Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7 - Pdf 32

“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông nói chung và lớp 7 nói riêng có vai trò
quan trong trong việc giáo dục và đào tạo kiến thức xã hội và nhân văn của thế hệ trẻ,
vai trò đó không chỉ được coi trong ở nước ta mà ở nhiều nước khác trên thế giới đều
chú trọng việc dạy và học môn lịch sử, nó có chức năng và nhiệm vụ đào tạo ra một
con người có nhân văn, một dân tộc có bản sắc.
Lịch sử là những gì thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người, nó đã tồn
tại cách chúng ta hàng chục năm, hàng trăm năm, thậm chí hàng triệu năm. Vì vậy,
đây là một môn khoa học xã hội có nội dung kiến thức lớn. Tiết học lịch sử không chỉ
đòi hỏi học sinh có kĩ năng phát hiện nhanh mà còn có kĩ năng ghi nhớ. Bởi môn học
này sẽ giúp học sinh tiếp cận với nhiều sự kiện lịch sử, nhiều nhân vật lịch sử vĩ đại
không chỉ của dân tộc mà của cả thế giới từ cổ đại đến hiện đại. Do đó, khi học lịch sử
yêu cầu các em phải nhớ và hiểu nội dung bài học một cách chính xác, đầy đủ thậm
chí phải tái hiện một cách sinh động các sự kiện lịch sử vừa được tiếp cận. Để cho bài
giảng lịch sử không phải rơi vào tình trạng “khô” vì kiến thức hàn lâm đã có sẵn trong
sách vở, “khó” vì kiến thức rất nhiều và “khổ” vì để dạy và học có kết quả thật không
đơn giản chút nào. Hơn nữa, chương trình lịch sử khối 7 là khái quát lịch sử thế giới
Trung đại và lịch sử Việt Nam kéo dài từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX, một giai đoạn
lịch sử hoàn toàn không gần gủi với thời đại mà các em đang sống. Vì vậy, đòi hỏi
người giáo viên giảng dạy môn lịch sử phải linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp đổi
mới trong dạy học, kết hợp các phương pháp tiên tiến, hiện đại với các phương pháp
truyền thống mới có được kết quả cao, trong đó thiết nghĩ việc vận dụng kiến thức
liên môn trong giảng dạy một cách hiệu quả sẽ giúp cho học sinh hứng thú hơn trong
học tập.
Với vai trò là một giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử nói chung và dạy lịch sử 7
nói riêng, để học sinh tiếp thu nhanh, nhớ lâu các sự kiện lịch sử, đòi hỏi người giáo
viên phải chủ động, linh hoạt trong phương pháp giảng dạy và truyền đạt đồng thời
phát huy được tính tích cực của học sinh, phải tạo được hứng thú cho học sinh trong
giờ học. Để người học hứng thú, đam mê thì trước tiên người dạy phải hứng thú, đam

GVTH: Lê Nam Hành

2


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
PHẦN II
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận:
Lê-nin đã viết: "Lịch sử bao giờ cũng phong phú về nội dung, cũng đa dạng về
nhiều mặt, cũng sinh động hơn điều mà chúng ta hình dung được". Vì vậy, muốn học
sinh học tốt được môn lịch sử thì mỗi thầy, cô giáo không phải chỉ truyền đạt, giảng
giải theo các tài liệu trong sách giáo khoa, trong sách hướng dẫn, hay tài liệu
chuẩn…một cách rập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động.
Nếu chỉ dạy như vậy thì việc dạy và học sẽ diễn ra một cách đơn điệu, tẻ nhạt và kết
quả sẽ không cao. Yêu cầu hiện nay là phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Còn tại Hội nghị ngày
28/12/2013 ở Hà Nội, tổ chức tập huấn giáo viên bộ môn Lịch sử toàn quốc. Thứ
trưởng Nguyễn Vinh Hiển đến dự và phát biểu: “Việc dạy và học Lịch sử của các thế
hệ học sinh Việt Nam sẽ làm phát triển ở các em hứng thú và say mê tìm hiểu những
giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống, đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân
loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
hình thành những giá trị sống và năng lực xã hội trên cơ sở những cách tiếp cận lịch
sử khoa học, hiện đại”. Qua đó cho ta thấy vai trò quan trong của ngưới giáo viên dạy
lịch sử.
Vì vậy, trong giờ học giáo viên phải gây hứng thú cho học sinh bằng cách lôi
cuốn các em vào bài học thông qua các dẫn chứng minh họa từ kiến thức liên môn, đó
là các tư liệu từ văn học đọc trích dẫn trong sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết
kế bài giảng… nhưng khai thác và vận dụng một cách khoa học, linh hoạt. Việc đưa
các dẫn chứng minh họa trong văn học để tham khảo nhằm hướng tới sự thông hiểu

