SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẠC LIÊU
TRƯỜNG THPT VÕ VĂN KIỆT
1. Họ và tên: Nguyễn Đức Thưởng
Ngày sinh 19/03/1965; Môn: Vật Lí
Điện thoại: 0918440692; Email:
2. Họ và tên: Trần Quang Điện
Ngày sinh: 01/9/1978; Môn: Vật Lí
Điện thoại: 0913631226; Email:
3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Diệp
Ngày sinh 21/12/1979; Môn Vật Lí
Điện thoại: 0197404107; Email:
PHIẾU MÔ TẢ DỰ ÁN DẠY HỌC – MÔN VẬT LÝ
Sở Giáo dục – Đào tạo Bạc Liêu
1. Họ và tên: Nguyễn Đức Thưởng
Ngày sinh 19/03/1965; Môn : Vật Lí
Điện thoại: 0918440692; Email:
2. Họ và tên: Trần Quang Điện
Ngày sinh: 01/9/1978; Môn: Vật Lí
Điện thoại: 0913631226; Email:
3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Diệp
Ngày sinh 21/12/1979; Môn Vật Lí
Điện thoại: 0197404107; Email:
1. Tên dự án dạy học
TIẾT 62,63. BÀI 37: PHÓNG XẠ
2. Mục tiêu dạy học
2.1. Kiến thức:
2.1.1. Môn Vật lý
- Phát biểu được định nghĩa hiện tượng phóng xạ.
+ Lớp 12: Bài 15: Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai
2.2. Kỹ năng
2.2.1. Môn Vật lý
- Biết cách phòng chống phóng xạ bảo vệ môi trường.
- Thực hiện được các biện pháp ngăn chặn phóng xạ.
2.2.2. Môn Sinh học
- Lớp 12: Các chất này rò rỉ ra bên ngoài gây ảnh hưởng đến cấu trúc protêin,
ADN, làm biến dạng cơ chế hoạt động của cơ thể con người. Gây dị tật, ung thư.
Các sinh vật khác cũng phải chịu ảnh hưởng. Ta gọi nó là ô nhiễm chất phóng xạ
2.2.3. Môn Địa lý
- Lớp 12: Biết cách bảo vệ môi trường, biết cách làm giảm thiên tai, lũ lụt, biến
đổi khí hậu.
2.3. Thái độ
- Cẩn thận, trung thực, hợp tác trong các hoạt động.
- Thấy rõ trách nhiệm của bản thân về việc phòng tránh phóng xạ và nghiên cứu
phương pháp phòng tránh nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của
con người và bảo vệ môi trường.
3. Đối tượng dạy học
- Học sinh trường THPT Võ Văn Kiệt – Phước Long – Bạc Liêu
+ Số lượng: 120 học sinh
+ Số lớp: 4 lớp
+ Khối lớp: Khối 12
3
4. Ý nghĩa của dự án
4.1. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn dạy học
- Qua việc dạy học của dự án thì học sinh đã có tư duy, vận dụng được kiến thức
của nhiều môn học khác nhau để giải quyết một vấn đề gặp trong cuộc sống.
- Từ những kiến thức của dự án và cách vận dụng kiến thức của nhiều môn học
4
bảo quản thực phẩm, dược phẩm; ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp và
sinh học...
1. Phục vụ nhu cầu của ngành y tế
Kỹ thuật nguồn kín dùng trong xạ trị được áp dụng từ những năm 1960 tại Bệnh
viện K, Hà Nội, Trung tâm ung bướu Tp. Hồ Chí Minh và một số bệnh viện quân đội.
