P. Kế hoạch thị trường
Nhiệm vụ:
- Qlý KH
- Thị trường Mar
- Điều động SX
- Làm thủ tục XNK
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
P.
TCCB
LĐTL
Nhiệm vụ:
- Qlý CB
- Tchức
bộ máy
- Các chế độ CS đối với người lao động
- TT, bảo vệ
Các phân xưởng may, cắt, hoàn thiện
Các đơn vị kinh doanh
Chi nhánh, cửa hàng, trung tâm
Phòng Hành Chính
Nhiệm vụ:
- Quản trị
- Văn thư
- Phục vụ các hoạt động của Cty tại VP
P. KTTC
Nhiệm vụ:
- Tổ chức, hạch toán
- Quản lý vốn
Kế toán bán hàng, thanh toánKế toán CP SX, tính giá thànhKế toán tiền lương, thủ quỹKế toán TSCĐ,NVL và CCDC
Kế toán
ngân hàng
Chứng từ gốc
Nhật ký chứng từ
Bảng kê
Sổ kế toán
chi tiết
Sổ Cái
Bảng tổng hợp chi tiết
Báo cáo tài chính
Bảng phân bổ
Nguyên liệu
Thiết kế - Giác mẫu
Phân xưởng cắt
Kho bán thành phẩm
Phân xưởng may
KCS sản phẩm may
Thùa - Đính, Là - Gấp
KCS - QA
Xếp hộp, đóng kiện
Nhập kho thành phẩm
Phiếu NX kho, Phiếu theo dõi bàn cắt,...
Sổ chi tiết TK 621
Tổng hợp nhập xuất tồn kho NVL
Bảng phân bổ NVL, CCDC
Nhật ký chứng từ số 7
Sổ cái TK 621
Bảng kê số 4
Bảng thanh toán tiền lương, tiền thưởng và các chứng từ liên quan
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, được xác định là khâu
trọng tâm của toàn bộ công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất, nếu
hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất
kinh doanh.
Công ty cổ phần vải sợi may mặc Miền Bắc là một doanh nghiệp lớn
trong ngành dệt may của cả nước. Để có được vị thế như ngày hôm nay, Công
ty đã luôn coi trọng việc xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn bộ máy quản
lý nói chung và công tác kế toán nói riêng, nhất là bộ phận kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với chính sách, chế độ Nhà nước và
tình hình cụ thể của Công ty.
1
Trong 15 tuần thực tập, qua quá trình tìm hiểu về đặc điểm hoạt động sản
xuất kinh doanh ở Công ty và nhận thấy vai trò quan trọng của công tác hạch
toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cô, các anh chị trong phòng kế toán và sự hướng dẫn chi tiết của thầy giáo
Phạm Quang, em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm may gia công tại Công ty cổ phần vải sợi may
mặc Miền Bắc” với mục đích hiểu sâu hơn về quá trình hạch toán phần hành
này trong thực tế ở các doanh nghiệp sản xuất.
Trong phạm vi của chuyên đề thực tập tốt nghiệp này, em xin trình bày
những phần chính như sau:
Phần I - Đặc điểm tình hình chung của Công ty cổ phần vải sợi may
mặc Miền Bắc.
Phần II - Thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm may gia công tại Công ty cổ phần vải sợi may mặc Miền Bắc.
Phần III - Phương hướng hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm may gia công tại Công ty cổ phần vải sợi may mặc
Miền Bắc.
2
2
Hiện nay đang là giai đoạn mà Công ty phải tự hoạt động mà không có
nhiều sự hỗ trợ của Nhà nước, và mặc dù phải chịu sự cạnh tranh rất gay gắt
của cơ chế thị trường với nhiều công ty cùng ngành nghề được thành lập và
phát triển nhưng kết quả hoạt động kinh doanh của 6 tháng cuối năm 2005 đã
cho thấy được vị thế ngày càng lớn của Công ty trong nền kinh tế nói chung
và trong ngành may mặc nói riêng ( Bảng số 01 kèm theo - Báo cáo kết quả
kinh doanh 6 tháng cuối năm 2005 ).
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Theo phương án cổ phần hoá năm 2004, bước sang năm 2005 Công ty vải
sợi may mặc Miền Bắc đã chính thức trở thành công ty cổ phần.
