Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC VĨNH
HÒ ĐÌNH THẮNG
ĐẢNH GIẢ TÌNH HÌNH SẲ uHẠI NGÔ Ở HUYỆN NA M ĐÀN, TỈNH NGHỆ A N
VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SÔ LOẠI THƯÓC PHÒNG TR ừ Ở ĐỈỂU KIỆN THỰC
NGHIỆM
L UẬN VẦN THẠ
NGHỆ AN -2012
c Sĩ NÔNG NGHỈỆP (CHUYÊN NGẦNH: trồng TRỌT)
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÒ ĐÌNH THẮNG T Ê N Đ È T À I L U Ậ N V Ă N
THẠ
c sĩ
Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số:
L UẬN VẨN THẠ
c Sĩ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Lân
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Thị Thanh đã mang lại cho tôi niềm đam mê khoa học. Đồng
thời đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong quá trình thực
hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ khoa Nông
Lâm Ngư, Phòng NN&PTNT huyện Nam Đàn đã tạo điều
kiện giúp đỡ về thời gian cũng như cơ sở vật chất, thiết bị thí
nghiệm cho tôi hoàn thành tốt đề tài.
Xin cảm ơn chính quyền địa phương các xã Khánh Sơn,
Vân Diên, Nam Nghĩa huyện Nam Đàn đã tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình điều tra thu thập vật mẫu.
Xin chân thành cảm ơn gia đình và đồng nghiệp đã
động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Nghệ An, ngày 20 tháng 10 năm 2012
Học
viên
Hồ
Đình
Thắng
5
DANH MỤC CÁC KỶ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẲT
IPM
7
MỞ ĐẨU
1. Tỉnh cấp thiết của đề tài
Theo xu thế hiện nay tốc độ đô thị hóa ngày một gia tăng, diện tích đất nông nghiệp bị
thu hẹp, dân số thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng ngày một đông thêm. Do đó vấn đề
lương thực được đặt lên hàng đầu, để đáp ứng nhu cầu này thì vấn đề tăng năng suất cây
trồng rất cần thiết và được các nhà khoa học thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau như
lai tạo giống, chuyển gen,... Trong sản xuất người dân phải thâm canh, tăng vụ đế tăng năng
suất đáp ứng nhu cầu về lương thực cho xã hội đồng thời chú trọng sử dụng cây trồng ngắn
ngày, chịu phân, cho năng suất cao đế thay thế các giống địa phương cho năng suất thấp, dài
ngày,... tuy nhiên vấn đề mà hầu hết người nông dân đang phải đối mặt là sâu bệnh hại cây
trồng.
Sau cây lúa, cây ngô (Zea mays Linneaus) là loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới,
cung cấp chất dinh dưỡng cho con người và động vật đồng thời là nguyên liệu cho sản xuất
tinh bột, dầu, protein, đồ uống chứa cồn gần đây là nguyên liệu cây xanh được sử dụng để
làm thức ăn ủ đã thành công trong chăn nuôi bò sữa và bò thịt. Tuy đứng thứ 3 về diện tích
gieo trồng, sau cây lúa nước và lúa mỳ nhưng đứng đầu về năng suất và sản lượng trong các
cây ngũ cốc, cây ngô góp phần nuôi sống 1/3 dân số thế giới. Theo bộ nông nghiệp Mỹ
(USDA, 2010)[37] diện tích trồng ngô trên thế giới là 156,04 ha, năng suất 5.18 tấn/ ha và
sản lượng đạt kỷ lục với 808,8 triệu tấn. Theo dự báo của công ty Mosanto vào năm 2030
nhu cầu ngô của thế giới tăng 81% so với năm 2000 (từ 608 triệu tấn lên 1098 triệu tấn).