Năm 1971, 2 khoa Y học hạt nhân tại Bệnh viện Bạch mai, Hà Nội và Bệnh viện Chợ
Rẫy, Tp Hồ Chí Minh được hình thành. Từ thời điểm đó, kỹ thuật nguồn hở hay đồng
vị phóng xạ được sử dụng để chẩn đoán và điều trị bệnh với một số thiết bị đơn giản
như máy quét hiện hình, xạ ký thận hay các máy đo độ tập trung của iốt trong tuyến
giáp. Đáng kể là từ khi Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được đưa vào hoạt động với một
trong các chức năng chủ yếu là nghiên cứu sản xuất đồng vị phóng xạ và dược chất
đánh dấu thì số lượng các Khoa Y học hạt nhân ngày càng tăng nhanh và đến nay trên
20 Khoa Y học hạt nhân được hình thành trên phạm vi toàn quốc, nhiều thiết bị hiện
đại được nâng cấp và trang bị. Nếu năm 1992 cả nước ta chỉ có 01 hệ máy hiện hình
Gamma Camera thì đến cuối năm 1998 số lượng máy Gamma Camera và thậm chí có
cả SPECT đã lên 9 hệ. Trung bình mỗi tháng khoảng 100 bệnh nhân đối với các khoa
có quy mô nhỏ và gần 1.000 bệnh nhân với các Khoa có quy mô lớn được chẩn đoán
và điều trị bệnh.
Các đồng vị phóng xạ và dược chất đánh dấu cung cấp cho các Khoa Y học hạt
nhân được sản xuất tại Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt hoặc nhập ngoại. Các loại đồng
vị chính được sản xuất tại Đà Lạt là tấm áp P-32 để điều trị các bệnh ngoài da; dung
dịch I-131 dưới dạng tiêm hoặc uống để chẩn đoán và điều trị bệnh bướu cổ; Tc-99m
để hiện hình tìm các khối u bất thường trong não và tuyến nước bọt; các dược chất
phóng xạ dưới dạng kit in-vivo đánh dấu với Tc-99m để hiện hình chẩn đoán chức
năng và bệnh lý các cơ quan nội tạng của cơ thể như thận, gan, phổi, hệ tiêu hóa. Hàng
năm, khoảng 150 Ci chất phóng xạ các loại được sản xuất tại Lò phản ứng hạt nhân Đà
neutron dụng cụ (INAA), kích hoạt neutron có xử lý hóa (RNAA), kích hoạt neutron
gamma tức thời (PGNAA), huỳnh quang tia X (XRFA). Các kỹ thuật cực phổ, sắc ký
lỏng cao áp, đo quang phổ vùng khả kiến và tử ngoại, quang kế ngọn lửa, v.v... cũng
được phát triển trong ngành hạt nhân nhằm bổ trợ về phương pháp và đối tượng để mở
rộng khả năng dịch vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện nay, nhiều quy trình phân
tích ổn định cho các đối tượng khác nhau đã được xây dựng, cho phép triển khai các
dịch vụ phân tích cho ngành địa chất để định lượng nguyên tố trong các mẫu thăm dò
và khai thác; cho ngành dầu khí để xác định thành phần các nguyên tố vi lượng trong
các giếng khoan nhằm xác định nguồn gốc của các mỏ dầu; cho ngành nông nghiệp và
sinh học để xác định quá trình trao đổi chất và hấp thụ nguyên tố của các loại cây
trồng; phân tích cho các đối tượng môi trường để đánh giá mức độ nhiễm bẩn môi
trường khí và biển. Ngoài ra, phân tích để phục vụ công tác kiểm định hàng hóa, sản
phẩm cũng là một trong các hướng có ý nghĩa thực tế. Trung bình mỗi năm trên 3.000
mẫu các loại với trên 30.000 chỉ tiêu khác nhau được phân tích nhờ kỹ thuật hạt nhân.
4. Nghiên cứu các quá trình trong tự nhiên
Sử dụng đồng vị phóng xạ môi trường kết hợp với kỹ thuật đánh dấu phóng xạ để
nghiên cứu diễn biến nhiều quá trình như sa bồi, bào mòn, trầm tích, rò rỉ, v.v... Các
lĩnh vực và đối tượng được nghiên cứu và ứng dụng có thể kể đến như xác định quá
trình di chuyển của sa bồi lớp đáy tại các cửa cảng, lòng sông với các thông tin quan
trọng được biết là hướng, tốc độ và độ dày lớp sa bồi di chuyển nhằm giúp cho các nhà
quản lý thực hiện việc duy tu, nạo vét hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao; đánh giá
tốc độ và nguồn gốc bồi lấp của các lòng hồ; xác định vị trí và tốc độ rò rỉ của các hồ
chứa nước và các đập thủy điện; xác định các nguồn nước ngầm và nghiên cứu đánh
giá khả năng nhiễm bẩn các nguồn nước sinh hoạt v.v... Kết hợp với các thông tin về
thủy văn và địa chất, các kết quả nghiên cứu của ngành hạt nhân cung cấp cho các nhà
quản lý ngành nông nghiệp, thủy lợi các số liệu điều tra quan trọng và mang ý nghĩa
thực tế cao.