Căn cứ vào hình thức hoạt động thực tế, Công ty có chức năng chủ yếu là
tổ chức bộ máy quản lý và các đơn vị, văn phòng đại diện ở trong, ngoài nước
nhằm đáp ứng tốt mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty và phù hợp với
quy định của Nhà nước.
Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là đăng ký kinh doanh và kinh doanh đúng
ngành nghề đã đăng ký, chịu trách nhiệm trước khách hàng và trước pháp luật
về sản phẩm và dịch vụ công ty thực hiện. Thực hiện các nghĩa vụ đối với
người lao động theo quy định của Bộ luật lao động. Thực hiện chế độ báo cáo
thống kê, kế toán định kỳ theo quy định của Nhà nước và báo cáo bất thường
theo yêu cầu của Đại hội cổ đông và chịu trách nhiệm về tính xác thực của
các báo cáo. Đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của pháp luật.
4
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng số 01
BÁO CÁO TỔNG HỢP KQ HĐ SXKD DV VÀ HĐ KHÁC
Từ ngày 01/ 07/ 2005 đến ngày 31/ 12/ 2005
PHẦN I - Lãi, lỗ
kinh doanh
( 30 = 20 + ( 21 – 22) – ( 24 + 25 ) )
XI. Thu nhập khác
XII. Chi phí khác
XIII. Lợi nhuận khác
( 40 = 31 – 32 )
01
02
02A
02B
03
04
05
06
07
10
11
20
21
22
23
24
25
30
31
32
40
13.243.991.70
4
6.597.569.41
884.899.912
1.086.961.063
202.110.089
20.570.239
181.539.850
5
XIV. Tổng lợi nhuận trước thuế
( 50 = 30 + 40 )
XV. Thuế thu nhập DN phải nộp
XVI. Lợi nhuận sau thuế
( 60 = 50 – 51 )
50
51
60
2.723.110.516
884.899.91
2
1.086.961.06
3
202.110.089
20.570.23
9
181.539.85
0
1.268.500.91
3
449.279.38
2
819.221.53
1
doanh hiện nay ở Công ty chưa cao.
1.3.2. Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty
Công ty cổ phần vải sợi may mặc Miền Bắc kinh doanh các mặt hàng chủ
yếu là hàng vải, sợi, quần áo dệt kim. Hiện nay, Công ty được tổ chức với quy
mô lớn, hoạt động trên ba lĩnh vực: Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
1.3.2.1. Lĩnh vực sản xuất
Chuyên sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc, các loại túi thể thao, cặp học
sinh,... Đặc biệt trong việc sản xuất quần âu có chất lượng cao trên dây
chuyền thiết bị hiện đại, thích ứng với các khách hàng trong và ngoài nước,
công suất hàng năm khoảng 800.000 sản phẩm.
Thị trường xuất khẩu chính là EU, American, Canada, Japan, Australia,
Malaysia,... Trong tương lai công ty sẽ đẩy mạnh thêm sản xuất hàng nội địa
và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình.
1.3.2.2. Lĩnh vực kinh doanh
7
Cho đến nay, kinh doanh vẫn là hoạt động mang lại phần lớn doanh thu
cho Công ty. Vì công ty hoạt động trong ngành may mặc nên mặt hàng kinh
doanh chủ yếu của Công ty là vải, sợi, bông, hàng may mặc,... Tuy nhiên,
hiện nay quy mô kinh doanh của công ty đã bị thu nhỏ lại và chỉ thực hiện
hình thức bán buôn. Công ty cũng mở rộng thêm các mặt hàng kinh doanh
khác ngoài ngành như nguyên liệu làm bia, gạch men cao cấp, hàng giấy,
hàng nông sản thô và chế biến, vật liệu xây dựng,...
1.3.2.3. Hoạt động dịch vụ
Trong những năm gần đây quy mô kinh doanh của Công ty thu nhỏ lại
cho nên có một số kho hàng, nhà, xưởng sản xuất, cửa hàng không sử dụng
đến. Công ty đã tận dụng các kho, nhà, xưởng sản xuất, cửa hàng này cho các
đơn vị sản xuất thuê và thu về một khoản doanh thu dịch vụ cho thuê kho đều
đặn hàng năm khoảng gần 500 triệu. Số tiền này không lớn nhưng rất có ý
nghĩa vì không phải bỏ vốn lại tốn ít công sức lao động. Qua hoạt động này,
Công ty còn có cơ hội để mở rộng thêm quan hệ với các khách hàng mới, tạo
kiểm tra. Trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp sửa đổi bổ sung, cải tiến cơ
cấu tổ chức và cơ chế quản lý điều hành hoạt động của Công ty...
