% qua hệ số này chứng tỏ việc huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng
Công thơng Thanh Hoá ngày càng có hiệu quả cao về số tơng đối và số tuyệt
đối. Riêng có năm 2003 hệ số sử dụng vốn đạt mức 86% đây là hệ số; tiền gửi
Ngân hàng nào đạt đợc lợng vốn huy động đợc từ nền kinh tế đã đợc Ngân hàng
sử dụng có hiệu quả cao trong nghiệp vụ tài trợ.
Bảng 3: Thực trạng d nợ tại Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá phân tích
theo thời hạn tín dụng
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2001 2002 2003
21
Số tiền % %/2000 Số tiền % %/2001 Số tiền % %/2002
D nợ 289615 100 116 386336 100 133 52620
8
100 136
NH 23851
3
82 123 321942 83 135 440644 84 137
ty cổ phần VLXD Bỉm Sơn. Công ty gồm Bỉm Sơn và đang giải ngân Dự án mở
rộng 13 mạng cáp quang của Bu điện tỉnh Thanh Hoá. Thẩm định xong dự án
chế biến sữa của công ty cổ phần Đờng Lam Sơn và đang thẩm định dự án
Khách Sạn Sao Mai... đã có hoạch giải ngân vào năm 2004.
Bên cạnh các dự án đầu t trên chi nhánh còn đầu t cho các dự án phát
triển kinh tế trang trai, dự án chăm sóc và trồng 3.200 ha cà phê chè với tổng dự
án là 42 tỷ đồng. Chi nhánh cũng đã quan tâm tới các dự án cho vay phát triển
kinh tế biển nuôi trồng thuỷ, hải sản và chế biến từ đó tạo công ăn việc làm cho
ngời dân và góp phần phát triển kinh tế của toàn tỉnh.
Nhìn chung vốn tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Công thơng Thanh
Hoá đã thực sự phát huy hiệu quả. Nhờ vay vốn Ngân hàng mà các doanh
nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ hiện đại, thay thế dây chuyền sản xuất,
thiết bị máy móc lạc hậu không phù hợp với quy mô sản xuất, từ đó làm tăng
năng lực sản xuất tạo thế ổn định và phát triển trong kinh doanh cho các doanh
nghiệp và để lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Đây là kết quả đạt đợc đồng khích lệ đối với toàn bộ cán bộ công nhân
viên của chi nhánh đã góp phần cho sự phát triển của Ngân hàng Công thơng -
Thanh Hoá của nền kinh tế tỉnh nhà.
2.2.3. Các hoạt động khác của Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá.
Ngoài hai hoạt động cơ bản trên là huy động và cho vay thì Ngân hàng
Công thơng - Thanh Hoá còn thực hiện một số hoạt động nh:
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
23
- Do đặc điểm kinh tế của tỉnh chủ yếu là phát triển nông lâm nghiệp, thủ
công nghiệp và cha có những chính sách thu hút đầu t bên ngoài. Do đó tên địa
bàn cha phát triển nhiều doanh nghiệp mua - bán và hợp tác kinh doanh với các
đối tác bên ngoài. Vì vậy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng Công
thơng - Thanh Hoá cũng bị hạn chế.
Trong năm 2003 chi nhánh đã thực hiện công tác kinh doanh ngoại tệ đạt
kết quả :
gần đây liên tục có những biến độ theo chiều hớng sâu.
Bảng 4: Thực trạng nợ quá hạn tại Ngân hàng Công thơng Thanh Hoá
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
1. NQH 4084 12178 7843
2. Tổng d nợ 289615 386336 526208
3. Tỷ trọng (1/2) 1,41% 3,15% 1,49%
Nguồn: Báo cáo tình hình huy động vốn và sử dụng vốn toàn tỉnh Ngân
hàng Công thơng - Thanh Hoá
Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng Công
thơng - Thanh Hoá có những chuyển biến sâu tình hình nợ quá hạn đột nhiên
tăng 8094 triệu đồng của năm 2002 so 2001 đây là chỉ số chứng tỏ năm hoạt
động kinh doanh của ngân hàng là không tốt. Mặt tỷ trọng giữa NQH/Tổng d nợ
của năm 2002 tăng 1,74%. So với năm 2001. Nói tóm lại tình hình xử lý nợ và
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá ở năm 2002 gặp
khó khăn và không hiệu quả
Qua một năm 2002 hoạt động kinh doanh và xử lý nợ quá hạn không
hiệu quả tới năm 2003 Ngân hàng Công thơng - Thanh Hoá đã có những điều
chỉnh nề quy chế pháp lý và một số điều chỉnh khác. Do đó năm 2003 đã đạt đ-
ợc một số kết quả trong kinh doanh và xử lý nợ quá hạn kìm hãm sự gia tăng
25