5. Nghiên cứu và bảo vệ môi trường
6
quả, lương thực và cho năng suất tăng từ 15 - 30% so với đối chứng. Màng chữa bỏng
từ PVP và chitosan vỏ tôm cua được sản xuất và đang thử nghiệm lâm sàng tại một số
bệnh viện cho kết quả tốt. Các chế phẩm phòng chống nấm cũng được nghiên cứu và
sản xuất. Ngoài ra các chế phẩm ống nhựa chịu nhiệt chất lượng cao, kính thủy tinh
màu, v.v... được sản xuất nhờ kỹ thuật hạt nhân được người sử dụng ưa chuộng.
Dùng bức xạ neutron từ Lò phản ứng Đà Lạt để chiếu xạ silic dùng trong công
nghiệp chế tạo linh kiện điện tử, chiếu xạ làm lệch mạng tinh thể để tạo màu đá quý và
bán quý như Topaz, Saphire là những hướng ứng dụng mang hiệu quả kinh tế cao.
Kỹ thuật sơn phủ bề mặt giấy và gỗ bằng bức xạ tia cực tím (UV) được nghiên cứu
và triển khai thành công. Mỗi năm, hàng chục ngàn m2 các loại bao bì giấy được phủ
láng bằng thiết bị UV. Hướng ứng dụng này đang được nhiều khách hàng quan tâm.
7. Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp và sinh học
Nghiên cứu sinh học phóng xạ sử dụng bức xạ gamma kết hợp với những tác nhân
khác để cải tạo giống cây trồng, sử dụng đồng vị đánh dấu để nghiên cứu các quá trình
7
sinh học, đặc biệt là vấn đề dinh dưỡng cây, con được ngành hạt nhân thực hiện từ
nhiều năm qua. Các nghiên cứu chiếu xạ một số giống cây (ngô, khoai, lúa, một số loài
hoa, dâu tằm, v.v...) ở liều kích thích hoặc đột biến để tạo giống có năng suất cao hơn
hoặc thích hợp hơn với điều kiện môi trường khắc nghiệt, nghiên cứu quy trình nhân
giống vô tính in-vitro, nuôi cấy tế bào một số loài hoa, cây đặc sản và cây rừng quý
hiếm, v.v... cũng được tiến hành.
Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nghiên cứu công nghệ nấm là một hướng đang
được Ngành hạt nhân quan tâm. Từ các kết quả nghiên cứu, cho phép tuyển chọn, nuôi
trồng và chuyển giao công nghệ trồng các loại nấm quý như nấm Linh chi, nấm Bào
ngư, v.v... cho nông dân nhằm tận thu nguồn phụ phế liệu xơ - sợi nông nghiệp. Ngoài
ra, sử dụng kỹ thuật hạt nhân để xử lý các chất thải nông nghiệp, tận thu để làm thức
ăn cho động vật cũng được các cán bộ của ngành hạt nhân quan tâm và thực hiện.