hạn chế, chưa nắm bắt được các sự kiện lịch sử và hoàn toàn không tái hiện được diễn
biến sự kiện lịch sử theo yêu cầu của giáo viên, thậm chí lẫn lộn các sự kiện dẫn đến
hiện tượng “ Râu ông này cắm càm bà kia”.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những thực trạng này. Trước hết là do sách giáo
khoa có khối lượng kiến thức đã quá tải đối với giáo viên và học sinh, mặc dù đã có
chương trình giảm tải của Bộ GD – ĐT quy định nhưng chưa dành cho nó một thời
gian “ưu ái” như các bộ môn khoa học tự nhiên cho nên Giáo viên thì chạy đua với
thời gian phân bố cho từng bài, còn học sinh thì chạy theo thầy trong từng tiết học. Có
thể do điều kiện trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn chưa đáp ứng tốt yêu cầu giảng
dạy theo phương pháp mới. Có thể do một số đồng nghiệp còn chưa dám mạnh dạn
thể nghiệm những phương pháp, những hình thức tổ chức dạy học, những kĩ thuật dạy
học tích cực mới bởi còn e ngại tính hiệu quả của nó hoặc e ngại học sinh không quen
với cách học mới…,rồi sự hạn chế về kĩ năng hợp tác, kĩ năng hoạt động, kĩ năng tổng
hợp các sự kiện lịch sử để ghi nhớ có hệ thống nội dung bài học ở học sinh cũng là
rào cản lớn cho quá trình đổi mới phương pháp trong các trường phổ thông. Về phía
học sinh, từ chỗ bài Sử quá dài, phải nhớ nhiều sự kiện, nhiều ngày, tháng, năm …
thêm vào đó cách truyền đạt không sinh động, thiếu nhiệt tình của giáo viên cũng góp
phần không nhỏ dẫn tới chỗ hiệu quả không cao. Ngoài ra, một thực tế là sự thực
dụng của phụ huynh và học sinh hiện nay. Các em thường nói “học Sử để làm gì?”,
“biết Sử để làm gì?”. Đó cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn tới việc xem nhẹ môn
Sử….Xuất phát từ những thực tế đó, việc “Vận dụng kiến thức liên môn trong
giảng dạy lịch sử 7” sẽ đem đến nhiều tác động tốt, góp phần cải thiện thái độ và kết
quả học tập của học sinh, khiến cho tiết học lịch sử không còn tẻ nhạt, nhàm chán mà
trở nên hứng thú, khơi dậy được đam mê của cả thầy và trò.
III. Giải pháp
1. Vai trò của tích hợp liên môn trong giảng dạy lịch sử

GVTH: Lê Nam Hành

4

hơn diễn biến của sự kiện, nêu ra 1 kết luận khái quát giúp học sinh
hiểu sâu sắc hơn một thời kì, một sự kiện lịch sử cụ thể. Các tác phẩm
văn học bằng những hình tượng cụ thể, những vần điệu trong thể thơ
sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người học, góp phần quan
trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, khắc sâu trí nhớ, nâng cao
hứng thú học tập của học sinh.
2.Các tài liệu Văn học thường dùng :
- Một số tác phẩm văn học là một tư liệu lịch sử : “Nam quốc sơn hà”
của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình
Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, …
GVTH: Lê Nam Hành

5


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
Ví dụ:

VĂN
HỌC

“…Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong,
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
…Đánh một trận, sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
…Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường,



“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”