9
Sơ đồ 01: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty cổ phần
vải sợi may mặc Miền Bắc
Phòng kế hoạch thị trường: Là phòng chức năng giúp việc cho Tổng
giám đốc công ty về các mặt xây dựng kế hoạch thống kê, đầu tư, quản lý
HĐKT, marketing để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong Công ty.
Phòng Kế toán tài chính: Là phòng chức năng giúp việc cho Tổng giám
đốc về các mặt tổ chức hạch toán, quản lý tài sản hàng hoá, vật tư tiền vốn
theo nguyên tắc quản lý của Nhà nước và quy chế của Công ty.
Phòng Tổ chức cán bộ - lao động tiền lương: Là phòng chức năng giúp
việc cho tổng giám đốc về các mặt công tác: tổ chức cán bộ, lao động tiền
lương, thực hiện đúng chế độ chính sách đối với người lao động, thanh tra bảo
vệ, khen thưởng và kỷ luật.
Phòng Kỹ thuật may: Là phòng chức năng giúp việc cho Tổng giám đốc
về mặt kỹ thuật để ký kết và triển khai thực hiện các hợp đồng gia công sản
xuất, tiến hành nghiên cứu, sáng tạo mặt hàng mới, may mẫu chào hàng, tiến
10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
hành kiểm tra
chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất thành phẩm,...
Phòng Hành chính: Là phòng chức năng của Công ty trực tiếp thực hiện
các mặt công tác: hành chính, quản trị, phục vụ cho hoạt động chỉ đạo, quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Phòng phục vụ sản xuất: Là phòng chức năng trực tiếp thực hiện các
khâu công việc phục vụ cho hoạt động sản xuất của Công ty.
Phòng dịch vụ kho vận: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp thực hiện quản lý
trưởng còn có trách nhiệm tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh, nghiên
cứu cải tiến quản lý kinh doanh,... và củng cố hoàn thiện chế độ hạch toán
kinh tế theo yêu cầu đổi mới của cơ chế quản lý.
12
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ 03: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Bộ phận kế toán lao động tiền lương và thủ quỹ: Tổ chức ghi chép phản
ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian lao động và kết quả lao
động, tính lương, BHXH và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho các đối tượng lao
động, lập báo cáo về lao động tiền lương, phân tích tình hình quản lý, sử dụng
thời gian lao động, quỹ tiền lương, năng suất lao động.
Thủ quỹ có nhiệm vụ nhập xuất quỹ căn cứ vào các chứng từ hợp lệ, hợp
pháp theo quy định và ghi vào các sổ sách liên quan.
Bộ phận kế toán vật liệu và TSCĐ: Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số
liệu về tình hình thu mua vận chuyển, nhập xuất tồn kho, tính giá thực tế vật
liệu, kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, nhập xuất vật liệu, các định
mức dự trữ và định mức tiêu hao, tính toán và phân bổ khấu hao TSCĐ hàng
tháng vào chi phí hoạt động, tham gia lập dự toán và kiểm tra việc thực hiện
kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ, tiến hành phân tích tình hình trang bị, huy
động, bảo quản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng của TSCĐ,...
Bộ phận kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Tổ chức ghi
chép, phản ánh, tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, hướng
dẫn, kiểm tra các bộ phận có liên quan tính toán, phân loại các chi phí nhằm
phục vụ việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành được nhanh chóng,
khoa học, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, phát hiện mọi khả
năng tiềm tàng để phấn đấu hạ thấp giá thành sản phẩm.
Bộ phận kế toán ngân hàng: Phản ánh kịp thời các khoản thu, chi vốn bằng
tiền. Thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số liệu thường xuyên với thủ quỹ để
14
14
Chuyên đề tốt nghiệp
ngừng tiết
kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng và hiệu quả
quản lý nói chung.
1.5.4. Đặc điểm tổ chức vận dụng chế độ kế toán hiện hành tại Công ty
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức SX kinh doanh, vào yêu cầu quản lý, trình
độ nghiệp vụ của các nhân viên kế toán và các trang thiết bị phòng kế toán,
đồng thời trên cơ sở nhận biết nội dung, đặc điểm, trình tự và phương pháp
ghi chép của mỗi hình thức sổ kế toán, Công ty cổ phần vải sợi may mặc
Miền Bắc đã áp dụng hình thức Nhật ký chứng từ. Hình thức sổ này đòi hỏi
nhân viên kế toán phải có trình độ cao.