8
Nghiên cứu thiết kế, xây dựng các hệ đo trong công nghiệp bằng kỹ thuật hạt nhân
như đo mức chất lỏng trong các bình kín của dây chuyền sản xuất bia, trong các bình
trộn phối liệu của các nhà máy công nghiệp, v.v... cũng đang được phát triển tại các cơ
sở trong ngành hạt nhân. Bên cạnh đó kỹ thuật kiểm tra không phá hủy mẫu cũng là
một trong các hướng đặc thù của ngành hạt nhân mà trong nhiều trường hợp không có
phương pháp khác thay thế, chẳng hạn sử dụng phương pháp bức xạ truyền qua để
chụp kiểm tra chất lượng mối hàn các đường ống kim loại trong các nhà máy, kiểm tra
đánh giá tình trạng bên trong của các tháp chưng cất và tháp hấp thụ với đường kính
đến 4 m và chiều cao đến 30 m trong công nghiệp hóa chất, kiểm tra chất lượng các
cọc nhồi của các công trình xây dựng; sử dụng phương pháp bức xạ tán xạ ngược để
xác định chất lượng của các công trình đường giao thông, đo mật độ của vật liệu, v.v...
10. Phát triển năng lượng hạt nhân phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước
Chính sách phát triển năng lượng bền vững được Đảng và Nhà nước ta quan tâm mà
nội dung cơ bản là đa dạng hóa các nguồn năng lượng có tính đến việc bảo tồn phát
triển tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nhận thức rõ vai trò của điện hạt nhân trong
chính sách phát triển năng lượng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước, ngành hạt nhân được giao nhiệm vụ tham gia "Nghiên cứu xây dựng nhà máy
điện nguyên tử trong quy hoạch dài hạn". Cùng với các kết quả đã thu được từ các đề
tài nghiên cứu giai đoạn 1981-1985, 1991-1995 và các dự án của Cơ quan năng lượng
nguyên tử quốc tế, đề án phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam được nghiên cứu xây
dựng nhằm làm rõ các nội dung: sự cần thiết phải có điện hạt nhân ở Việt Nam; khả
năng phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam; vai trò của điện hạt nhân trong chính sách
phát triển năng lượng bền vững, trong tăng cường tiềm lực quốc gia và góp phần cải
thiện đời sống nhân dân.
Từ việc phân tích một cách khách quan xu thế hiện nay của thế giới và khu vực đối
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước./.
Nguồn: Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt
- Các hạt phóng xạ trong bụi, mưa phóng xạ có thể được hít vào phổi, bám vào da
hoặc đi vào đường tiêu hóa qua thức ăn và nước uống nhiễm độc. Mức độ nhiễm
rất khác nhau, thậm chí chỉ trong khoảng cách rất nhỏ, TS. Fred Mettler, chuyên gia
X quang tại ĐH New Mexico và là trưởng nhóm nghiên cứu quốc tế về tác hại sức
khỏe sau sự cố Chernobyl, cho biết.
“Khi đi quanh một góc tường, bạn có thể tiếp xúc với lượng phóng xạ rất cao,
nhưng khi đứng sau một cái cột thôi thì
lượng phóng xạ thấp hơn rất nhiều”. Sự
tiếp xúc còn phụ thuộc vào loại hạt
trong bụi phóng xạ, vị trí đứng với mái
che có tích tụ phóng xạ hay có tác dụng
bảo vệ cơ thể khỏi bụi phóng xạ từ bên
ngoài.
- Tác hại của phóng xạ như thế nào?
- Trong ngắn hạn, phóng xạ phá hoại
các tế bào đang phân chia nhanh, gồm
tóc, lớp trong của dạ dày và tủy. Nó có
thể gây buồn nôn, nôn, mệt mỏi, mất
các tế bào bạch cầu và khiến máu vón
cục.
Một loại phóng xạ là Iot phóng xạ được
tuyến giáp hấp thụ, gây ung thư tuyến
giáp nếu không được uống thuốc ngay
để chặn lại quá trình hấp thu này. Về lâu dài, phóng xạ phá hoại các ADN và có
nguy cơ dẫn đến nhiều loại ung thư.
- Chất phóng xạ plutonium nếu đi vào máu người sẽ ảnh hưởng đến xương và gan, dẫn đến ung thư.
- Lượng phóng xạ bao nhiêu thì nguy hiểm?
phản ứng tràn ra. Nhiên liệu này chứa xezi, chất phóng xạ độc hơn và tồn tại lâu
hơn loại iot phóng xạ đang thoát ra từ các lò phản ứng ở Nhật. Đến nay đã có một
số báo cáo cho thấy lượng xezi nhất định đã bị rò rỉ ở Nhật Bản, khiến nhiều người
lo lắng các lõi hạt nhân ở nước này có thể tan chảy.