ĐỊA


phù hợp với yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng của bài học, tránh ôm
đồm làm loãng nội dung bài lịch sử.
1. Mối quan hệ Địa lí với Lịch sử: :
-Về nội dung :
Xét cụ thể môn địa lí chú ý đến tính không gian lãnh thổ của các sự
vật hiện tượng đang diễn ra hiện nay, còn Lịch sử chú ý đến quá trình
hình thành và phát triển của xã hội nhưng hai môn Địa Lí và Lịch Sử
đều có những nội dung thuộc nhóm Khoa học xã hội nhân văn, đều
nghiên cứu những vấn đề của con người, xem xét các mối quan hệ
mang tính qui luật trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Nên, giữa chúng có
mối quan hệ tác động qua lại với nhau bởi các sự kiện lịch sử bao giờ
cũng diễn ra trong một khoảng không gian nhất định với các điều kiện
cụ thể, trong đó có các điều kiện địa lí. Lịch sử thế giới và lịch sử dân
tộc (kể cả phần lịch sử địa phương) đều gắn với những điều kiện tự
nhiên mà con người sinh sống, cho nên khi học tập lịch sử xã hội phải
phân tích đến các yếu tố của môi trường tự nhiên và thông qua nội
dung lịch sử để hiểu rõ hơn môi trường tự nhiên và thực hiện giáo dục
môi trường.
-Về mặt kỹ năng :
Song song với sử dụng kiến thức là sử dụng các phương tiện trực
quan như bản đồ, Atlat, tranh ảnh…
-Về mặt phương pháp dạy học:
Trong quá trình dạy học, GV lịch sử, địa lí đã vận dụng phương

trị thời Đinh, Lý . . .
-Điều kiện tự nhiên tác động đến sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã
hội của từng vùng miền tạo nên các giá trị văn hóa riêng: Đất, sông, .
. . -> hình thành nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ; làng gốm, múa rối
nước …
- Quá trình khai thác điều kiện tự nhiên đã giúp cho xã hội loài người
ngày càng phát triển qua các thời kì :
+Từ miền rừng núi đã chuyển dần xuống định cư ở vùng đồng bằng
châu thổ ven sông.
+Chính sách khẩn hoang mở rộng diện tích sản xuất, đắp đê phòng
lụt, đào sông, nạo vét kênh đảm bảo tưới tiêu là làm lãnh thổ mở rộng,
kinh tế phát triển, đời sống con người ổn định.
+Việc khai thác các nguồn lợi từ tài nguyên thiên nhiên thúc đẩy xã
hội phát triển để hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Châu
Âu.
- Điều kiện tự nhiên có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh
chống giặc ngoại xâm dựng nước và giữ nước:
+ Dựa vào những điều kiện tự nhiên để xây dựng căn cứ, bảo toàn
và phát triển lực lượng: thành Cổ Loa, phòng tuyến sông Như Nguyệt,
thành nhà Hồ, căn cứ địa Tây Sơn, phòng tuyến Tam Điệp – Biện
Sơn...
+ Lợi dụng địa thế, vị trí tự nhiên để kháng chiến thắng lợi: chiến
thắng Bạch Đằng, chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, chiến thắng Chi
Lăng – Xương Giang,...
b.Việc khai thác và sử dụng môi trường tự nhiên của con người đã
gây ảnh hưởng tiêu cực dến môi trường ở các mức độ khác nhau
trong từng giai đoạn lịch sử :
-Thời nguyên thủy, cổ - trung đại : con người phụ thuộc nhiều vào
thiên nhiên -> ít tác động đến môi trường.
-Thời văn minh nông nghiệp : Rừng bắt đầu thu hẹp (tiêu cực), hệ sinh

Một hình ảnh nghệ thuật như tác phẩm hội họa, kiến trúc, điêu khắc,
tranh ảnh (chùa Một cột, tháp Phổ Minh, thành Nhà Hồ, Văn Miếu –
Quốc tử giám…) được sử dụng hợp lí sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến
thức sâu sắc hơn và việc học Lịch Sử sẽ hứng thú hơn.
Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo viên trình
chiếu kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì học sinh được trực quan với hình
ảnh rõ, kích thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn.

THUẬT Ví dụ:
- Sơ lược mĩ thuật thời Lý (1010 - 1225):
+Kiến trúc : Hoàng thành Thăng Long, Quốc Tử Giám, chùa Một Cột,
Tháp Chương Sơn.
+Điêu khắc : Tượng A di đà, rồng VN thời Lý.-Gốm Bát Tràng.
- Mĩ thuật thời Trần (1226 - 1400): Chùa Yên Tử (Quảng Ninh), tháp
Phổ Minh, Bình Sơn, Rồng thời Trần, cung điện Lam Kinh (Thanh
Hóa).
*Giáo viên cần chọn lọc tranh ảnh có tính mĩ thuật cao và nội dung
phù hợp với mục tiêu của bài Lịch Sử.
Các tác phẩm âm nhạc trong chương trình có tác dụng minh họa kiến
thức lịch sử một cách cụ thể bởi nhiều tác phẩm được sáng tác trong
chính thời kì đó. Đặc biệt thông qua ca từ và âm nhạc sẽ có sức lay
động lớn đến tâm tư, tình cảm, nhận thức của người học, giúp học sinh
ÂM
NHẠC hình dung một cách cụ thể, sinh động các giai đoạn lịch sử.
*Ví dụ :
Hội Lim (Bắc Ninh) -> quê hương Quan họ- di sản thế giới + Hội Lim
(13 Tháng giêng AL) phản ánh nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật dân
gian phát triển.
1.Tích hợp kiến thức các môn khoa học tự nhiên cũng giúp HS
hiểu rõ thêm về lịch sử.