Đơn vị sử dụng trong ghi chép kế toán là Việt Nam đồng, nguyên tắc và
phương pháp chuyển các đồng tiền khác theo tỷ giá ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam công bố.
1.5.4.1. Hệ thống tài khoản
Do đặc điểm quy trình công nghệ và sản xuất sản phẩm của Công ty cho
nên công ty áp dụng theo QĐ 1141 ban hành ngày 1/ 11/ 1995 của Bộ tài
chính. Nhìn chung Công ty đều áp dụng các TK cấp 1, cấp 2 do Nhà nước
ban hành, chỉ khác do loại hình SX và đặc điểm tổ chức hoạt động kinh
doanh có sự phân chia từ Công ty đến các chi nhánh nên tài khoản sử dụng
được chi tiết cho từng chi nhánh và loại hình SX kinh doanh của Công ty.
15
Ghi chú:
Đối chiếu kiểm tra:
Ghi hàng ngày:
Ghi cuối tháng:
Sơ đồ 04: Sơ đồ hình thức kế toán Nhật ký chứng từ
quan đến nghiệp vụ. Cuối kỳ số liệu kế toán sẽ được chuyển vào phân hệ
kế toán tổng hợp để lên các sổ sách kế toán, các báo cáo tài chính, các báo
cáo quản trị của Công ty ( nếu có ).
1.5.4.4. Hệ thống báo cáo tài chính
Công tác lập báo cáo kế toán tại Công ty cổ phần vải sợi may mặc Miền
Bắc được thực hiện theo quyết định số 167/ 2000/ QĐ - BTC ngày 25/ 10/
2000 của Bộ tài chính. Việc lập báo cáo này thuộc trách nhiệm của Kế toán
tổng hợp, Kế toán trưởng có trách nhiệm kiểm tra và báo cáo với cấp trên.
Các báo cáo tài chính được lập định kỳ vào cuối mỗi quý. Bao gồm các
loại báo cáo tài chính sau: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh
doanh và Thuyết minh báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính này được
chuyển lên Kế toán trưởng và Tổng giám đốc ký duyệt. Các báo cáo tài
chính năm được gửi lên Bộ và cơ quan thuế để quyết toán. Việc lập báo cáo
tài chính này không những phục vụ cho hoạt động quản lý của Công ty, của
Nhà nước mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tượng khác có
nhu cầu sử dụng như các cổ đông, các nhà đầu tư, ngân hàng, khách hàng,
nhà cung cấp,...
17
Bảng cân đối kế toán: Được lập trên cơ sở số dư của các TK từ loại 1 đến
loại 4. Dựa trên bảng này, kế toán sẽ lập các tỷ suất tài chính để phân tích
tình hình tài sản và nguồn vốn, từ đó có thể đánh giá hiệu quả sử dụng tài
sản và nguồn vốn của Công ty.
Báo cáo kết quả kinh doanh: Báo cáo này được sử dụng để tính các tỷ
suất về khả năng sinh lời, từ đó phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh
doanh của Công ty.
Ngoài ra, Công ty còn lập một số báo cảo quản trị nhanh vào đầu kỳ như
báo cáo hiệu quả sử dụng vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kỳ,...
nhằm cung cấp thông tin về tình hình hoạt động, tình hình tài chính của
Công ty cho nhà quản lý, giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định quản trị
nhanh chóng và đúng đắn.
Kết quả sản xuất của mỗi giai đoạn đầu đều tạo ra bán thành phẩm, không
được bán ra ngoài mà trở thành đối tượng chế biến của giai đoạn tiếp theo.
Trong giai đoạn may, sản phẩm lại được chia nhỏ thành nhiều chi tiết như:
tay áo, thân áo, cổ áo,... và được giao cho nhiều người cùng sản xuất rồi ghép
nối thành sản phẩm hoàn chỉnh. Sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng này mới
được xác định là thành phẩm.