Nhưng 80% nhu cầu tăng (khoảng 266 triệu tấn) tập trung ở các nước đang phát triển. Tổng
lương ngô các nước công nghiệp chỉ xuất sang các nước đang phát triến khoảng 10% tổng
sản lượng thế giới. Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của minh trên
diện tích ngô không tăng (CIMMYT, 2008) [38].
Theo dự báo của Viên nghiên cún chính sách lương thực Quốc tế thì nhu cầu ngô tại
các nước đang phát triến sẽ vượt quá nhu cầu so với lúa mỳ và lúa nước. Dự báo nhu cầu
9
một số loài sâu hại chính trên sinh quần ruộng ngô ở huyện Nam Đàn, đồng thời sử dụng
một số loại thuốc hóa học phòng trừ chúng nhằm xác định thời điểm phun thuốc, tuổi sâu
mẫn cảm nhất với thuốc từ đó cung cấp các dẫn liệu khoa học làm cơ sở cho công tác dự
tính, dự báo sự phát sinh, phát triển của sâu hại trên sinh quần ruộng ngô để giúp người dân
xác định thời điếm phòng trừ sâu họp lý, đạt hiệu quả cao.
3. Đối tượng, phạm vỉ nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: Các loài côn trùng gây hại trên sinh quần ruộng ngô ở huyện
Nam Đàn gồm côn trùng thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera), bộ cánh thắng
(Orthoptera); Bộ cánh cứng (Coleoptera); Bộ cánh nửa (Heteroptera); Bộ cánh đều
(Homoptera).
-
Phạm vi nghiên cứu: Đe tài tập trung nghiên cún thành phần sâu hại và diễn biến số
lượng của các loài gây hại chính trên ruộng ngô tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Từ đó sử dụng một số thuốc hóa học phòng trừ chúng trong điều kiện thực nghiệm
để xác định được thời điểm phun thuốc, tuổi sâu thích hợp nhất để thuốc hóa học đạt
được hiệu lực cao nhất.
4. Ỷ nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
*
Y nghĩa khoa học
Lần đầu tiên đưa ra danh lục thành phần loài côn trùng gây hại trên sinh quần ruộng
vòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng giữa các thành phần của hệ sinh thái. Sự cân
bằng này cũng có nghĩa là sự cân bằng giữa các vật sản xuất, vật tiêu thụ và vật phân hủy.
Sự cân bằng này cũng được gọi là sự cân bằng sinh thái. Nhờ có sự điều chỉnh này mà các
hệ sinh thái tự nhiên giữ được sự ốn định mỗi khi chịu tác động của các nhân tố ngoại cảnh.
Hệ sinh thái là một hệ thống sống có khả năng tự điều chỉnh. Đó là khả năng tự lập lại
cân bằng giữa các quần thể sinh vật sống cùng nhau như vật ăn thịt con mồi,... và đó chính là
cơ sở tạo nên cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, khả năng tự lập lại cân bằng của hệ sinh thái là
có giới hạn. Con người đôi khi vì muốn thu lợi nhuận kinh tế cao nên bằng nhiều hoạt động
đã làm cản trở khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái, dẫn tới mất cân bằng sinh thái, gây
suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Muốn quản lý tốt các hệ sinh thái thì nguyên lý
cơ bản cần tuân thủ đó là giữ cho các hệ sinh thái này không nằm ngoài khả năng tự điều
chỉnh của nó.
-------► Sản xuất
Quan hệ phổ biến giữa các loài sinh vật là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau vô cùng phức tạp,
nhưng có quy luật, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng (Thể hiện qua chuỗi và lưới thức ăn).
*
Mối quan hệ dinh dưỡng
Một tập họp các sinh vật cùng sống trong một vùng hoặc sinh cảnh xác định được hình
thành trong quá trình lịch sử lâu dài, liên hệ với nhau do những đặc trưng chung về sinh thái
học mà các thành phần cấu thành quần xã (quần thế, các cá thế) không co. Sự tập họp này
không phải là một con số cộng đơn thuần mà giữa các loài đó có mối quan hệ rất chặt chẽ,
trước hết là mối quan hệ về dinh dưỡng và nơi ở. Quan hệ này có thể là tương hỗ hoặc đối
địch, cạnh tranh...