Phóng xạ hạt nhân có thể gây bệnh gì?
Nhiễm xạ hạt nhân có thể bị bệnh ung thư nhiều bộ phận trong cơ thể hoặc bị thay
đổi cấu trúc DNA. Tuy nhiên, phải nhiễm ở liều lượng nhất định mới gây ra bệnh.
Người bệnh do nhiễm xạ không lây lan cho người khác.
Mức độ nhiễm xạ ở Nhật Bản không ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Người dân VN đang lo lắng chất phóng xạ từ Nhà máy điện hạt nhân Fukushima
đang bị phát tán ra ngoài môi trường có ảnh hưởng đến sức khỏe người thân của họ
11
hiện đang ở Nhật? Để giải đáp những thắc mắc này, chúng tôi đã gặp GS-BS
Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM (ảnh).
Ung thư và đột biến DNA
PV: Thưa GS, chất phóng xạ hiện đang bị rò rỉ ra ngoài môi trường tại Nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật sẽ
gây nên những bệnh gì khi con người bị nhiễm phải?
GS-BS Nguyễn Chấn Hùng: Trong thành phần chất phóng xạ ở các lò phản ứng
hạt nhân tại Fukushima, Nhật nếu bị phát tán ra môi trường có rất nhiều chất gây
hại cho con người nhưng hai chất gây nguy hiểm nhất là iốt 131 và cesium 137. Iốt
131 với nồng độ cao khi đi vào cơ thể sẽ tích tụ trong tuyến giáp trạng (là một
tuyến nội tiết quan trọng trong cơ thể, nằm phía trước cổ) lâu ngày sẽ gây ung thư
tuyến giáp trạng. Iốt 131 có thời gian bán hủy ngắn (trong vòng một tuần) nên
khoảng 20 ngày có thể tan hết trong không gian.
Chất cesium 137 phát ra các tia gamma có thời gian bán hủy dài (nhiều chục năm
vẫn còn trong môi trường) và tác dụng đến nhiều cơ quan chức năng trong cơ thể.
bảo vệ sức khỏe của mình?
+ Nếu thực sự vùng đó bị nhiễm xạ thì phải có kết luận số đo chính xác của máy đo
phóng xạ. Người dân ở khu vực đó không nên tự ý di chuyển mà nên theo sự hướng
dẫn của cơ quan chức năng và nếu có những biểu hiện bị nhiễm phóng xạ phải đưa
vào các cơ sở y tế để được chăm sóc kịp thời.
. Hiện nay, một số nước lân cận Nhật vì lo ngại bị nhiễm phóng xạ nên người dân
đã mua iốt về uống, điều này có nguy hiểm đến sức khỏe khi trong môi trường họ
đang sống không hề có chất phóng xạ?
+ Iốt được cung cấp đầy đủ vào trong cơ thể để tuyến giáp không hấp thụ lượng iốt
131 có trong chất phóng xạ và như thế để phòng ngừa ung thư tuyến giáp. Nếu như
môi trường không nhiễm xạ mà tự ý uống iốt sẽ không có lợi gì. Một khi uống quá
liều về lâu dài sẽ bị bệnh cường giáp rất nguy hiểm.
Theo Ủy ban An toàn bức xạ Quốc tế, liều lượng giới hạn cho phép được tiếp
nhiễm các loại bức xạ trong một năm là 1 mSv; điều đó có nghĩa là trong vòng một
năm, mỗi người dân bình thường không nên nhận một liều lượng bức xạ nhân tạo
quá 1 mSv (mSv là viết tắt của microsievert, đơn vị tính mức tác động của tia bức
xạ lên con người).
Tác động của ô nhiễm phóng xạ với cơ thể
- Hô hấp: Nhiễm phóng xạ có thể gây ra ung thư vòm họng, phổi.