19
Sơ đồ 05 : Quy trình công nghệ chế biến sản phẩm
2.1.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty
Do đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất
sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau, bởi vậy cần xác đinh
chính xác đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cho phù hợp với điều kiện cụ thể
của từng doanh nghiệp vì điều đó liên quan đến công tác tổ chức hạch toán
tập hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm.
Với đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất như trên kết hợp đặc điểm kinh
doanh của Công ty là sản xuất theo đơn đặt hàng gia công với khối lượng lớn,
chu kỳ sản xuất ngắn nên các phân xưởng được giao nhiệm vụ sản xuất từng
mã hàng với kích cỡ khác nhau. Do đó, Công ty đã xác định đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất theo từng phân xưởng, trong đó lại chi tiết cho từng loại
mã hàng.
Đối với những chi phí nào chỉ liên quan đến 1 mã sản phẩm, kế toán sẽ căn
cứ vào số liệu trên các chứng từ để tập hợp trực tiếp cho mã sản phẩm đó. Đối
với những chi phí có liên quan đến nhiều mã sản phẩm như chi phí sản xuất
chung, kế toán sẽ tập hợp lại rồi phân bổ cho từng mã hàng theo chi phí nhân
công trực tiếp.
Mặc dù vào cuối quý Công ty mới thực hiện quyết toán nhưng do khối
lượng chi phí phát sinh hàng tháng lớn, để đáp ứng yêu cầu quản lý và công
tác hạch toán nên kế toán tập hợp chi phí sản xuất phát sinh theo tháng.
2.1.3. Trình tự hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty
20
về mặt giá trị, do đó không được hạch toán vào chi phí sản xuất phát sinh
trong tháng.
Tuỳ thuộc vào kế hoạch sản xuất để xác định số lượng sản phẩm dự định
sản xuất và định mức NVL chính tiêu hao cho một sản phẩm do phòng Kỹ
thuật chuyển tới, phòng Kế hoạch thị trường lập phiếu xuất kho NVL chính
( Bảng số 02 ) với 2% hao hụt định mức trong quá trình sản xuất. Căn cứ vào
hoá đơn vận chuyển, hoá đơn bán hàng, lệnh sản xuất, phiếu nhập xuất kho,
số lượng thực tế nhập xuất... thủ kho ghi tình hình biến động số lượng vào thẻ
kho. NVL chính là vải sẽ được chuyển đến giai đoạn công nghệ đầu tiên là
phân xưởng cắt. Do đặc điểm của ngành may là mỗi loại vải đều có thể chế
biến thành nhiều mặt hàng khác nhau và mỗi mã hàng lại được sản xuất từ
nhiều loại vải với kích cỡ, màu sắc không giống nhau cho nên khó có thể xác
định được chính xác lượng vải tiêu hao cho quá trình sản xuất. Vì vậy, nhằm
mục đích quản lý chặt chẽ số lượng vải xuất ra, Công ty đã áp dụng phương
pháp hạch toán bàn cắt dựa trên “ phiếu theo dõi bàn cắt”. Phiếu này được mở
22
22
Chuyên đề tốt nghiệp
cho từng
phân xưởng và theo dõi chi tiết cho từng mã hàng ( Bảng số 03 ).
Cuối tháng, trên cơ sở phiếu theo dõi bàn cắt và thẻ kho do thủ kho chuyển
về, phòng kế toán sẽ đối chiếu và lên bảng Tổng hợp nhập xuất tồn NVL
chính.
Ngoài ra, phân xưởng cắt sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình sẽ tạo ra
các bán thành phẩm và chuyển vào kho bán thành phẩm bằng phiếu nhập bán
thành phẩm. Để kiểm tra, giám sát chặt chẽ số lượng bán thành phẩm làm ra
từ phân xưởng cắt và được sử dụng ở phân xưởng may, Công ty dùng phiếu
xuất bán thành phẩm khi chuyển số bán thành phẩm này sang các phân xưởng
may nhằm thực hiện công đoạn tiếp theo.
Ngày Mã
hàng
Bàn số Nguyên vật liệu xuất Hao hụt
định mức
Thiếu hụt
do hạch
toán bàn cắt
Loại Ký hiệu Cuộn
số
Số m
/cuộn
Số lá
/ cuộn
Đầu
tấm
thừa
28/02/2006 J1R
7241
-
Ong
ood
41 Vải
chín
h
Milkhaki 50 122,6 32
1,6
3,8 0,02
( m/ lá )
73 128,2 33
1,8