- Giáo dục cho học sinh niềm tự hào dân tộc về thành tựu văn hóa, giáo dục của Đại
Việt thời Lê sơ, ý thức giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống.
- Giáo dục ý thức trách nhiệm của học sinh trong học tập và tu dưỡng, ý thức tự học
cho học sinh.
3.Kĩ năng:
-Rèn kĩ năng so sánh đối chiếu về các sự kiện lịch sử . Nhận xét những thành tựu tiêu
biểu về văn hóa, giáo dục thời Lê sơ .
- Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh.
4. Các kiến thức cần liên môn:
a) Văn học:
- Quan Âm Thị Kính – Ngữ văn 7.
GVTH: Lê Nam Hành

10


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
- Bình ngô đại cáo – Ngữ văn 8.
b) Giáo dục công dân:
- Quyền và nghĩa vụ học tập (Bài 15 – GDCD 6).
- Bảo vệ di sản văn hóa (Bài 15 - GDCD 7).
- Giữ gìn và phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ (Bài 10 – GDCD 7).
- Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc (Bài 7 – GDCD 9).
c) Mĩ thuật:
-Mĩ thuật thời Trần (1226 - 1400) – Mĩ thuật 8
II. Phương tiện dạy học:
III. Hoạt động dạy học
1. Ổn định tổ chức :
2. Kiểm tra bài cũ:
- Nhà Lê đã làm gì để phục hồi và phát triển kinh tế.

NỘI DUNG GHI
BÀI
III.Tình hình văn
hoá giáo dục .
1. Tình hình giáo
dục và khoa cử
a) Giáo dục:
-Dựng lại Quốc tử
giám, mở nhiều
trường học.

11


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
học.
?Thời Lê sơ, nhà nước quan tâm Dựng lại Quốc tử giám, mở
đến phát triển giáo dục như thế trường học ở nhiều nơi.
nào?
?Thời Lê sơ, ai là người được -Đa số dân đều có thể đi học,
đi học? Ai được làm thầy giáo? đi thi trừ những kẻ phạm tội
và làm nghề ca hát.
-Tuyển chọn những người
giỏi, có đạo đức để làm thầy
giáo.
Giảng:
Điều 28: Quyền được học tập
…chính sách giáo dục tiểu học
bắt buộc, sẵn có và miễn phí
cho tất cả mọi người,…khuyến

?Vì sao thời Lê sơ hạn chế phật Nội dung thi cử là các sách
giáo đạo giáo, tôn sùng nho
đạo nho, muốn làm quan thì
GVTH: Lê Nam Hành

12


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
giáo.
phải thi cử mới được bổ
GV : Thời Lê rất đề cao Nho
nhiệm.
-Nho giáo chiếm vị
giáo, Nho giáo đề cao trung và
trí độc tôn.
hiếu ( Trung với vua, hiếu với
cha mẹ). Thời Lê ND học tập
các sách đạo nho chủ yếu là “Tứ
thư” và “Ngũ kinh”. Giáo dục
rất quy củ và chặt chẽ.
?Giáo dục thời Lê sơ quy củ
Người nào đỗ kì thi Hương (ở
chặt chẽ biểu được hiện như thế các đạo,lộ) gọi là Hương
b) Thi cử:
nào?
cống, đỗ kì thi Hội (ở kinh
-Giáo dục thi cử
GV: Thi hương là thi ở các lộ đô) được dự kì thi Đình để
chặt chẽ qua 3 kỳ

sản này, chúng ta phải bảo vệ
các di sản như ta đã học bài Bảo
GVTH: Lê Nam Hành

13


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
vệ di sản văn hóa (Bài 15 GDCD 7).
? Chế độ thi cử được tiến hành
như thế nào? Kết quả?
HS đọc “ Khoa cử…người
kém”.