- Máu và cơ quan tạo máu: Mô limpho và tủy xương ngừng hoạt động, làm cho
số lượng tế bào trong máu ngoại vi giảm xuống nhanh chóng.
- Hệ tiêu hóa: Niêm mạc ruột bị tổn thương, dẫn đến tiêu chảy, sút cân, nhiễm độc
máu, giảm sức đề kháng của cơ thể, ung thư.
- Da: Xuất hiện ban đỏ, viêm da, sạm da. Các tổn thương này có thể dẫn đến viêm
loét, thoái hóa, hoại tử hoặc phát triển thành khối u ác tính trên da.
- Cơ quan sinh dục: Vô sinh.
- Sự phát triển phôi thai: Phụ nữ bị chiếu xạ trong thời gian mang thai (đặc biệt là
trong giai đoạn đầu) có thể bị sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh ra trẻ bị dị tật bẩm
sinh.
(Theo Ủy ban An toàn bức xạ Quốc tế)
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
14
- Đặt vấn đề: Có thể sử dụng phần chữ nhỏ
của Bài 37 để vào bài.
- Đề nghị một HS đọc mục I.1 SGK.
- - Hãy viết phương trình phản ứng hạt nhân cho
trường hợp phóng xạ.
- - Gọi hạt nhân mẹ là X, hạt nhân con là Y, thì
trong phóng xạ α phương trình phản ứng được
viết như thế nào? Nhận xét về vị trí và số khối
của hạt nhân con so với hạt nhân mẹ?
- - Thông báo: Tia α được tạo thành bởi các hạt
nhân 24 He chuyển động với tốc độ cỡ 20 000
km/s (2.107 m/s), đi được vài xentimét trong
không khí.
- - Tia β- là dòng các êlectron −10e .
- Trong phóng xạ β- phương trình phản ứng
được viết như thế nào? Nhận xét về vị trí và
số khối của hạt nhân con so với hạt nhân mẹ?
- - Tia β+ là dòng các pôziton 10e .
- Trong phóng xạ β+ phương trình phản ứng
được viết như thế nào? Nhận xét về vị trí và
số khối của hạt nhân con so với hạt nhân mẹ?
- - Thông báo:
- + Trong phóng xạ β- và phóng xạ β+ các hạt −10e
−
β
X
→ Z +A1Y
Hạt nhân con ở sau hạt nhân mẹ 1 ô
trong bảng hệ thống tuần hoàn, số
khối bằng hạt nhân mẹ.
- Thảo luận và đưa ra câu trả lời:
A
Z
+
β
X
→ Z +A1Y
Hạt nhân con ở trước hạt nhân mẹ 1
ô trong bảng hệ thống tuần hoàn, số
khối bằng hạt nhân mẹ.
- Thảo luận và đưa ra câu trả lời:
X→
A
Z
A
Z
b) Phóng xạ β-: ZA X → Z +A1Y + −10e + 00v
c) Phóng xạ β+: ZA X → Z −A1Y + 10e + 00 v
d) Phát xạ γ (SGK)
Hoạt động 3: Tìm hiểu định luật phóng xạ.
Hoạt động của giáo viên
- Đề nghị HS đọc mục II.1 và nêu các đặc tính
của quá trình phòng xạ
Lưu ý: Với một hạt nhân phóng xạ cho trước,
thời điểm phân hủy của nó là không xác định. Ta
chỉ có thể nói đến xác xuất phân hủy của hạt
nhân đó, Dẫn đến, cần phải khảo sát sự biến đổi
thống kê của một số lớn hạt nhân phóng xạ.
- Quy luật của sự phóng xạ là định luật phân rã
phóng xạ.
- Đề nghị HS đọc mục II.2 SGK. GV có thể
hướng dẫn các biến đổi toán học trên bảng để
đưa ra công thức: N = N 0e− λt
- Hãy nêu nhận xét về sự biến đổi của số hạt nhân
của mẫu phóng xạ theo thời gian.
- Sử dụng hình vẽ Hình 37.1 SGK, giới thiệu đồ
thị biểu diễn sự biến đổi số hạt nhân của mẫu
phóng xạ theo thời gian.