Trong quần xã, các loài có quan hệ mật thiết với nhau, mối quan hệ đó thế hiện rõ nhất
ở quan hệ dinh dưỡng với mọi thành viên của quần xã đều tham gia vào một trong ba pha
của vòng tuần hoàn vật chất: pha sản xuất, pha tiêu thụ, và phân hủy. Ket gan sinh vật với
nhau là dây chuyền dinh dưỡng, mỗi loài là một mắt xích của dây chuyền dinh dưỡng ấy,
mối quan hệ giữa các mắt xích thức ăn rất phức tạp, nó ảnh hưởng đến tương quan số lượng
của nhau. Chỉ một mắt xích thay đối thì toàn bộ chuỗi, thậm chí toàn bộ mạng lưới thức ăn
bị thay đổi theo. Các chuỗi thức ăn đều là tạm thời và không bền vững như mọi mối quan hệ
sinh học khác.
*
Biến động số lượng côn trùng
Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến đối số lượng và các dạng cơ chế điều
hoà số lượng, Viktorov (1967) đó tổng họp khái quát thành sơ đồ chung của biến động số
lưọ'ng côn trùng. Một trong những đặc trưng của quần thế là mật độ cá thế trong quần thế
được xác định bởi sự tương quan giữa các quá trình bổ sung thêm và giảm bớt số lượng cá
thể. Tất cả là các yếu tố gây biến động đều tác động đến quá trình này khi chúng làm thay
đối sức sinh sản, tỷ lệ tử vong của quần thể và sự di cư của các cá thể. Các yếu tố vô sinh
1.2.Tình hình nghiên cứu sâu hại trên sinh quần ruộng ngô ở thế giới và Việt Nam
ỉ.2.1. Tình hình nghiên cứu sâu hại ngô trên thế giới
Trước kia ở phía Bắc Mỹ gần Boston, Massachsetts vào năm 1917, cây ngô đã xuất
hiện sâu đục thân, bây giờ đã lan rộng sang Canada và cả Châu Mỹ, Phía Nam của Gulf
1
4
Coast. Sâu đục thân ngô có nguồn gốc ở Châu Ầu, nơi có diện tích đất lớn nhất thế giới.
Phía Bắc Mỹ loài sâu này có mặt với mật độ rất lớn và mang lại hậu quả gấp nhiều lần so
với các sinh vật khác ở Châu Âu. Như vậy đây là nơi thứ hai ít nhất và cũng là nơi có rất
nhiều nguồn thức ăn đế sâu đục thân tận dụng sinh sống và phá hoại.
Theo Hill và Waller (1988) [31] trên cây ngô có 18 loài sâu hại chính, như sâu cắn lá
ngô, sâu keo, sâu đục thân, cánh cứng ăn lá, riêng sâu đục thân có 6 loài, sâu ăn hạt, ăn lá có
6 loài.
Wang Ren Lyli Ying và Waterhouse (1997) [35] cho biết ở các tỉnh ở phía Nam Trung
Quốc xuất hiện 12 loài sâu ngô, đó là sâu xám, sâu đục thân, rệp, bọ xít đen, bọ xít gai, sâu
khoang, bọ ba ba, bọ xít dài, sâu cắn lá nõn, bọ xít xanh, châu chấu và sâu róm.
Theo Waterhouse (1993) [36] cho biết ở các nước Đông Nam Á đã xuất hiện 24 loài
sâu hại ngô, tuy nhiên tuỳ theo điều kiện khí hậu thời tiết mỗi nước một khác nên thành phần
và mức độ phổ biến của các loài sâu hại có khác nhau.