Tổ chức thường xuyên, tổ
chức 26 khoa thi tiến sĩ, lấp
đỗ 989 tiến sĩ, 20 trạng
nguyên. Riêg thời vua Thánh
Tông (1460-1497) tổ chức 12
khoa thi tiến sĩ, lấy đỗ 501
tiến sĩ, 9 trạng nguyên.
? Nhận xét gì về tình hình thi cử Thi cử công bằng- Quy củ
giáo dục thời Lê sơ?
chặt chẽ, tuyển chọn người
tài, đào tạo phát hiện nhân tài
đóng góp cho đất nước.
2. Văn học, khoa
học, nghệ thuật
THẢO LUẬN THEO NHÓM Văn thơ chữ Hán phát triển và a) Văn học :
Nhóm 1:-Văn học phát triển

-Y học: Bản thảo thực vật toát
yếu.
-Toán học: Đại thành toán
pháp, Lập thành toán pháp,…
c) Nghệ thuật:
Nghệ thuật sân khấu như ca, -Nghệ thuật sân
Nhóm 3:-Sự phát triển của nghệ múa, nhạc, chèo, tuồng được khấu : ca, múa,
GVTH: Lê Nam Hành

14


“Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử 7”
thuật sân khấu?
-Kể tên tác phẩm chèo
mà em được học trong chương
trình ngữ văn 7 ?

phục hồi nhanh chóng và phát chèo, tuồng.
triển, nhất là chèo, tuồng.
-Tác phẩm chèo được học
trong chương trình ngữ văn 7
là vở chèo Quan âm thị kính.
Nhóm 4:-Nhận xét về nghệ
Nghệ thuật kiến trúc và điêu -Nghệ thuật điêu
thuật và kiến trúc thời Lê sơ ? khắc thời Lê sơ biểu hiện rõ khắc có phong cách
rệt và đặc sắc. Điêu khắc có đồ sộ, kỹ thuật điêu
phong cách đồ sộ, kĩ thuật
luyện.
-Trong môn mỹ thuật, điêu luyện.

PHẦN III: KẾT LUẬN
Như vậy, dạy học lịch sử cũng như các bộ môn khác ở trường phổ thông, việc
tiến hành bài học trong giờ học chính khóa là một hình thức cơ bản nhất, chiếm vị trí
chủ đạo trong các hoạt động dạy và học. Có nhiều biện pháp vận dụng kiến thức liên
môn trong giờ học chính khóa môn Lịch sử nhưng phải đảm bảo việc sử dụng đúng
sách giáo khoa, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong học tập.
Tùy thuộc vào mục đích, nội dung của từng bài, từng hoạt động, hình thức tổ chức giờ
học mà giáo viên có biện pháp hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức liên môn phù
hợp, không quá lạm dụng.
Trên cơ sở những kiến thức lịch sử đã nắm được kết hợp với những tư liệu kiến
thức liên môn phù hợp, học sinh rút ra sự liện hệ giữa sử học và và các môn học khác,
song chưa phải đã dừng ở đấy, mà cần tiến hành nắm quy luật và rút ra bài học lịch
sử. Bởi vậy mà nhà sử học Phan Ngọc Liên viết “nghiên cứu khoa học cũng như học
tập lịch sử phải đạt đến trình độ nắm quy luật và ý nghĩa thực tiễn của việc học lịch sử
là biết vận dụng những bài học của quá khứ trong cuộc sống hiện tại. Công việc này
cũng là một bộ phận quan trọng của việc phát triển tư duy và năng lực thực hành của
học sinh”, làm được như vậy thì kết quả mới tốt hơn.
Vận dụng kiến thức liên môn là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng cần thiết và
quan trọng. Nó vừa là phương tiện để minh họa cho nội dung bài học, tạo hứng thú
học tập cho học sinh; đồng thời, kiến thức liên môn cũng được sử dụng với mục đích
giao nhiệm vụ học tập, kiểm tra, đánh giá và qua đó, yêu cầu học sinh tìm hiểu và làm
việc bước đầu với tài liệu, thực hiện hoạt động học tập nhằm đạt được mục tiêu kiến
thức, kỹ năng, thái độ của môn học hay của từng bài học. Vì vậy, chúng ta cần có
phương pháp sử dụng đúng đắn đối với kiến thức liên môn liên quan đến các sự kiện
lịch sử.
Trong nghiên cứu, trao đổi, tổng hợp ý tưởng hy vọng rằng nếu được thực hiện
một cách nghiêm túc và khoa học thì việc đổi mới phương pháp dạy học tất yếu sẽ có
nhiều chuyển biến tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
phổ thông hiện nay nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng để không phụ lời dạy đầy
tâm quyết của Bác Hồ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status