- Đề nghị HS trả lời câu C1.
- Đề nghị HS xem Bảng 38.1 SGK và rút ra nhận
xét.
Hoạt động của học sinh
- HS đọc SGK và trả lời: Các đặc
tính của quá trình phóng xạ là:
N = N 0 e − λt
N0 là số hạt nhân của mẫu phóng xạ tồn tại vào lúc t = 0.
N là số hạt nhân của mẫu phóng xạ tồn tại vào lúc t > 0.
3. Chu kì bán rã: T =
ln 2 0, 692
=
λ
λ
Hoạt động 4: Củng cố và vận dụng.
- Yêu cầu HS đọc phần ghi nhớ.
- Bài tập về nhà: 2, 3, 4, 5 (SGK).
16
Tiết 2. ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ NHÂN TẠO
I- MỤC TIÊU
- Nêu được hiện tượng phóng xạ nhân tạo.
- Nêu được nguyên tắc của phương pháp nguyên tử đánh dấu.
- Hiểu được phương pháp tính tuổi của các cổ vật theo tỉ lệ đồng vị 146C .
II- CHUẨN BỊ
- Giáo viên: Chuẩn bị phiếu học tập.
III- TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ.
- Câu hỏi: Nêu định nghĩa hiện tượng phóng xạ. Kể tên các dạng phóng xạ? Phát
biểu định luật phóng xạ?
- Mời một HS lên bảng trả lời câu hỏi.
+ Tạo ra các hạt nhân phóng xạ của
người ta đã tạo ra được các hạt nhân phóng
nguyên tố X (không phải chất phóng xạ)
xạ của các nguyên tố X bình thường (không
bằng phương pháp phóng xạ nhân tạo.
phải chất phóng xạ) theo sơ đồ:
X là nguyên tử đánh dấu.
A
Z
X + 01n →
A +1
Z
X
+ Trộn lẫn X với các hạt nhân bình
thường ta có thể khảo sát tự tồn tại,
phân bố, sự chuyển vận của nguyên tố
X.
- Hãy nêu nguyên tắc của phương pháp
nguyên tử đánh dấu.
- Nêu một vài ứng dụng cụ thể của phương
pháp nguyên tử đánh dấu.
Bài 37. PHÓNG XẠ (Tiết 2)
III- ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ NHÂN TẠO
17
Hoạt động 4: Củng cố và vận dụng.
- Luyện tập tại lớp theo phiếu học tập. Các bàn thảo luận theo nội dung phiếu
học tập, chọn đáp án ghi vào phiếu trả lời (khác phiếu học tập) và nộp lại
phương án trả lời cho GV. Mời đại diện của một vài nhóm trình bày lên bảng.
Sau đó GV chữa bài.
- Bài tập về nhà: Cho thêm bài trong sách Bài tập Vật Lí 12.
7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Sử dụng phiếu trả lời trắc nghiệm khách quan (thời gian 5 phút)
Câu 1. Phát biểu nào sao đây là đúng?
A. Phóng xạ là hiện tượng hạt nhân nguyên tử phát ra sóng điện từ.
B. Phóng xạ là hiện tượng hạt nhân nguyên tử phát ra các tia α, β, γ.
C. Phóng xạ là hiện tượng hạt nhân nguyên tử phát ra các tia không nhìn
thấy và biến đổi thành hạt nhân khác.
D. Phóng xạ là hiện tượng hạt nhân nguyên tử nặng bị phá vỡ thành các hạt
nhân nhẹ khi hấp thụ nơtron.
Câu 2. Một lượng chất phóng xạ m0. sau 5 chu kì bán rã khối lượng chất phóng
xạ còn lại là
18
A. m0/5
B. m0/25
C. m0/32
Câu 3. Phát biểu nào sao đây là không đúng?
A. Hạt β+ và hạt β- có khối lượng bằng nhau
B. m0/50
Câu 4: A
Câu 5: B
8. Các sản phẩm của học sinh
- Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, phòng tránh được phóng
xạ.
- Tích cực thực hiện các biện pháp ngăn chặn phóng xạ trong môi trường.
19