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của rệp ngô Elliott và CTV
(1988) đã tính được ngưỡng sinh học là 6,l°c và ngưỡng nhiệt độ cao là
26,3°c. Rệp ngô
thường tấn công cây lúa mạch vào giữa tháng 7 và kéo dài tới cuối tháng 10. số lượng rệp
nhiều nhất vào cuối tháng 8 đầu tháng
9
Aphis gossypii, Mezus persicae nhưng gây hại chủ yếu trên các vùng trồng trên cả nước
vẫn là rệp Ropalosiphum maỉdỉ (Nguyễn Thị Kim Oanh, 1993) [25].
Nghiên cứu về hình thái, đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô cũng đã có nhiều nhà
khoa học quan tâm. Ket quả cho thấy sâu đục thân ngô là một trong những đối tượng dịch
hại thường gây hại rất nặng đối với cây ngô ở giai đoạn sâu non. Ở các tỉnh miền Bắc sâu
gây hại chủ yếu trong vụ ngô Xuân - Hè và Hè - Thu, tỷ lệ cây bị hại có khi lên đến 70 80% và có thể làm giảm năng suất đến 20 - 30% . Gây thất thu rất lớn cho người trồng ngô.
Sâu xám (Agrotis ipsilon) cũng là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên ngô và đã có
một số nghiên cứu về đặc điếm phát sinh gây hại của chúng trên ngô. Ket quả cho thấy loài
sâu này gây hại chủ yếu ở thời kỳ cây ngô còn non. Sâu thường gây hại vào ban đêm. Sâu
cắn ngang cây non, sau đó lôi phần thân cây non bị đứt xuống đất để ăn. Sâu xám phá hại
ngô mạnh tò lúc mọc mầm đến 5 - 6 lá khi cây 7 - 8 lá sâu xám đục gốc vào bên trong ăn
phần mềm ở giữa làm cây bị héo và chết.
Rệp ngô chủ yếu hại lá ngô. Khi ngô trỗ cờ, rệp chích hút dịch lá bao cờ, làm lá bạc
trắng và bao phấn bị khô dẫn đến thiếu phấn. Rệp còn hại râu ngô làm râu bị khô không có
kh năng thụ phấn.
Phạm Tuyết Nhung (2002) [26] cho biết thành phần sâu hại ngô vụ Xuân Hè tại xã
1
6
Đức Chính, cấm Giàng, Hải Dương là 15 loài trong đó có 3 loài gây hại nặng là sâu xám,
sâu cắn lá ngô và sâu róm chỉ đỏ.
Theo Đặng Thị Dung (2003) [9] cho biết thành phần sâu hại ngô tại vùng Gia Lâm, Hà
Nội vụ Xuân năm 2001 cho thấy có 23 loài sâu hại thuộc 6 bộ và 16 họ. Trong đó có 3 loài
xuất hiện phố biến đó là rệp ngô, sâu cắn lá và sâu đục thân. Trong đó đặc điếm hình thái
của loài sâu cắn lá ngô (Leucania loreyi Dup.) được tác giả nghiên cún, mật độ sâu cắn lá
tương đối cao, đỉnh cao mật độ ở 2 điểm điều tra tương ứng vào giai đoạn cây ngô 5 - 6 lá
(4,4 - 5,4 con/10cây) và lúc bắp ngô vào nâu chín sữa (3,4 - 4,5 con/10 cây). Sức ăn của loài
sâu cắn lá ngô là rất lớn. Do đó với mật độ cao như vậy, sự gây hại của chúng có ảnh hưởng
Padan khuấy đều thành hỗn họp phun lên bó rơm rạ, cắm quanh bò' ruộng, mỗi sào cắm 1-2
bó. Bắt sâu non bằng tay vào buổi sáng sớm. Dùng 1 - 1,5 kg Basudin 10H hoặc 0,7 kg
Diaphos trộn với đất bột đế rắc theo hàng cho 1 sào.
Sâu đục thân: Gieo đúng thời vụ, xử lý đất, đốt thân lá ngô của vụ trước, diệt sạch cỏ
dại. Dùng 20 đến 30 gam Padan 95 hoặc dùng từ lgam đến 1,5 gam thuốc Regent 800WG
pha với 20 lít nước phun cho 1 sào khi sâu non mới nở hoặc thuốc Diaphos 50EC, Pyrinex
đế phun trừ sâu non sâu đục thân ngô. Ngoài ra có thể dùng thuốc dạng hạt như Basudin
10H, Diaphos 10H rắc 4-5 hạt vào nõn 20EC; Diaphos 10G; Vicarp 4H; Padan 4G; Vibasu
10H để diệt sâu. Sau khi thu hoạch, nên đưa thân cây ngô ra khỏi ruộng và sử dụng cho trâu
bò ăn hoặc làm chất đốt càng sớm càng tốt, đế tiêu diệt những con sâu, nhộng còn nằm bên
trong thân, hạn chế mật độ sâu ở các vụ sau.
Rệp ngô ngô: Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại, diệt môi giới truyền rệp. Trồng ngô
với mật độ hợp lý, thường ở những ruộng ngô trồng với mật độ cao thì rệp hại nặng hơn.
Dùng các loại thuốc đang phố biến như Mospilan 3EC, Trebon 10EC phun 35-55 ml/ sào.
Viện nghiên cứu Ngô cũng đưa ra một quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp trên ngô
như sau: (1) Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tống hợp (IPM) trên cây ngô
gồm:
Trồng
và
chăm
sóc
cây
khoẻ
thể của nhóm bọ xít bắt mồi (họ Lygaeidae) đạt trung bình 37,02 - 44,91%, nhóm bọ chân
chạy bắt mồi (họ Carabidae) trung bình 9,04 - 20,92%, nhóm ong bắt mồi (họ Vespidae,
Polistidae và Sphecidae) trung bình 10,06 - 14,4% và nhóm côn trùng bắt mồi khác (họ
Staphylinidae, Cicindeliae, Formicidae, Asilidae, Coenagrionidae và Mantidae) trung bình
12,36 - 25,71%. Các nhóm côn trùng bắt mồi có vai trò khá quan trọng trong việc kiếm soát
tập đoàn sâu hại ngô.
1.3.Những vấn để tồn tại chưa được giải quyết
Cây ngô là một trong những cây lương thực có vị trí quan trọng ở Nghệ An. Tuy nhiên
cho đến nay ở Nghệ An hầu như mới chỉ tập trung nghiên cứu khảo nghiệm giống ngô đế
1
9
lựa chọn tập đoàn giống phù hợp với điều kiện khí hậu ở Nghệ An đồng thời nghiên cứu một
số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất cây ngô. Bên cạnh đó còn có một số vấn đề
quan trọng nhưng chưa được các nhà khoa học nghiên cún như:
- Điều tra và xác định đầy đủ thành phần sâu hại trên sinh quần ruộng ngô, xác định
loài sâu gây hại nghiêm trọng (gây hại chính), loài phổ biến và loài ít phố biến trên
sinh quần ruộng ngô.
- Nghiên cúu diễn biến số lượng của các loài sâu chính hại ngô qua các giai đoạn sinh
trưởng của cây ngô tù’ đó xác định thời điếm phát sinh gây hại nặng của sâu trên cây
ngô để khuyến cáo cho người dân chủ động thăm đồng và phòng trù’ kịp thời.
- Nghiên cứu tuổi sâu, giai đoạn phát triển của sâu mẫn cảm nhất với một số loại thuốc
hóa học mà người dân thường dùng để trừ sâu. Từ đó khuyến cáo cho người dân biết
và lựa chọn thời điếm phun thuốc đế đạt hiệu quả trừ sâu cao nhất.
Chính vì những lý do trên đây nên chúng tôi đã tập trung đi sâu nghiên cứu các nội
dung này nhằm góp phần xây dựng quy trình phòng trừ sâu hại trên cây ngô ở huyện Nam
Đàn nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.
1.4.Những nội dung đề tài tập trung nghiên cứu
tích), vựng gũ đồi (13%), vùng đồng bằng chỉ chiếm 10% diện tích. Đồng bằng phù sa gồm
các dải đồng bằng Vinh, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng
Nguyên, Nghi Lộc. Vùng đất cát ven biển Quỳnh Lun - Diễn Châu, Nghi Lộc - Hưng
Nguyên.
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điếm cơ bản là nóng ẩm
mưa nhiều theo mùa. Hàng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình 120-140 Kcal/cm 2 bức
xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 - 24°c, độ ẩm không khí là 85%, lượng mưa trung bình cả
năm từ 1.600 - 2.000 mm.
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.923.647 người (tính đến
21/12/2000), mật độ dân số trung bình toàn tỉnh khoảng 180 người /Km 2. Dân cư phân bố
không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích nhưng tập trung đến 80%
dân số, vùng núi và gũ đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20% dân số.
Ngoài ra, sự thay đổi cơ cấu cây trồng cùng với việc đầu tư phân hóa học, thuốc trù’
sâu, thủy lợi tưới tiêu,... đặc biệt từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đó chuyến đối mùa vụ, coi
vụ Hè thu là một trong ba vụ sản xuất chính trong năm,... đó là những tác động không nhỏ
đến hệ sinh thái đồng ruộng, trước hết là sâu hại và thiên địch của chúng.
1.5.2.
Điều kiện tự nhiên, kỉnh tế xã hội huyện Nam Đàn
Nam Đàn là huyện nửa đồng bằng, nửa đồi núi có diện tích tự nhiên 29.399,38 ha, có
chiều rộng 10 km, chiều dài 30 Km, trong đó đất nông nghiệp 19.977.000 ha. Cơ cấu sản
xuất bố trí 3 vụ (vụ đông- vụ xuân- vụ hè thu). Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
23,9°c. Trong những tháng nóng có sự tăng nhiệt độ do ảnh hưởng của áp thấp nóng phía
tây, mùa lạnh bắt đầu cùng với hoạt động của gió mùa Đông Bắc. Tống tích ôn cả năm
8.729°c. Lượng mun trung bình cả năm 1 944,3 mm, độ ấm không khí phố biến từ 84- 86%.
Theo thống kê tính đến ngày 1/4/2009 tổng dân số 155.500 người trong đó tỉ lệ nam chiếm
48,61%, nữ chiếm 51,39%. Mật độ dân số 501 người/Km 2 dân số trong độ tuối lao động
Điều tra thành phần loài và diễn biến số lượng của chúng qua các giai đoạn phát triển
2
2
của cây ngô cũng như thử nghiệm phun thuốc trù’ sâu trên một số loài sâu chính hại ngô
tuân thủ theo các phương pháp nghiên cứu thường quy về côn trùng và bảo vệ thực vật (Viện
bảo vệ thực vật, 2000) [30].
2.4.1.
Phương pháp điều tra thành phần sâu hại trên cây ngô
Điều tra thu mẫu định tính: Sử dụng vợt côn trùng có đường kính 40 cm, chiều dài 11,2 m hoặc tay thu bắt toàn bộ các loài sâu hại và thiên địch xuất hiện trên ruộng ngô và khu
vực lân cận, trong số các cá thế côn trùng cùng loài, thu bắt các cá thể đại diện cho các pha
phát triển (Trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành) ngâm trong cồn 70° đế định loại và bảo
quản mẫu.
Điều tra, thu mẫu định lượng: Mỗi ruộng ngô tiến hành thu mẫu định kỳ
7
ngày/lần, quan sát và đếm số lượng sâu hại tại 5 điểm (2 m 2/ điểm) theo nguyên tắc
đường chéo góc. Các điểm điều tra lần sau không trùng với điểm lần trước. Việc
điều tra được tiến hành vào thời điếm nhất định trong ngày (từ 6h đến 8h sáng).
2.4.2.
Phương pháp nghiên cứu diễn biến so lượng sâu hại ngô
Đe xác định diễn biến số lượng của một số loài sâu hại chính trên sinh quần ruộng ngô,
tiến hành chọn các ruộng điều tra đại diện cho các vùng trồng ngô ở huyện Nam Đàn như
sau:
theo nhóm, các lọ nuôi được đặt trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Hàng ngày cho chúng ăn thức ăn là cây ngô non hoặc bắp ngô non. Theo dõi và đếm
số trứng đẻ/ổ/1 con cái, tỷ lệ nở của trúng và vũ hóa thành trưởng thành. Các thí nghiệm
được lặp lại ít nhất 3 lần, số lượng cá
thế theo
dõi ở mỗi lần thí nghiệm từ 20 - 30 cá thể/ đối tượng nuôi.
2.4.4.
Phương pháp thử nghiệm một so loại thuốc hỏa học phòng trừ bọ xít
xanh (Nezara viridulaL.) và sâu đục thân ngô (Ostrinia nubilalis H.)
* Thử nghiêm phòng trừ bọ xít xanh (Nazara viridula L.)
- Thí nghiệm 1. Phòng trừ bọ xít xanh trong điều kiện phòng thí nghiệm
Tiến hành thu bắt các cá thể trưởng thành của bọ xít trên các ruộng ngô hoặc đậu đưa
về nuôi tại phòng thí nghiệm Sinh thái côn trùng nông nghiệp. Nuôi bọ xít trong các lọ sạch
có đường kính tò 15- 20cm, cao 15- 25 cm, đậy vải màn thông khí và cung cấp thức ăn sạch
thường xuyên (bắp ngô hoặc cây ngô non). Sử dụng các thuốc: Bassa 50EC, Fastac 5EC,
Altach 50EC để phòng trừ.
Thí nghiệm gồm 4 công thức (CT), 3 lần lặp lại. Mỗi công thức phun cho 2 lọ nuôi, 5
bọ xít trưởng thành/1 lọ, tống số là 24 lọ và 120 bọ xít trưởng thành. Phun thuốc theo nồng
độ khuyến cáo, công thức đối chứng phun bằng nước lã. Trong đó:
CT1: Phun thuốc Bassa 50EC CT2:
2
4
Phun thuốc Altach 50EC CT3: Phun
CT4
CT6
CT3
CT1
CT2
CT5
CT4
CT5
CT3
CT2
CT4
CT1
CT6
Dải bảo vệ
o
P'
sau khi phun 1, 3, 5, 7, 9 ngày.
* Thử nghiệm phòng trừ sâu đục thân ngô (Ostrina nubilailỉs H.)
Thu bắt sâu đục thân ngô từ tự nhiên về thả vào các chậu đã trồng sẵn ngô trước đó.
Thí nghiệm gồm 4 công thức, 3 lần lặp lại. Mỗi công thức phun cho 10 chậu, 1 sâu/chậu
2
5
(ngô ở giai đoạn cây non), tổng 120 chậu/120 sâu. Tiến hành thả sâu 2 ngày trước khi phun
đế sâu thích nghi với ký chủ mới. Sử dụng các loại thuốc Rigent 50EC, Padan 95SP, Altach
50EC để phòng trừ. Phun thuốc theo nồng độ khuyến cáo, công thức đối chứng phun bằng
nước lã. Theo dõi số lượng sâu đục thân chết ở các ở các chậu thí nghiệm sau 1,3,
5, 7 ngày.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
CT2
CT3
CT4
CT1
CT3
CT1
CT2
CT4